MỞ ĐẦU
1. Tính cần thiết của đề tài
Đất đai có tầm quan trọng to lớn đối với người dân cả về phương diện nơi ở lẫn
tư liệu sản xuất. Ở nước ta, Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2013 quy định đất đai
thuộc sở hữu toàn dân và ủy quyền cho Nhà nước quản lý, Nhà nước giao cho người
dân sử dụng. Từ khi chính thức giao đất cho người dân, Nhà nước ta đã tuyên bố bảo
hộ quyền sử dụng chính đáng về đất đai.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay để đáp ứng ngày càng lớn yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước; hội nhập vào nền
kinh tế quốc tế nhu cầu sử dụng đất đai càng nhiều hơn. Nhiều dự án lớn đã, đang và sẽ
đầu tư xây dựng chiếm đất ở và đất sản xuất của dân cư, bên cạnh đó là công tác quy
hoạch, phát triển các đô thị lớn tác động khá lớn đến việc sử dụng đất ở của dân cư.
Đô thị ngày càng khẳng định vai trò động lực then chốt trong nền kinh tế với
khoảng 55% dân số sống tại các đô thị vào năm 2020.
Cùng với xu hướng đó của cả nước, thành phố Hồ Chí Minh đã chủ trương xây
dựng đồng bộ các khu đô thị mới nằm trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả
nước; trong đó việc tiến hành thu hồi đất là điều không tránh khỏi, thành phố Hồ Chí
Minh chú trọng đầu tư hoàn chỉnh 4 đô thị vệ tinh tại 4 hướng: Khu đô thị Đông (hay
TP Đông) gồm quận 2, 9 và Thủ Đức với diện tích 211 km2 với trung tâm là khu đô thị
mới Thủ Thiêm. Ở đây sẽ phát triển các ngành dịch vụ cao cấp và công nghiệp kỹ thuật
cao. Khu đô thị Nam (hay TP Nam) gồm quận 7, huyện Nhà Bè và một phần diện tích
quận 8 (phần phía nam kênh Tẻ) và huyện Bình Chánh với diện tích 194 km2. Ở đây sẽ
phát triển dịch vụ cảng, gắn liền với các dịch vụ thương mại khác. Khu đô thị Bắc (hay
TP Bắc) gồm quận 12 và phần lớn huyện Hóc Môn với diện tích 149 km2 sẽ phát triển
dịch vụ, du lịch sinh thái, nông nghiệp kỹ thuật cao. Khu đô thị Tây (hay TP Tây) gồm
quận Bình Tân, một phần diện tích quận 8 và huyện Bình Chánh với diện tích 191 km2.
Đây là khu đô thị đầu mối giao lưu kinh tế với đồng bằng Sông Cửu Long (Tá Lâm –
Vietnamnet.vn).
1
bị hu hồi là 1.722 ha, trong đó phần lớn là đất nông nghiệp và đất ở vùng ven đô (Nghị
quyết 09/2018/NQ-HĐND ngày 12/7/2018), hàng chục nghìn hộ dân được di dời đến
các khu tái định cư (TĐC) mới. Trên nhiều mặt, đời sống của dân cư trong các khu
vực này được cải thiện rõ rệt. Cơ sở hạ tầng (điện, đường, hệ thống cấp thoát nước, vệ
sinh môi trường...) được nâng cấp đạt tiêu chuẩn đô thị bậc cao. Nhưng một bộ phận
dân cư vẫn còn băn khoăn về khả năng tìm việc làm, tạo thu nhập đảm bảo mức sống
của dân cư thời “hậu tái định cư”, đặc biệt là đối với nhóm cư dân nghèo. Vì vậy, ở
một số nơi, người dân chưa thích nghi được với môi trường sống mới hoặc chưa tìm
được việc làm ổn định, sinh tâm lý thiếu an tâm. Mức sống ở một bộ phận dân cư
chưa ổn định nhất là số người làm các nghề tự do đang cần tiếp tục hỗ trợ để tìm
hướng giải quyết. Trong những năm tới, thành phố Hồ Chí Minh còn tiếp tục chỉnh trang
đô thì và sẽ phải di dời, giải toả hàng nghìn hộ gia đình. Do vậy tìm hiểu, phân tích, đánh
giá chính sách đền bù, hỗ trợ tái định cư và những vấn đề sau TĐC là việc rất cần làm. Đây
là yêu cầu cấp thiết giúp lãnh đạo thành phố hoạch định và thực hiện những chính sách phù
hợp nhằm phát triển sản xuất, ổn định đời sống, tạo tâm lý an tâm cho cộng đồng dân cư
đã, đang và sẽ phải di dời, giải toả ở thành phố Hồ Chí Minh. Chính vì vậy, học viên đề
xuất đề tài “Nghiên cứu giải pháp chính sách cho người dân bị thu hồi đất trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh” là luận văn thạc sĩ xã hội học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trên thế giới, mô hình quy hoạch phát triển đô thị được hình thành như một kênh
hữu hiệu cho việc thu hút vốn đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Một số
3
nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá tác động của quy hoạch phát triển đô thị đến sự
phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là tác động đến đối tượng thu nhập thấp như nghiên cứu
của Tom Berge chia sẻ: “Giống như nhiều thành phố trên thế giới, chúng tôi cũng gặp phải
khó khăn chung trong quy hoạch đô thị như phải giải quyết các câu chuyện về mật độ số
đông đảm bảo giá nhà hợp lý, không gian xanh.... Trong khi đó, Remigio Ramirez cho biết
tái định cư do kết quả của sự phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam” (từ trang 180-195),
tác giả Trương Thị Ngọc Lan bàn đến thực trạng công tác TĐC hiện nay ở nước ta và
tập trung trình bày những nội dung chính của các văn bản pháp lý liên quan đến đền bù
và TĐC. Nguyễn Thiện Trưởng (2004) “Dân số và phát triển bền vững ở Việt Nam”,
Đặng Nguyên Anh (2002) nghiên cứu về “Phân bố dân số ở Việt Nam: đặc trưng, xu
thế và định hướng chính sách”, “Di dân và đô thị hoá”, “Một số vấn đề xã hội học hàng
đầu của việc cải tạo - chỉnh trang đô thị (CTĐT): giảm tổn thương cho nhóm dân cư
nghèo nhất” của Nguyễn Quang Vinh (2001). Đây là một nghiên cứu Xã hội học về sự
ảnh hưởng của các dự án cải tạo - CTĐT đến việc làm và mức sống của nhóm dân cư
nghèo ở TP. Hồ Chí Minh. Cách tiếp cận của tác giả đã gợi mở ra những hướng nghiên
cứu rất bổ ích về đề tài biến đổi mức sống của nhóm dân cư bị ảnh hưởng bởi quá trình
đô thị hoá. Nghiên cứu này đã xác định tình trạng thu nhập của hộ gia đình sau khi mất
đất, tình trạng việc làm của người dân, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sinh kế
của người dân bị mất đất. Những nhân tố được lựa chọn để phân tích có điểm tương
đồng khá lớn giữa các nghiên cứu này như: trình độ học vấn, số lượng lao động, giới
tính chủ hộ, tham gia vào các tổ chức xã hội của các thành viên trong hộ gia đình, khả
năng tiếp cận nguồn tín dụng...
Các nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá, quy hoạch giải toả đến sinh
kế người dân không chỉ dừng lại ở việc đánh giá ảnh hưởng của người dân bị mất đất, mà
còn xác định sự chuyển dịch cơ cấu thu nhập, việc làm của người dân bị mất đất – đối
tượng ảnh hưởng trực tiếp của quá trình đô thị hoá. Thực tế cho thấy, quy hoạch phát
triển đô thị mới tác động đến mọi mặt đời sống tinh thần, đời sống vật chất của người
dân bị mất đất được bố trí tái định cư và những người dân sống xung quanh khu vực tái
định cư – những người không trực tiếp mất đất do bị thu hồi.
Theo tác giả Nguyễn Trọng Hòa, quy hoạch và quản lý đô thị ở nước ta vẫn còn
bị ảnh hưởng của cơ chế bao cấp, thiết kế tĩnh, thiếu linh hoạt theo hướng sự thay đổi
của thị trường. Rất nhiều vấn đề nảy sinh với đối tượng người tái định cư thuộc diện
giải tỏa. Từ những vấn đề phát sinh trong việc triển khai thực hiện các chính sách, hệ
5
- Hộ dân sống xung quanh chung cư Tân Mỹ bị ảnh hưởng do công tác bố trí tái
định cư.
6
- Cán bộ quản lý nhà nước thuộc Phòng Quản lý đô thị quận 7, Ủy ban nhân dân
phường Tân Phú.
Thông qua việc tìm hiểu thực trạng cuộc sống các hộ gia đình thuộc diện giải toả
tại phường Tân Phú, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, có thể đánh giá được hiệu quả
của chính sách thu hồi đất.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: nghiên cứu thực hiện trên địa bàn phường Tân Phú,
Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu được tiến hành từ 04/2017 đến
27/02/2019, trong đó khoảng thời gian tiến hành thu thập thông tin tại thực địa từ
15/10/2018 đến ngày 15/01/2019 và báo cáo số liệu 2010-2015, báo cáo số liệu 20152018 sẵn có của phường Tân Phú, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh, Cục Thống kê,
Tổng cục Thống kê, và báo cáo, số liệu sẵn có của một số phường, quận có đặc điểm
tương quan để tham khảo, bổ sung làm rõ vấn đề nghiên cứu.
- Phạm vi nội dung: Trong dài hạn khi thực hiện quy hoạch phát triển đô thị có
thu hồi đất ở và thực hiện chính sách đền bù giải toả, hỗ trợ bố trí tái định cư phải đảm
bảo tính bền vững, vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu này tác giả có sử dụng khung phân
tích sinh kế bền vững để đánh giá ảnh hưởng của chính sách thu hồi đất đến các mặt đời
sống người dân phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Câu hỏi nghiên cứu:
Đời sống người tái định cư thuộc diện giải tỏa đang sinh sống trên địa bàn
Phường Tân Phú, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay như thế nào?
Chính sách thu hồi đất, đền bù giải toả, bố trí tái định cư có tác động như thế nào
đến đời sống của người dân tái định cư và mức độ hài lòng của họ?
cái giá phải trả về mặt xã hội của cư dân sẽ là cao hay thấp. Đây cũng chính là vấn đề
xã hội mà các nhà xã hội học đô thị ở nước ta rất quan tâm. Kế thừa những nghiên cứu
trên, trong luận văn này, tác giả tập trung khảo sát, phân tích, đánh giá hiệu quả giải
pháp chính sách cho người dân sau tái định cư nhằm rút ngắn khoảng cách, tiến tới hóa
giải các mẫu thuẫn và vượt qua các khó khăn nảy sinh trong quá trình đô thị hóa.
5.4. Khung phân tích:
Khung phân tích sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét những
8
yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế của con người, đặc biệt là những yếu tố
gây khó khăn hoặc tạo cơ hội trong sinh kế. Đồng thời, khung sinh kế cũng nhằm mục
đích tìm hiểu xem những yếu tố này liên quan với nhau như thế nào trong những bối
cảnh cụ thể. DFID đã đưa ra khung sinh kế bền vững với các thành phần như sau:
Khung phân tích sinh kế bền vững
H: Nguồn nhân lực
Chính
sách,
thủ tục
từ các
cơ
quan
S: Nguồn
lực xã hội
N: Nguồn
Các nguồn lực
sự tác động này có ảnh hưởng đến sinh kế của các hộ dân. Cụ thể các thành tố trong
khung phân tích sinh kế bền vững như sau:
* Khả năng dễ bị tổn thương:
“Khả năng dễ bị tổn thương là môi trường bên ngoài mà trong môi trường đó
9
sinh kế con người và các tài sản sẵn có của họ bị ảnh hưởng cơ bản, vừa tích cực vừa
tiêu cực, bởi những xu hướng, sự thay đổi đột ngột hoặc tính mùa vụ - mà họ hạn chế
được hoặc không thể nào kiểm soát được”
Các yếu tố trong hoàn cảnh dễ bị tổn thương:
+ Xu hướng: “Xu hướng dân số, xu hướng tài nguyên kể cả xung đột trong việc
sử dụng, xu hướng kinh tế trong nước và thế giới, những xu hướng cai trị (bao gồm
chính sách, những xu hướng kỹ thuật)”
+ Các cú sốc: “Thay đổi về sức khỏe con người, thay đổi tự nhiên, thay đổi kinh
tế, xung đột, thay đổi về sức khỏe vật nuôi, cây trồng”
+ Tính thời vụ: “biến động giá cả, sản xuất, sức khỏe, những cơ hội việc làm”
“Những nhân tố cấu thành hoàn cảnh dễ bị tổn thương quan trọng vì chúng có
tác động trực tiếp lên tình trạng các nguồn lực và những lựa chọn của con người mà với
chúng sẽ mở ra cơ hội để họ theo đuổi những kết quả sinh kế có lợi”
* Nguồn lực sinh kế
Bao gồm: Nguồn nhân lực (H), nguồn lực xã hội (S), nguồn lực tự nhiên (N),
nguồn lực vật chất (P) và nguồn lực tài chính (F). Ngoài ra, gần đây quốc tế còn bổ
sung nguồn lực tâm linh (phong thủy, cầu cúng, lễ bái,…), tuy nhiên trong nghiên cứu
này tác giả không đề cập đến nguồn lực này.
Nguồn nhân lực: “Đây là nhân tố quan trọng nhất, Nguồn nhân lực thể hiện kỹ
năng, kiến thức, năng lực để lao động và cùng với sức khỏe tốt giúp con người theo đuổi
những chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế của mình. Ở mức hộ gia
đình thì nguồn lực con người là yếu tố về số lượng và chất lượng lao động sẵn có; yếu tố
này thay đổi tùy theo số lượng người trong hộ, kỹ năng lao động, khả năng lãnh đạo, tình
“Chiến lược sinh kế là các kế hoạch làm việc lâu dài của người dân để kiếm
sống. Nó thể hiện mức độ đa dạng cũng như kết hợp nhiều hoạt động và lựa chọn mà
con người tiến hành nhằm đạt được mục tiêu sinh kế của mình”.
* Kết quả sinh kế
“Kết quả sinh kế là những thay đổi có lợi cho sinh kế của cộng đồng do các
chiến lược sinh kế mang lại, cụ thể là thu nhập cao hơn, nhận được phúc lợi nhiều hơn,
giảm rủi ro, đảm bảo cao hơn mức an toàn thực phẩm và sử dụng một cách bền vững
hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên”.
5.5 Phương pháp thu thập dữ liệu
5.5.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
11
Tác giả đã thiết kế bảng câu hỏi hộ gia đình để thu thập dữ liệu định lượng phục
vụ cho nghiên cứu. Nội dung của bảng câu hỏi bao gồm: đặc điểm hộ gia đình, nguồn
lực, tài sản sinh kế của hộ gia đình, thu nhập của hộ gia đình. Chi tiết bảng hỏi: Phụ lục 1
Xác định cỡ mẫu, trong quá trình nghiên cứu các vấn đề kinh tế - xã hội (KTXH), việc chọn mẫu đại diện và đủ lớn là rất quan trọng. Những nhân tố cần được xem
xét để xác định được cỡ mẫu chính xác cho một cuộc nghiên cứu như: Độ chính xác,
chất lượng của số liệu, chi phí và thời gian cho việc thu thập số liệu. Tác giả đã khảo
sát 114 hộ là những gia đình đều khó khăn, thuộc diện hộ nghèo bị thu hồi đất và được
bố trí tái định cư hiện còn đang sinh sống thực tế tại chung cư Tân Mỹ, Phường Tân
Phú, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Để có thể nghiên cứu tác động của chính sách đền bù hỗ trợ bố trí tái định cư đối
với người dân, tác giả thực hiện việc phân tích mức độ tác động của các nhân tố tới sinh
kế, môi trường sống người dân, so sánh điều kiện hộ gia đình trước và sau khi có hoạt
động thu hồi đất và đền bù giải toả bố trí tái định cư. Tác giả sử dụng phương pháp
phỏng vấn trực tiếp để thu thập thông tin về các hộ gia đình và kết hợp với phương pháp
thu thập dữ liệu liên quan đến thu nhập, việc làm, giáo dục, y tế, nhà ở của các hộ gia
đình trên địa bàn phường, dữ liệu về các chính sách phục vụ cho nghiên cứu này.
luận nhóm về chính sách thu hồi đất, đền bù bố trí tái định cư có ảnh hưởng như thế
nào tới thu nhập, việc làm, các dịch vụ mà hộ gia đình được hưởng, chiến lược sinh kế
mới của hộ gia đình. Những kiến nghị được người trong cuộc đề xuất sẽ góp phần
nhằm tăng cường hơn nữa sinh kế và khả năng thích ứng của các hộ dân. Các ý kiến,
chia sẻ thảo luận của nhóm được ghi chép đầy đủ và được lưu vào file dữ liệu theo từng
chủ đề và đặc điểm cá nhân của người tham gia thảo luận.
Kết quả thảo luận nhóm sẽ giúp tác giả trong việc phân tích và có góc nhìn đa
chiều hơn, bổ trợ hữu hiệu cho kết quả phân tích định lượng về tác động của chính sách
thu hồi đất đền bù bố trí tái định cư đến sinh kế và đời sống người dân sau tái đinh cư.
5.5.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
Số liệu thống kê về tình hình triển khai, tổ chức thực hiện chính sách thu hồi đất,
đền bù bố trí tái định cư… được tác giả thu thập từ Uỷ ban nhân dân phường Tân Phú,
Phòng Quản lý đô thị quận 7, Uỷ ban nhân dân quận 7.
5.6. Phương pháp phân tích số liệu:
Các số liệu sau khi thu thập bằng bảng hỏi được tác giả xử lý, làm sạch, nhập dữ
liệu và mã hóa dữ liệu vào file exel, sau đó tác giả sử dụng các mô hình và phép tính
toán định lượng để xử lý số liệu. Nghiên cứu được thực hiện dưới sự trợ giúp của phần
13
mềm SPSS 20.0; đồng thời sử dụng các thống kê mô tả và thống kê suy luận cùng với
phân tích đồ họa đơn giản nhằm tạo nền tảng cho phân tích số liệu định lượng. Có
nhiều kỹ thuật được sử dụng trong thống kê mô tả như:
Biểu diễn dữ liệu bằng đồ họa trong đó các đồ thị mô tả dữ liệu hoặc giúp so
sánh dữ liệu.
1.1. Các khái niệm cơ bản:
1.1.1 Chính sách:
Các chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau, từ
các tổ chức quốc tế đến từng quốc gia, từ nhà nước đến các đơn vị, tổ chức chính trị xã
hội, doanh nghiệp,..nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức đó và chúng
chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó.
Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính
sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực
hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội
dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ
chính trị, kinh tế, văn hóa…”
Theo James Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo
đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm”.
Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh
đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền
của mình.
1.1.2 Thu hồi đất:
Theo Khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai 2013, Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà
nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử
dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai.
1.1.3 Giải toả:
Cũng như khái niệm đền bù, TĐC, khái niệm giải toả được sử dụng phổ biến
trong các Nghị định, Quyết định, Thông tư của Chính phủ, của các bộ ngành và địa
phương nhằm quy định trách nhiệm của Nhà nước, của các chủ dự án cũng như
quyền lợi và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong diện bị ảnh hưởng bởi các dự án
an ninh, quốc phòng, kinh tế - xã hội...
Theo nghĩa gốc, giải toả là sự từ bỏ, làm cho nó thoát khỏi [43, tr.726].
15
16
sống và đảm bảo tăng nguồn thu nhập của họ.
- Theo nghĩa hẹp, TĐC được dùng chỉ sự di chuyển của các hộ gia đình tới định
cư ở nơi ở mới.
Peter R.Burbridge cũng cho rằng “Tái định cư là chỉ việc lập cư của các cá
nhân, các nhóm hộ gia đình hoặc toàn bộ một làng, một xã” [3, tr.13].
Đây là cách hiểu thông thường trong đời sống xã hội, song khái niệm TĐC theo
quan niệm này chỉ có hàm nghĩa chỉ nơi cư trú mới mà người dân di dời đến, tức là chỉ
nói tới hình thức lập cư mà chưa chú trọng đến quá trình lập cư đó.
Trong khuôn khổ luận văn, tác giả vừa sử dụng khái niệm TĐC theo nghĩa hẹp
để xác định không gian nghiên cứu, vừa đồng thời và chủ yếu sử dụng khái niệm TĐC
theo nghĩa rộng tức là quan tâm đến đối tượng TĐC là những cá nhân, hộ gia đình bị
ảnh hưởng bởi các dự án quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị với tất
cả những yếu tố có liên quan như: đền bù, hỗ trợ di dời và điều kiện sinh sống tại các
khu TĐC của thành phố.
1.1.6 Sinh kế:
“Kết quả của sinh kế là những thay đổi có lợi cho đời sống KT-XH của cộng
đồng. Nhờ các chiến lược sinh kế mang lại cụ thể là thu nhập cao hơn, nâng cao đời
sống văn hoá, tinh thần, cuộc sống ổn định hơn, giảm rủi ro, đảm bảo tốt hơn an toàn
lương thực và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên”
Theo DFID (1999), “Một sinh kế có thể được miêu tả như là sự tập hợp các
nguồn lực và khả năng con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động
mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện
của họ”.
Theo quan điểm của tác giả: Sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, các nguồn
lực, các tài sản và các hoạt động được sử dụng để làm phương tiện giúp con người
đảm bảo cuộc sống.
trong sinh kế người dân sống xung quanh các chung cư tái định cư.
Đối tượng người dân được nghiên cứu hướng tới bao gồm cả người dân tái định
cư bị mất đất do quy hoạch phát triển đô thị và người dân không bị mất đất. Riêng
những người dân không bị mất đất nghiên cứu lựa chọn đảm bảo phải sống ổn định lâu
năm xung quanh chung cư bố trí tái định cư và chịu sự tác động bao gồm cả những tác
động tích cực và tác động tiêu cực của các chung cư bố trí tái định cư.
Thực tế cho thấy, chính sách quy hoạch đô thị, thu hồi đất, bố trí tái định cư đã
tạo ra những thay đổi đáng kể trên tất cả các phương diện về kinh tế, xã hội, và môi
18
trường xung quanh các chung cư được xây dựng. Khi chưa có các chung cư tái định cư,
các khu vực, các địa phương và bản thân các quốc gia cũng có những thay đổi trên tất
cả các phương diện đó, tuy nhiên mức độ và tốc độ thay đổi là tương đối có phần chậm
hơn. Khi có các chung cư tái định cư được xây dựng, nó như chất xúc tác góp phần làm
các quá trình thay đổi đó được diễn ra nhanh hơn, hoặc cũng có thể nó tác động làm
thay đổi các chiều hướng biến động của các hoạt động, ví dụ như sự chuyển dịch cơ
cấu dân số, cơ cấu kinh tế của các địa phương diễn ra nhah hơn như một tất yếu khách
quan; đặc biệt là sự suy thoái về môi trường đang là xu hướng phổ biến ở đô thị.
Mặt khác, chính sách đền bù bố trí tái định cư có ảnh hưởng đến sinh kế người
dân, cụ thể thang đo được lựa chọn phân tích chính là thu nhập, nó có ảnh hưởng theo cả
hai chiều tới thu nhập của người dân. Chính sách đền bù bố trí tái định cư chính sách có
thể làm giảm thu nhập của các hộ dân bị mất đất, cũng như ảnh hưởng tới thu nhập của
các hộ dân sống xung quanh các chung cư tái định cư (nguyên nhân là do rác thải, nước
thải, khí thải,... của chung cư có ảnh hưởng đến môi trường sống tự nhiên của người
dân...), bên cạnh đó, những hộ gia đình bị thu hồi đất chưa kịp thích nghi với cuộc sống
mới, chưa có chiến lược sinh kế mới phù hợp với hoàn cảnh mới khi chuyển sang sống
tại các chung cư cao tầng được xây dựng, lao động trong các hộ gia đình mất việc làm và
không có khả năng chuyển đổi nghề nghiệp...
Người dân bị mất đất
nhận được tiền đền bù
của người dân
Sinh kế
người dân
Thứ hai, xuất phát từ khái niệm quy hoạch đô thị, giải toả đền bù bố trí tái định
cư, phát triển đô thị nói chúng và chính sách đền bù bố trí tái định cư nói riêng tạo ra
năng lực sản xuất tăng thêm, tạo ra việc làm, năng lực sản xuất mới... Tuy nhiên, với
những đối tượng không kịp thích nghi với những thay đổi sẽ thất nghiệp, không có việc
làm. Đây chính là kênh tác động thứ hai nghiên cứu tập trung phân tích:
+ Kênh tác động 2:
Quy hoạch
đô thị
Bố trí tái
định cư
Tạo việc làm
Sinh kế
người dân
Thất nghiệp
Thứ ba, theo nội dung chính sách đền bù bố trí tái định cư, chính sách đền bù bố
trí tái định cư bao gồm đầu tư CSHT kỹ thuật (Hệ thống giao thông, hệ thống nước, hệ
thống điện, hệ thống hạ tầng viễn thông...) và đầu tư CSHT xã hội (Hệ thống nhà ở, hạ
tầng y tế, trường học, trung tâm thương mại, chợ, khu vui chơi, giải trí,...). Từ đó, tạo
ra những sản phẩm đầu ra mà người dân sống trong khu vực đó được hưởng trực tiếp,
chọn biểu hiện sinh kế là thu nhập của người dân).
Mất tư liệu sản xuất
Quy hoạch đô thị
Thu hồi đất
Bồi thường
Tái định cư
Tạo
việc làm/
thất nghiệp
Thay đổi nguồn lực
CSHT xã hội,
CSHT kỹ thuật
Sinh kế
người dân
(Thay đổi thu
nhập của
người dân)
Chính sách sẽ ảnh hưởng đến người dân qua kênh tác động: Người dân mất tư
liệu sản xuất (cụ thể như mất đất ở, mất đất sản xuất kinh doanh...), chính việc mất tư
21
liệu sản xuất sẽ làm ảnh hưởng đến sinh kế của người dân, thu nhập của người dân sẽ
22
Việc xây dựng chung cư tái định cư cũng kéo theo sự phát triển của hệ thống hạ
tầng dịch vụ như ngân hàng, bưu điện, siêu thị, trung tâm thương mại... do đó, người dân
có thể tiếp cận với các dịch vụ này một cách thuận tiện và đồng bộ hơn.
Tuy nhiên, cũng sẽ có tác động tiêu cực tới cuộc sống người dân trong trường hợp
quy hoạch các chung cư tái định cư chưa đồng bộ với quy hoạch CSHT. Trong khi CSHT
chưa được xây dựng, hoạt động của các chung cư này kéo theo hoạt động của một lượng
lớn phương tiện giao thông ra vào chung cư có thể dẫn đến hệ thông đường giao thông bị
xuống cấp nhanh và tắc nghẽn giao thông đô thị trởi nên trầm trọng hơn.
Chính sách tác động tích cực tới thu nhập của người dân, làm tăng mức sống
của người dân trước mắt. Nguyên nhân là do: Khi nhận được tiền đền bù từ thu hồi đất
các hộ dân được bố trí tại nơi ở mới của chung cư tái định cư ở vị trí thuận lợi cho hoạt
động kinh doanh nhằm ổn định cuộc sống, sử dụng tiền đền bù để mua sắm máy móc
thiết bị phục vụ sản xuất, nhờ đó hiệu quả kinh tế đạt được cao hơn. Mặt khác, các hộ
gia đình có thể sử dụng tiền đền bù đó để mở các dịch vụ kinh doanh, nâng cao thu
nhập và mức sống của người dân có thể tăng lên.
Thêm vào đó, thu nhập từ lao động trực tiếp tại các doanh nghiệp trong các khu
công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) tại địa bàn sinh sống mới hoặc làm dịch vụ là
một nguồn thu quan trọng của các hộ gia đình. Vì vậy, một bộ phận người dân trong độ
tuổi lao động có thể vào làm việc với mức lương tương đối ổn định nếu đáp ứng được
yêu cầu của doanh nghiệp. Với những người dân không đáp ứng được yêu cầu có thể
chuyển đổi chiến lược sinh kế mới như chuyển sang kinh doanh, buôn bán...
Tuy nhiên, một bộ phận người dân không có khả năng chuyển đổi sang một sinh
kế khác, việc làm của họ bị mất do đất bị thu hồi hoặc không xin được việc làm.... có thể
làm cho thu nhập và mức sống của người dân bị giảm sút.
1.2 Một số lý thuyết xã hội học áp dụng trong nghiên cứu luận văn
1.2.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng:
Nghiên cứu sử dụng lý thuyết cấu trúc-chức năng nhằm giải thích mối tương quan
trong thực tiễn cótác động trực tiếp đến đời sống của người tái định cư.
1.2.2 Lý thuyết về biến đổi xã hội
Mọi xã hội đều tồn tại trong trạng thái vận động và phát triển không ngừng.
Biến đổi xã hội (BĐXH) là một quá trình, một thuộc tính tất yếu của xã hội. Ở mỗi góc
độ tiếp cận khác nhau, mỗi khoa học có quan điểm khác nhau về BĐXH. Theo quan
điểm của xã hội học thì BĐXH là khái niệm chỉ sự khác biệt về phương diện xã hội của
thời điểm hiện tại so với thời điểm trước đó của một hệ thống xã hội, trọng tâm là sự
24
biến đổi của cơ cấu xã hội.
Sự khác biệt về phương diện xã hội được nói tới ở đây là sự thay đổi của các dạng
hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội, các hệ thống phân tầng xã hội.
Không phải mọi sự thay đổi nào đó diễn ra trong xã hội đều được coi là BĐXH, mà chỉ
có những thay đổi có ảnh hưởng sâu sắc tới đa số cá nhân trong xã hội, sự thay đổi các
cơ cấu, tổ chức, các tầng lớp xã hội... mới được coi là sự BĐXH.
Sự BĐXH rất phức tạp và có thể diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ khác
nhau: có biến đổi phát triển tức là diễn ra theo chiều hướng tích cực, tiến bộ, phù hợp với
mong muốn của xã hội. Có biến đổi suy thoái, diễn ra theo chiều hướng xấu, xã hội lâm
vào bế tắc với những xung đột, đổ vỡ, thay đổi xã hội [42, tr.255-256].
Theo một số nhà nghiên cứu thì sự BĐXH là tổ hợp của rất nhiều nguyên nhân
chứ không phụ thuộc duy nhất vào một yếu tố đơn lẻ. Sự tương tác phức tạp của nhiều
yếu tố - cả yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài đã tạo nên sự biến đổi. Các nhà lý
thuyết hiện đại chú trọng các yếu tố: môi trường vật chất (biến động của thiên nhiên),
công nghệ, sức ép dân số, giao lưu văn hoá... để lý giải những BĐXH.
Quan niệm biến đổi tổng hợp còn khẳng định sự biến đổi có thể đi lên, có thể là
đi xuống, thậm chí bị huỷ diệt. Sự biến đổi cũng thường mang tính chu kỳ. Trên thực
tế, mỗi lý thuyết đều có quan điểm luận giải khác nhau về sự biến đổi xã hội mà trong
đó mỗi lý thuyết đều có hạt nhân hợp lý về nhận thức cũng như dự báo quá trình biến