Nghiên cứu giải pháp chính sách cho người dân bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố hồ chí minh - Pdf 55

MỞ ĐẦU
1. Tính cần thiết của đề tài
Đất đai có tầm quan trọng to lớn đối với người dân cả về phương diện nơi ở lẫn
tư liệu sản xuất. Ở nước ta, Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2013 quy định đất đai
thuộc sở hữu toàn dân và ủy quyền cho Nhà nước quản lý, Nhà nước giao cho người
dân sử dụng. Từ khi chính thức giao đất cho người dân, Nhà nước ta đã tuyên bố bảo
hộ quyền sử dụng chính đáng về đất đai.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay để đáp ứng ngày càng lớn yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước; hội nhập vào nền
kinh tế quốc tế nhu cầu sử dụng đất đai càng nhiều hơn. Nhiều dự án lớn đã, đang và sẽ
đầu tư xây dựng chiếm đất ở và đất sản xuất của dân cư, bên cạnh đó là công tác quy
hoạch, phát triển các đô thị lớn tác động khá lớn đến việc sử dụng đất ở của dân cư.
Đô thị ngày càng khẳng định vai trò động lực then chốt trong nền kinh tế với
khoảng 55% dân số sống tại các đô thị vào năm 2020.
Cùng với xu hướng đó của cả nước, thành phố Hồ Chí Minh đã chủ trương xây
dựng đồng bộ các khu đô thị mới nằm trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả
nước; trong đó việc tiến hành thu hồi đất là điều không tránh khỏi, thành phố Hồ Chí
Minh chú trọng đầu tư hoàn chỉnh 4 đô thị vệ tinh tại 4 hướng: Khu đô thị Đông (hay
2

TP Đông) gồm quận 2, 9 và Thủ Đức với diện tích 211 km với trung tâm là khu đô thị
mới Thủ Thiêm. Ở đây sẽ phát triển các ngành dịch vụ cao cấp và công nghiệp kỹ thuật
cao. Khu đô thị Nam (hay TP Nam) gồm quận 7, huyện Nhà Bè và một phần diện tích
quận 8 (phần phía nam kênh Tẻ) và huyện Bình Chánh với diện tích 194 km2. Ở đây sẽ
phát triển dịch vụ cảng, gắn liền với các dịch vụ thương mại khác. Khu đô thị Bắc (hay
2

TP Bắc) gồm quận 12 và phần lớn huyện Hóc Môn với diện tích 149 km sẽ phát triển
dịch vụ, du lịch sinh thái, nông nghiệp kỹ thuật cao. Khu đô thị Tây (hay TP Tây) gồm
2


sống và sự hài lòng của người dân, đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Theo số liệu của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, “mỗi năm bình quân
có 73 nghìn ha đất nông nghiệp được thu hồi, đã tác động đến đời sống 2,5 triệu người
dân và cứ trung bình 01 ha đất bị thu hồi có 10 người mất việc” (Nguyễn Quốc Nghi và
cộng sự (2012)). Thành phố Hồ Chí Minh cũng ở vào tình trạng như vậy, với 28 dự án
tại 04 khu đô thị mới được quy hoạch, mở rộng và xây dựng, diện tích đất của người
dân bị hu hồi là 1.722 ha, trong đó phần lớn là đất nông nghiệp và đất ở vùng ven đô
(Nghị quyết 09/2018/NQ-HĐND ngày 12/7/2018), hàng chục nghìn hộ dân được di dời
đến các khu tái định cư (TĐC) mới. Trên nhiều mặt, đời sống của dân cư trong các khu
vực này được cải thiện rõ rệt. Cơ sở hạ tầng (điện, đường, hệ thống cấp thoát nước, vệ
sinh môi trường...) được nâng cấp đạt tiêu chuẩn đô thị bậc cao. Nhưng một bộ phận
dân cư vẫn còn băn khoăn về khả năng tìm việc làm, tạo thu nhập đảm bảo mức sống
của dân cư thời “hậu tái định cư”, đặc biệt là đối với nhóm cư dân nghèo. Vì vậy, ở một
số nơi, người dân chưa thích nghi được với môi trường sống mới hoặc chưa tìm được
việc làm ổn định, sinh tâm lý thiếu an tâm. Mức sống ở một bộ phận dân cư chưa ổn
định nhất là số người làm các nghề tự do đang cần tiếp tục hỗ trợ để tìm hướng giải
quyết. Trong những năm tới, thành phố Hồ Chí Minh còn tiếp tục chỉnh trang đô thì và
sẽ phải di dời, giải toả hàng nghìn hộ gia đình. Do vậy tìm hiểu, phân tích, đánh giá
chính sách đền bù, hỗ trợ tái định cư và những vấn đề sau TĐC là việc rất cần làm. Đây
là yêu cầu cấp thiết giúp lãnh đạo thành phố hoạch định và thực hiện những chính sách
phù hợp nhằm phát triển sản xuất, ổn định đời sống, tạo tâm lý an tâm cho cộng đồng
dân cư đã, đang và sẽ phải di dời, giải toả ở thành phố Hồ Chí Minh. Chính vì vậy, học
viên đề xuất đề tài “Nghiên cứu giải pháp chính sách cho người dân bị thu hồi đất
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” là luận văn thạc sĩ xã hội học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trên thế giới, mô hình quy hoạch phát triển đô thị được hình thành như một kênh
hữu hiệu cho việc thu hút vốn đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Một số

3


Một số nghiên cứu được thực hiện theo hướng xây dựng chiến lược sinh kế cho
người dân bị mất đất trong quá trình đô thị hóa như: “Chính sách di dân châu Á” (Dự
án VIE/95/2004 1998). Trong công trình này đã có nhiều bài viết đề cập ở những góc

4


độ khác nhau của việc di dời, giải toả, di dân TĐC. Cụ thể trong bài viết “Chính sách
tái định cư do kết quả của sự phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam” (từ trang 180-195),
tác giả Trương Thị Ngọc Lan bàn đến thực trạng công tác TĐC hiện nay ở nước ta và
tập trung trình bày những nội dung chính của các văn bản pháp lý liên quan đến đền bù
và TĐC. Nguyễn Thiện Trưởng (2004) “Dân số và phát triển bền vững ở Việt Nam”,
Đặng Nguyên Anh (2002) nghiên cứu về “Phân bố dân số ở Việt Nam: đặc trưng, xu
thế và định hướng chính sách”, “Di dân và đô thị hoá”, “Một số vấn đề xã hội học hàng
đầu của việc cải tạo - chỉnh trang đô thị (CTĐT): giảm tổn thương cho nhóm dân cư
nghèo nhất” của Nguyễn Quang Vinh (2001). Đây là một nghiên cứu Xã hội học về sự
ảnh hưởng của các dự án cải tạo - CTĐT đến việc làm và mức sống của nhóm dân cư
nghèo ở TP. Hồ Chí Minh. Cách tiếp cận của tác giả đã gợi mở ra những hướng nghiên
cứu rất bổ ích về đề tài biến đổi mức sống của nhóm dân cư bị ảnh hưởng bởi quá trình
đô thị hoá. Nghiên cứu này đã xác định tình trạng thu nhập của hộ gia đình sau khi mất
đất, tình trạng việc làm của người dân, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sinh kế của
người dân bị mất đất. Những nhân tố được lựa chọn để phân tích có điểm tương đồng
khá lớn giữa các nghiên cứu này như: trình độ học vấn, số lượng lao động, giới tính chủ
hộ, tham gia vào các tổ chức xã hội của các thành viên trong hộ gia đình, khả năng tiếp
cận nguồn tín dụng...
Các nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá, quy hoạch giải toả đến sinh
kế người dân không chỉ dừng lại ở việc đánh giá ảnh hưởng của người dân bị mất đất,
mà còn xác định sự chuyển dịch cơ cấu thu nhập, việc làm của người dân bị mất đất –
đối tượng ảnh hưởng trực tiếp của quá trình đô thị hoá. Thực tế cho thấy, quy hoạch
phát triển đô thị mới tác động đến mọi mặt đời sống tinh thần, đời sống vật chất của

hồi đất đối với đối tượng khó khăn, thu nhập thấp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những nội dung, cách triển khai, tổ chức thực hiện chính sách đối với những hộ
dân tái định cư thuộc diện giải tỏa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Khách thể nghiên cứu:
- Hộ dân sau tái định cư đang sinh sống tại chung cư Tân Mỹ, phường Tân Phú,
Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hộ dân sống xung quanh chung cư Tân Mỹ bị ảnh hưởng do công tác bố trí tái
định cư.

6


- Cán bộ quản lý nhà nước thuộc Phòng Quản lý đô thị quận 7, Ủy ban nhân dân
phường Tân Phú.
Thông qua việc tìm hiểu thực trạng cuộc sống các hộ gia đình thuộc diện giải
toả tại phường Tân Phú, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, có thể đánh giá được hiệu
quả của chính sách thu hồi đất.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: nghiên cứu thực hiện trên địa bàn phường Tân Phú,
- Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu được tiến hành từ 04/2017 đến
27/02/2019, trong đó khoảng thời gian tiến hành thu thập thông tin tại thực địa từ
15/10/2018 đến ngày 15/01/2019 và báo cáo số liệu 2010-2015, báo cáo số liệu 20152018 sẵn có của phường Tân Phú, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh, Cục Thống kê,
Tổng cục Thống kê, và báo cáo, số liệu sẵn có của một số phường, quận có đặc điểm
tương quan để tham khảo, bổ sung làm rõ vấn đề nghiên cứu.
- Phạm vi nội dung: Trong dài hạn khi thực hiện quy hoạch phát triển đô thị có
thu hồi đất ở và thực hiện chính sách đền bù giải toả, hỗ trợ bố trí tái định cư phải đảm
bảo tính bền vững, vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu này tác giả có sử dụng khung phân
tích sinh kế bền vững để đánh giá ảnh hưởng của chính sách thu hồi đất đến các mặt

thức tổ chức cuộc sống xã hội” khi các cơ cấu vật lý bị uốn nắn lại, người dân đã và
đang chứng kiến nhiều hệ quả kinh tế, xã hội, văn hóa hết sức tốt đẹp trong quá trình
cải tạo – chỉnh trang. Song, một mặt khác, việc cải tạo – chỉnh trang (quy hoạch đô thị)
cũng bao hàm trong lòng nó chững rủi ro mới, những xáo trộn mới đối với cuộc sống
của các nhóm dân cư chịu tác động trực tiếp, đặc biệt là đối với nhóm dân nghèo sống
tại các khu lụp xụp bị giải tỏa vì mục tiêu cải tạo – chỉnh trang đô thị. Và tùy theo trình
độ quản lý, nắm bắt và xử lý đúng đắn các vấn đề xã hội nảy sinh có thể đạt tới đâu, mà
cái giá phải trả về mặt xã hội của cư dân sẽ là cao hay thấp. Đây cũng chính là vấn đề
xã hội mà các nhà xã hội học đô thị ở nước ta rất quan tâm. Kế thừa những nghiên cứu
trên, trong luận văn này, tác giả tập trung khảo sát, phân tích, đánh giá hiệu quả giải
pháp chính sách cho người dân sau tái định cư nhằm rút ngắn khoảng cách, tiến tới hóa
giải các mẫu thuẫn và vượt qua các khó khăn nảy sinh trong quá trình đô thị hóa.
5.4. Khung phân tích:
Khung phân tích sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét những

8


yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế của con người, đặc biệt là những yếu tố gây
khó khăn hoặc tạo cơ hội trong sinh kế. Đồng thời, khung sinh kế cũng nhằm mục
đích tìm hiểu xem những yếu tố này liên quan với nhau như thế nào trong những bối
cảnh cụ thể. DFID đã đưa ra khung sinh kế bền vững với các thành phần như sau:
Khung phân tích sinh kế bền vững
H: Nguồn nhân lực

Chính
sách,
thủ tục
từ các



Tác giả sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững của DFID (1999) và kế thừa các
nghiên cứu trước đó có liên quan đến nghiên cứu để điều chỉnh khung phân tích cho phù
hợp với nội dung nghiên cứu của tác giả. Cụ thể, khi quy hoạch phát triển đô thị, đất

ở bị thu hồi, bố trí tái định cư, các hộ gia đình chịu sự tác động mạnh mẽ của lực hút
(thu nhập cao, việc làm trong các công ty, KCX, KCN, môi trường sống trong các khu
đô thị mới...) và lực đẩy (thiếu việc làm, thu nhập thấp, gánh nặng gia đình, văn hoá
ứng xử...), (Lê Duy Phong (2007), Trần Quang Tuyên (2013). Bên cạnh đó là sự tác
động của các chính sách, các thủ tục hỗ trợ của chính quyền địa phương, của nhà
nước...Chính những sự tác động này có ảnh hưởng đến sinh kế của các hộ dân. Cụ thể
các thành tố trong khung phân tích sinh kế bền vững như sau:
* Khả năng dễ bị tổn thương:
“Khả năng dễ bị tổn thương là môi trường bên ngoài mà trong môi trường đó
9


sinh kế con người và các tài sản sẵn có của họ bị ảnh hưởng cơ bản, vừa tích cực vừa
tiêu cực, bởi những xu hướng, sự thay đổi đột ngột hoặc tính mùa vụ - mà họ hạn chế
được hoặc không thể nào kiểm soát được”
Các yếu tố trong hoàn cảnh dễ bị tổn thương:
+ Xu hướng: “Xu hướng dân số, xu hướng tài nguyên kể cả xung đột trong việc
sử dụng, xu hướng kinh tế trong nước và thế giới, những xu hướng cai trị (bao gồm
chính sách, những xu hướng kỹ thuật)”
+ Các cú sốc: “Thay đổi về sức khỏe con người, thay đổi tự nhiên, thay đổi kinh
tế, xung đột, thay đổi về sức khỏe vật nuôi, cây trồng”
+ Tính thời vụ: “biến động giá cả, sản xuất, sức khỏe, những cơ hội việc làm”
“Những nhân tố cấu thành hoàn cảnh dễ bị tổn thương quan trọng vì chúng có
tác động trực tiếp lên tình trạng các nguồn lực và những lựa chọn của con người mà với
chúng sẽ mở ra cơ hội để họ theo đuổi những kết quả sinh kế có lợi”

thống cung cấp điện, nước, nhà vệ sinh, các phương tiện tiếp cận thông tin để đáp ứng
nhu cầu cơ bản của con người, các phương tiện sản xuất như là công cụ, máy móc và
các phương tiện khác giúp con người hoạt động với năng suất cao). Trong nguồn lực
vật chất thì các nhân tố làm cho sinh kế của con người trở nên đa dạng hơn là CSHT
như đường sá, hệ thống cung cấp điện và nước”.
Nguồn lực tài chính: “Đây là yếu tố trung gian, có ý nghĩa quan trọng đối với
việc sử dụng thành công hay không các tài sản khác. Nguồn tài chính chủ yếu là tiền
mặt và các khoản tài chính tương đương mà con người sử dụng để đạt được mục tiêu
sinh kế của mình”.
* Chiến lược sinh kế
“Chiến lược sinh kế là các kế hoạch làm việc lâu dài của người dân để kiếm
sống. Nó thể hiện mức độ đa dạng cũng như kết hợp nhiều hoạt động và lựa chọn mà
con người tiến hành nhằm đạt được mục tiêu sinh kế của mình”.
* Kết quả sinh kế
“Kết quả sinh kế là những thay đổi có lợi cho sinh kế của cộng đồng do các
chiến lược sinh kế mang lại, cụ thể là thu nhập cao hơn, nhận được phúc lợi nhiều hơn,
giảm rủi ro, đảm bảo cao hơn mức an toàn thực phẩm và sử dụng một cách bền vững
hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên”.
5.5 Phương pháp thu thập dữ liệu
5.5.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:

11


Tác giả đã thiết kế bảng câu hỏi hộ gia đình để thu thập dữ liệu định lượng phục vụ cho
nghiên cứu. Nội dung của bảng câu hỏi bao gồm: đặc điểm hộ gia đình, nguồn lực, tài
sản sinh kế của hộ gia đình, thu nhập của hộ gia đình. Chi tiết bảng hỏi: Phụ lục 1 Xác
định cỡ mẫu, trong quá trình nghiên cứu các vấn đề kinh tế - xã hội (KT-XH), việc chọn
mẫu đại diện và đủ lớn là rất quan trọng. Những nhân tố cần được xem
xét để xác định được cỡ mẫu chính xác cho một cuộc nghiên cứu như: Độ chính xác,

nhập, đến hệ thống điện, nước sạch... của người dân. Kết quả thu được giúp cho tác giả
có góc nhìn đa chiều hơn, bổ trợ hữu hiệu hơn cho kết quả phân tích định lượng về tác
động của chính sách thu hồi đất đến đời sống sinh kế của người dân.
* Phương pháp thảo luận nhóm tập trung:
Theo Nguyễn Văn Thắng (2014), thảo luận nhóm tập trung thường đươc áp dụng
khi thu thập dữ liệu về cảm xúc, ý kiến và quan điểm của một nhóm người liên quan đến
vấn đề nghiên cứu. Dưới sự hướng dẫn của người điều khiển - các đối tượng chia sẻ ý kiến,
cảm xúc và phản ứng của họ về vấn đề nghiên cứu trong môi trường nhóm.

Tác giả đã tiến hành thảo luận nhóm nam nữ trong độ tuổi lao động và nhóm
nam nữ ngoài tuổi lao động, về ảnh hưởng của chính sách đền bù bố trí tái định cư đến
đời sống, sinh kế của người dân. Cụ thể, tác giả lựa chọn hai nhóm đại diện cho hộ dân
bị thu hồi đất. Tác giả muốn nhận được ý kiến của các thành viên tham gia thảo luận
nhóm về chính sách thu hồi đất, đền bù bố trí tái định cư có ảnh hưởng như thế nào tới
thu nhập, việc làm, các dịch vụ mà hộ gia đình được hưởng, chiến lược sinh kế mới của
hộ gia đình. Những kiến nghị được người trong cuộc đề xuất sẽ góp phần nhằm tăng
cường hơn nữa sinh kế và khả năng thích ứng của các hộ dân. Các ý kiến, chia sẻ thảo
luận của nhóm được ghi chép đầy đủ và được lưu vào file dữ liệu theo từng chủ đề và
đặc điểm cá nhân của người tham gia thảo luận.
Kết quả thảo luận nhóm sẽ giúp tác giả trong việc phân tích và có góc nhìn đa
chiều hơn, bổ trợ hữu hiệu cho kết quả phân tích định lượng về tác động của chính sách
thu hồi đất đền bù bố trí tái định cư đến sinh kế và đời sống người dân sau tái đinh cư.
5.5.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
Số liệu thống kê về tình hình triển khai, tổ chức thực hiện chính sách thu hồi
đất, đền bù bố trí tái định cư… được tác giả thu thập từ Uỷ ban nhân dân phường Tân
Phú, Phòng Quản lý đô thị quận 7, Uỷ ban nhân dân quận 7.
5.6. Phương pháp phân tích số liệu:
Các số liệu sau khi thu thập bằng bảng hỏi được tác giả xử lý, làm sạch, nhập dữ
liệu và mã hóa dữ liệu vào file exel, sau đó tác giả sử dụng các mô hình và phép tính
toán định lượng để xử lý số liệu. Nghiên cứu được thực hiện dưới sự trợ giúp của phần

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Các chính sách và thực trạng của chính sách tác động đến người dân
sau tái định cư.
Chương 3: Một số định hướng, giải pháp của vấn đề nghiên cứu.

14


Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
1.1. Các khái niệm cơ bản:
1.1.1 Chính sách:
Các chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau, từ
các tổ chức quốc tế đến từng quốc gia, từ nhà nước đến các đơn vị, tổ chức chính trị xã
hội, doanh nghiệp,..nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức đó và chúng
chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó.
Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính
sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực
hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội
dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ
chính trị, kinh tế, văn hóa…”
Theo James Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo
đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm”.

Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh
đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền
của mình.
1.1.2 Thu hồi đất:
Theo Khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai 2013, Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà

quyền ưu tiên mua lại đất theo khung giá mà thành phố quy định cho các khu quy
hoạch, và mới nhất là được bố trí tạm tại các khu vực tái định cư (tức là các khu dành
cho TĐC).
1.1.5 Tái định cư:
- Theo nghĩa rộng, “Tái định cư là một quá trình bao gồm đền bù các thiệt hại
về đất đai và tài sản di chuyển, TĐC, ổn định và khôi phục cuộc sống cho những người
bị thu hồi đất để xây dựng các dự án. Tái định cư còn bao gồm các hoạt động nhằm hỗ
trợ cho những người bị ảnh hưởng do việc thực hiện các dự án gây ra, khôi phục và cải
thiện mức sống, tạo điều kiện phát triển các cơ sở sản xuất kinh tế, văn hoá, xã hội của
hộ và cộng đồng” [16, tr.193-194].
Như vậy, TĐC là một quá trình bao hàm từ việc đền bù (bồi thường) cho các
thiệt hại về tài sản và ổn định cuộc sống bị xáo trộn do dự án phát triển gây ra. Đây là
quá trình giúp người dân di chuyển và hỗ trợ họ tạo lập lại nơi ở mới, khôi phục cuộc

16


sống và đảm bảo tăng nguồn thu nhập của họ.
- Theo nghĩa hẹp, TĐC được dùng chỉ sự di chuyển của các hộ gia đình tới định
cư ở nơi ở mới.
Peter R.Burbridge cũng cho rằng “Tái định cư là chỉ việc lập cư của các cá
nhân, các nhóm hộ gia đình hoặc toàn bộ một làng, một xã” [3, tr.13].
Đây là cách hiểu thông thường trong đời sống xã hội, song khái niệm TĐC theo
quan niệm này chỉ có hàm nghĩa chỉ nơi cư trú mới mà người dân di dời đến, tức là chỉ
nói tới hình thức lập cư mà chưa chú trọng đến quá trình lập cư đó.
Trong khuôn khổ luận văn, tác giả vừa sử dụng khái niệm TĐC theo nghĩa hẹp
để xác định không gian nghiên cứu, vừa đồng thời và chủ yếu sử dụng khái niệm TĐC
theo nghĩa rộng tức là quan tâm đến đối tượng TĐC là những cá nhân, hộ gia đình bị
ảnh hưởng bởi các dự án quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị với tất
cả những yếu tố có liên quan như: đền bù, hỗ trợ di dời và điều kiện sinh sống tại các

“Xây dựng môi trường chính sách và thể chế hỗ trợ sinh kế của người nghèo” “Hỗ
trợ phát triển dựa trên thế mạnh của người nghèo và cung cấp cho họ cơ hội

để cải thiện sinh kế”
1.1.8 Tác động:
Tác động là làm cho sự vật, đối tượng nào đó có những biến đổi nhất định [45,
tr.235] hay Tác động là gây ra sự biến đổi nào đó cho sự vật được hành động hướng tới
[43, tr.638]
* Tác động của chính sách đền bù bố trí tái định cư đến sinh kế người dân theo kênh:
Về bản chất, tác động của hành động tới một sự vật, hiện tượng là ảnh hưởng
của hành động tới sự vật, hiện tượng đó, gây ra những biến đổi nhất định cho sự vật,
hiện tượng được hành động hướng tới. Tác động giữa chính sách đền bù bố trí tái định
cư và sinh kế người dân chính là những ảnh hưởng của hoạt động chính sách đền bù với
khách thể là bố trí tái định cư tới sinh kế của người dân, dẫn đến những thay đổi trong
sinh kế người dân sống xung quanh các chung cư tái định cư.
Đối tượng người dân được nghiên cứu hướng tới bao gồm cả người dân tái định
cư bị mất đất do quy hoạch phát triển đô thị và người dân không bị mất đất. Riêng
những người dân không bị mất đất nghiên cứu lựa chọn đảm bảo phải sống ổn định lâu
năm xung quanh chung cư bố trí tái định cư và chịu sự tác động bao gồm cả những tác
động tích cực và tác động tiêu cực của các chung cư bố trí tái định cư.
Thực tế cho thấy, chính sách quy hoạch đô thị, thu hồi đất, bố trí tái định cư đã
tạo ra những thay đổi đáng kể trên tất cả các phương diện về kinh tế, xã hội, và môi

18


trường xung quanh các chung cư được xây dựng. Khi chưa có các chung cư tái định cư,
các khu vực, các địa phương và bản thân các quốc gia cũng có những thay đổi trên tất
cả các phương diện đó, tuy nhiên mức độ và tốc độ thay đổi là tương đối có phần chậm
hơn. Khi có các chung cư tái định cư được xây dựng, nó như chất xúc tác góp phần làm

Kết hợp với bản chất và nội dung của yếu tố di dân, yếu tố đô thị hoá, của chính
sách đền bù bố trí tái định cư, tác giả phân chia các kênh tác động chính của chính sách
đền bù bố trí tái định cư đến sinh kế người dân cụ thể như sau:
Thứ nhất, quy hoạch đô thị, bố trí tái định cư cần được xây dựng trên một khu
vực xác định, chính vì vậy sẽ cần thu hồi đất của người dân, khi người dân bị thu hồi
đất họ sẽ nhận được một khoản tiền đền bù, người dân sẽ sử dụng khoản tiền đền bù
này để thay đổi chiến lược sinh kế của họ, khi đó, chính sách đền bù bố trí tái định cư
có ảnh hưởng đến sinh kế người dân.
+ Kênh tác động 1
Quy hoạch
đô thị

Thu hồi đất
của người dân

Người dân bị mất đất
nhận được tiền đền bù

Sinh kế
người dân

Thứ hai, xuất phát từ khái niệm quy hoạch đô thị, giải toả đền bù bố trí tái định
cư, phát triển đô thị nói chúng và chính sách đền bù bố trí tái định cư nói riêng tạo ra
năng lực sản xuất tăng thêm, tạo ra việc làm, năng lực sản xuất mới... Tuy nhiên, với
những đối tượng không kịp thích nghi với những thay đổi sẽ thất nghiệp, không có việc
làm. Đây chính là kênh tác động thứ hai nghiên cứu tập trung phân tích:
+ Kênh tác động 2:

Quy hoạch
đô thị


người dân

Theo DFID (1999), khung phân tích sinh kế bền vững cho thấy, việc sử dụng các
nguồn lực đầu tư để đảm bảo sinh kế cho người dân, cụ thể là thu nhập của người dân tăng
thêm qua việc vượt qua các cú sốc, vận dụng và sử dụng linh hoạt các chiến lược sinh kế.
Những nguồn lực đầu tư ở đây là nguồn nhân lực, nguồn lực xã hội, nguồn lực vật chất,
nguồn lực tài chính và nguồn lực tự nhiên, một số thang đo hoạt động sinh kế cụ thể gồm
số việc làm được tạo ra, số lao động thất nghiệp của hộ gia đình, các nguồn lực

tài chính hỗ trợ quá trình sản xuất kinh doanh của gia đình,....
Theo quan điểm của tác giả, kết quả của hoạt động chính sách bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ảnh hưởng đến sinh kế người dân, cơ chế tác
động của chính sách đến sinh kế người dân chính là: quy hoạch đô thị tạo ra kết quả
hoạt động chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, các kết quả của chính sách có tác
động đến sinh kế của người dân, từ đó tạo ra kết quả sinh kế người dân (cụ thể thang đo
tác giả lựa chọn biểu hiện sinh kế là thu nhập của người dân).
Mất tư liệu sản xuất

Quy hoạch đô thị
Thu hồi đất
Bồi thường
Tái định cư

Tạoviệc làm/
thất nghiệp
Thay đổi nguồn lực
CSHT xã hội,
CSHT kỹ thuật


các công ty. Chính vì vậy, việc tạo việc làm hay thất nghiệp do quá trình thực hiện
chính sách cũng gây ra những ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực tới sinh kế của người
dân (có thể gây ra sự thay đổi thu nhập cho người dân)
Chính sách cũng sẽ có tác động đến CSHT: Khi các chung cư tái định cư được
hình thành và phát triển, nó sẽ góp phần cải thiện CSHT cho địa phương. Nhìn chung,
các công trình tái định cư đô thị sẽ dẫn đến CSHT được hình thành và nâng cấp: Quy
hoạch các chung cư tái định cư đòi hỏi phải xây dựng, nâng cấp hệ thống kết cấu hạ
tầng kỹ thuật như điện nước, thông tin liên lạc, hệ thống thoát nước, hệ thống giao
thông... và những hạ tầng xã hội như trường học, bệnh viện. Mặt khác, chung cư tái
định cư được xây dựng còn thu hút và cung cấp một lượng lớn lao động từ vùng khác
đến, do đó thúc đẩy quá trình phân bổ lại dân cư trong địa phương và tạo điều kiện cho
quá trình đô thị hóa.

22


Việc xây dựng chung cư tái định cư cũng kéo theo sự phát triển của hệ thống hạ
tầng dịch vụ như ngân hàng, bưu điện, siêu thị, trung tâm thương mại... do đó, người
dân có thể tiếp cận với các dịch vụ này một cách thuận tiện và đồng bộ hơn.
Tuy nhiên, cũng sẽ có tác động tiêu cực tới cuộc sống người dân trong trường
hợp quy hoạch các chung cư tái định cư chưa đồng bộ với quy hoạch CSHT. Trong khi
CSHT chưa được xây dựng, hoạt động của các chung cư này kéo theo hoạt động của
một lượng lớn phương tiện giao thông ra vào chung cư có thể dẫn đến hệ thông đường
giao thông bị xuống cấp nhanh và tắc nghẽn giao thông đô thị trởi nên trầm trọng hơn.
Chính sách tác động tích cực tới thu nhập của người dân, làm tăng mức sống của
người dân trước mắt. Nguyên nhân là do: Khi nhận được tiền đền bù từ thu hồi đất các
hộ dân được bố trí tại nơi ở mới của chung cư tái định cư ở vị trí thuận lợi cho hoạt
động kinh doanh nhằm ổn định cuộc sống, sử dụng tiền đền bù để mua sắm máy móc
thiết bị phục vụ sản xuất, nhờ đó hiệu quả kinh tế đạt được cao hơn. Mặt khác, các hộ
gia đình có thể sử dụng tiền đền bù đó để mở các dịch vụ kinh doanh, nâng cao thu

impute, như một cách chặt chẽ nhất có thể, để mỗi tính năng, tùy chỉnh, hoặc thực
hành, tác động của nó trên các chức năng của một hệ thống cố kết được cho là ổn
định”. Đối với Talcott Parsons, “cấu trúc-thuyết chức năng” đến để mô tả một giai đoạn
cụ thể trong việc phát triển phương pháp luận của khoa học xã hội, chứ không phải là
một trường cụ thể của tư tưởng. Phương pháp thuyết chức năng cấu trúc là một phân
tích macrosociological, với một tập trung rộng trên các cấu trúc xã hội mà hình dạng
của toàn xã hội.
Mối quan hệ cấu trúc giữa định chế chính trị mà đại diện trong nghiên cứu được
xem xét là các chính sách của nhà nước, chính quyền đối người tái định cư và đời sống
kinh tế - xã hội. Như vậy, cấu trúc được mô tả theo khuynh hướng sự tác động của định
chế xã hội vào các nhóm xã hội khác nhau nhằm vận hành hệ thống ổn định trong mối
quan hệ tương tác, tương hỗ qua lại giữa định chế kinh tế - xã hội. Xem xét chức năng
của các chính sách trong xã hội, mà cụ thể là đối với người tái định cư thuộc diện giải
tỏa; chức năng ẩn và phản chức năng của các chính sách khi được triển khai thực hiện
trong thực tiễn cótác động trực tiếp đến đời sống của người tái định cư.
1.2.2 Lý thuyết về biến đổi xã hội
Mọi xã hội đều tồn tại trong trạng thái vận động và phát triển không ngừng.
Biến đổi xã hội (BĐXH) là một quá trình, một thuộc tính tất yếu của xã hội. Ở mỗi góc
độ tiếp cận khác nhau, mỗi khoa học có quan điểm khác nhau về BĐXH. Theo quan
điểm của xã hội học thì BĐXH là khái niệm chỉ sự khác biệt về phương diện xã hội của
thời điểm hiện tại so với thời điểm trước đó của một hệ thống xã hội, trọng tâm là sự

24


biến đổi của cơ cấu xã hội.
Sự khác biệt về phương diện xã hội được nói tới ở đây là sự thay đổi của các
dạng hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội, các hệ thống phân tầng xã
hội. Không phải mọi sự thay đổi nào đó diễn ra trong xã hội đều được coi là BĐXH,
mà chỉ có những thay đổi có ảnh hưởng sâu sắc tới đa số cá nhân trong xã hội, sự thay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status