B ộ• GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO
•
•
B ộ Y TÉ•
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
•
___
•
•
•
CAO CÔNG KHÁNH
NGHIÊN CỨU XÂY D ựN G QUY TRÌNH XÁC ĐỊNH
ĐÔNG THỜI VITAMIN A VÀ VITAMIN E
TRONG SỮA BẰNG KỸ THUẬT HPLC
LUẬN
VĂN THẠC
SỸ Dược
HỌC
•
•
•
CAO CÔNG KHÁNH
NGHIÊN CỨU XÂY Dự NG QUY TRÌNH XÁC ĐỊNH
ĐỒNG THỜI VITAMIN A VÀ VITAMIN E
TRONG Sữ A BẰNG KỸ THUẬT HPLC
•
LUẬN VĂN THẠC SỸ D ư ợ c HỌC
•
•
•
•
CHUYÊN NGÀNH: KIể M NGHIỆM THUỐC VÀ
Độc CHẤT
MÃ SỐ: 62 73 15 01
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Tường Vy
TR Ư Ơ N G ĐH ĐƯ ỢC HÀ N Ộ I
T H U ' V ỈỆ SM
HÀ N Ộ I-2 0 1 0
N gày........ th án g ..........’năm 20 .......í
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2010
Cao Công Khánh
MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
Đặt vấn đề.......................................................................................................................... 1
Chương 1: Tổng quan....................................................................................................... 3
1.1. Đại cưong về vitamin A và vitamin E........................................................................ 3
1.1.1. Đặc điểm lý hóa............................................................................................................ 3
1.1.2. Giá trị dinh dưỡng của vitamin A và vitamin E ......................................................... 5
1.2. Các phưong pháp xác định vitamin A và vitamin E trong sữa........................... 7
1.2.1. Tách chiết hai vitamin A và E ra khỏi mẫu thử.........................................................7
1.2.2. Các kỹ thuật định lượng vitamin Avàvitamin E ..................................................... 11
1.2.3. Phương pháp xác định đồng thời hai vitamin A và vitamin E bằng HPLC........... 13
Chưong 2: Đối tượng, nội dung, và phương pháp nghiên cứu.......................... 16
2.1. Đối tuọng nghiên cứu..................................................................................................16
2.1.1. Các loại sữa:................................................................................................................ 16
2.1.2. Cách lấy mẫu:..............................................................................................................16
2.2. Phưoug tiện nghiên cứu............................................................................................ 17
2.2.1. Thiết bị phân tích:....................................................................................................... 17
2.2.2. Dụng cụ phân tích....................................................................................................... 17
2.2.3. Hóa chất, thuốc thử.....................................................................................................18
3.4.1. Kết quả phân tích mẫu thực t ế : .................................................................................43
3.4.2. Kết quả thử nshiệm liên phòng:............................................................................... 48
Chưong 4: Bàn luận.........................................................................................................51
4.1. Xây dựng quy trình kỹ thuật....................................................................................51
4.1.1. Các điều kiện phân tích trên hệ thống HPLC....................................................51
4.1.2. Điều kiện xử lý mẫu:...............................................................................................51
4.2. Thẩm định quy trình đã xây dựng........................................................................ 52
K ết luận và kiến n g h ị:.................................................................................................. 55
Tài liệu tham khảo..........................................................................................................57
Phụ lục............................................................................................................................... 60
AOAC :
(Association of Official Analytical Chemists)
Hiệp hội các nhà hóa học phân tích.
BHA :
(Butylate HydroxyAnisole) - chất chống oxy hóa
BHT :
(Butylate HydroxyToluene) - chất chống oxy hóa
CA, Ce : Nồng độ vitamin A, vitamin E
FSV :
PDA :
(Photo Diode Array) - mảng diod quang
ppm :
(part per million) - phần triệu
RDI :
(Recommended Daily Intake) - nhu cầu hàng ngày được khuyến
RSD :
(Relative Standard Deviation) - độ lệch chuẩn tương đối
STT :
Số thứ tự
Si :
Diện tích píc sắc ký
S :
Diện tích píc trung bình
TBHQ :
Ảnh hưởng của thời gian đến quá trình thủy phân mẫu
26
3.4
3.5
Ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình thủy phân mẫu
Ảnh hưởng của nồng độ KOH trong quá trình xử lý mẫu:
27
28
3.6
Sự phụ thuộc của diện tích píc với nông độ vitamin A
31
3.7
Sự phụ thuộc của diện tích píc với nông độ vitamin E
32
3.8
Kêt quả kiêm tra đường chuân vitamin A
34
Độ thu hồi của phương pháp cho vitamin A
40
3.15
Độ thu hồi của phương pháp cho vitamin E
41
3.11
3.16
Ket quả phân tích mẫu sữa trên hệ thống HPLC ban đầu
42
3.17
Kết quả phân tích mẫu sữa trên hệ thống thiết bị khác
42
TT
Tên hình
Trang
3.6
Sự phụ thuộc của diện tích píc với nông độ vitamin A
31
3.7
Đường chuân biêu diên sự phụ thuộc tuyên tính
32
3.8
Sự phụ thuộc của diện tích píc với nông độ vitamin E
32
3.9
Đường chuân biêu diên sự phụ thuộc tuyên tính
33
3.10
Săc đô vitamin A tại nông độ 0,016 ppm
36
mạch. Nsoài ra, vitamin E còn có thể kích thích hệ thống miễn dịch duy trì hoạt
động bình thường. Thiếu vitamin E có thể gây bệnh thần kinh ngoại biên, mất điều
hòa, viêm võng mạc. Ngược lại, nếu dùng vitamin E liều cao (trên 3000 IU mỗi
ngày) có thể gây rối loạn tiêu hóa (buồn nôn, đầy hơi, đi lỏng, viêm ruột hoại tử).
Có rất nhiều nguồn thực phẩm cung cap vitamin A và E cho cơ thế. Tron^
đó, các loại thực phẩm có nguồn sốc động vật thườne phong phú hơn các loại thực
phẩm có nguồn gốc thực vật. Trong các loại thực phẩm trên thì sữa là nguồn cung
cấp vitamin A và E quan trọng. Nhu cầu hàng ngày của con người về các vitamin đã
được Viện hàn lâm khoa học Hoa Kỳ tiêu chuẩn hóa và được FDA (Hoa Kỳ) lấy
làm thông tin để lựa chọn bổ suns vi chất dinh dưỡng hiện nay. Vì vậy các công ty
sản xuất sữa thường lấy đó để bổ sung lượng vitamin A và E cần thiết trong các sản
phẩm sữa. Tuy nhiên, vì vitamin A và E không bền vững, dễ bị phân hủy nên trong
các quá trình sản xuất, tồn trữ và phân phối, có một sổ nguyên nhân làm cho lượng
hai vitamin trên trong sản phẩm không còn đúng như với công bố ban đầu của nhà
sản xuất. Điều này ảnh hưởng đến lượng vitamin A và E bổ sung dẫn tới ảnh hưởna
tới sức khỏe neười tiêu dùng.
Sữa là loại thức uống đặc biệt, cung cấp nhiều chất dinh dưỡng và có mùi vị
thơm ngon. Sữa được sử dụns rộng rãi khắp thế giới. Đời sổng neày một nâng cao,
uống sữa cũng dần trở thành một thói quen hàne neày của người dân. Nhu cầu về
sữa càng đặc biệt quan trọng đối với trẻ nhỏ, phụ nữ có thai và cho con bú, người
tập thể thao hoặc lao động nặne, người bị stress, người tiếp xúc với môi trường ô
nhiễm, người suy nhược cơ thể hay bị bệnh. Vì vậy, chất lượng các sản phấm sữa
phải đạt yêu cầu đổi với các đối tượng sử dụng như công bố của nhà sản xuất.
Hiện nay, tại Việt Nam. chưa có nhiều phương pháp định lượng vitamin A và
E trong lĩnh vực kiểm nghiệm thực phẩm nói chung và trong sữa nói riêng. Nhu cầu
đặt ra là phải có được một phương pháp đáp ứng yêu cầu thực tế. Nó phải có độ
chính xác cao, đơn giản, dễ áp dụns, và phải phù họp với các điều kiện hiện có của
các phòng thí nghiệm trone nước. Mục đích của đề tài này là góp phần kiểm soát
tính sinh học tương tự nhau. Tất cả các dạng vitamin A đều có vòng Beta-ionon và
Sắn vào nó là chuỗi isoprenoid. Trong thực phẩm có nguồn gốc độns vật, dạng
chính của vitamin A là retinol, nhưng cũng có thể tồn tại dưới dạng aldehyd là
retinal, hay dạng acid là acid retinoic. Các tiền chất của vitamin A tồn tại trong thực
phẩm nguồn gốc thực vật gồm 3 loại là a,p.y - caroten có trong một vài loài cây
thuộc họ hoa tán. Chất thường được gọi là vitamin A là Retinol, có phân tử gam là
286,45. Vì Retinol có hoạt tính sinh học quan trọng nhất và là dạng chủ yếu chiếm
đa số nên trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ nghiên cứu về Retinol (sau đây gọi
tắt là vitamin A) [2],
Vitamin A là những tinh thể hoặc bản mỏng màu vàng nhạt, nóng chảy ở
63°C-64°C, không tan trong nước, tan trong methanol, ethanol và một số dung môi
hữu cơ. Do có hệ nối đôi liên hợp nên vitamin A dễ bị oxy hóa, không bền vững
trong không khí, ánh sáng, nhiệt độ cao hay khi có mặt của các chất béo dễ bị hoặc
đã bị oxy hóa. Vì vậy, phải bảo quản vitamin A ở chỗ nhiệt độ thấp, tránh ánh sáng,
trong chai lọ thủy tinh màu vàne, bao bì kín, thêm chất chống oxy hóa. Đe điều chế
Vitamin A, có thể phân lập từ dầu 2 an cá hoặc tổng họp hóa học [3],
Hình 1.1: Công thức cấu tạo của Retinol
*
Vitamin E:
Vitamin E là một nhóm các họp chất thuộc dẫn chat tocopherol hoặc
tocotrienol có tác dụng dược lí giống nhau. Các vitamin E và ester của chúng là chất
lỏng sánh như dầu, màu vàng sáne, hầu như không mùi, khône vị; không tan trong
nước, tan trong ethanol, các dung môi hữu cơ và các dầu béo (riêng dạng muối
succinat là bột màu trắng). Do trong phân tử có các carbon bất đối nên vitamin E có
các done phân quang học. Các đồng phân hữu truyền (dạna d) thường có hoạt tính
phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ nghiên cứu dạng đồng phân a-Tocopherol. v ề
điều chế, có thể phân lập từ các nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên dưới dạng dung
dịch đậm đặc. Ngày nay, vitamin E được điều chế chủ yểu bằng phương pháp tổng
họp hóa học [1], [18].
1.1.2. Giá tri dinh dưỡng của vitamin A và E:
*
Vai trò của vitamin A trong cơ thế:
Vitamin A có nhiều tác dụng quan trong trên nhiều bộ phận của cơ thế[l][3]:
- Thị giác: mắt được cấu tạo bởi các sắc tố có chứa vitamin A. Nó được hấp thụ bởi
luồng thần kinh được vận chuyển nhờ dây thần kinh thị eiác. Trong bóng tối, retinal
kết hợp với opsin (là một protein) để cho rhodopsin là sắc tố nhạy cảm với ánh sáng
ở võng mạc mắt, giúp võng mạc nhận được các hình ảnh trong điều kiện thiếu ánh
sáng. Sau đó, khi ra sáng rhodopsin lại bị phân huỷ cho opsin và trans-retinal, rồi
trans-retinal vào máu đế cho trở lại cis-retinol. Vì vậy sự có mặt của vitamin A là
một phần không thể thiểu đối với việc đảm bảo thị giác của con người.
- Các mô: Vitamin A kích thích quá trình phát triển và phân chia tể bào biểu mô;
rất cần thiết cho việc phát triển của xương, sự sinh sản và phát triển của bào thai.
Vitamin A mà chủ yếu là acid retinoic còn là chất cần thiết cho hoạt động của biếu
mô, làm bài tiết chất nhày và ức chế sự sừng hóa. Nó cũng ảnh hưởng đặc biệt đến
da, kích thích sự liền sẹo và phòng ngừa các chứng bệnh của da như trứng cá.
- Sự sinh trưởng: do vai trò quan trọng trong sự phát triển tế bào của con người,
nên vitamin A là yếu tổ khôns thể thiếu đối với sự phát triển của phôi thai và trẻ
em. Vitamin A còn có vai trò đối với sự phát triển của xương, thiếu vitamin A làm
xươns mềm và mảnh hơn bình thườna, quá trình vôi hoá bị rôi loạn.
- Hệ thống miễn dịch: do các hoạt động đặc hiệu lên các tế bào của cơ the, vitamin
A tham gia tích cực vào sức chống chịu bệnh tật của con người.
sự phát triển của thai nhi và siảm được tỷ lệ sẩy thai hoặc sinh non do đã trung hòa
hoặc làm mất hiệu lực của gốc tự do trong cơ thể. Ngoài ra vitamin E còn sóp phần
cải thiện tình dục, giúp noãn (trứna) và tinh trùng phát triển tốt hơn, nâng cao kết
quả điều trị vô sinh.
- Khi cơ thể bị thiểu vitamin E có thể gặp các triệu chứng như: Rối loạn thần kinh,
yếu cơ, rung giật nhãn cầu, giảm nhạy cảm về xúc giác, dễ tốn thương ở da, dễ vỡ
hồng cầu, dễ gây tổn thương cơ quan sinh dục, có thể gây vô sinh [3], [12],
Đơn vị hoạt tính của vitamin E được tính theo quy ước của đơn vị quốc tế
(IU). Đây cũne là cơ sở để xác định lượng vitamin E cần thiết bổ xung hàng ngày.
Theo quy ước thì 1 m2 a-Tocopherol tương đương 1,1 IU và 1 mg a-Tocopheryl
acetat tương đương 1 IU. Nhu cầu hàng ngày được khuyến cáo (RDI) về vitamin E
theo nhu cầu tham chiếu ăn uống của Australia là: khoảng 10 miligam a-Tocopherol
đối với nam giới và khoảng 7 miligam a-Tocopherol đối với nữ giới. Với một số đối
tượng sử dụne đặc biệt hơn, Viện hàn lâm khoa học Mỹ và FDA nghiên cứu và ban
hành thành tiêu chuẩn [2].
Bàng 1.1: Liều khuyến cáo bổ sung vitamin hàng ngày
Vitamin
Dưói 1 tuổi
Từ 1-4 tuổi
Trên 4 tuổi
Có thai
A (IU)
1,500
nhiều trong thực phẩm ra khỏi mẫu phân tích. Xà phòns hóa cũng là phương pháp
đơn giản và kinh tế để thủy phân một lượng lớn các chất cần phân tích. Phản ứng
thủy phân (hydrolysis) sẽ tấn công vào các vị trí có liên kết ester và giải phóng các
acid béo ra khỏi các glycerol bán glycerid, các phospholipid, và các ester sterol. Các
ester của vitamin A và vitamin E được thủy phân tạo thành các dạng alcol tương
ứng của chúng. Phản ứng cũng bẻ gãy một lượng lớn các sắc tố và các hợp chất
khác. Điều này khá quan trọng vì nó làm giảm các tạp chất trên trong mẫu phân
tích. Các sản phẩm thực phẩm có thể được xà phòng hóa trực tiếp. Tuy nhiên, cũng
có thể cần phải xử lý mẫu phân tích trước khi đem xà phòng hóa và chiết xuất. Các
mẫu thực phẩm có nhiều tinh bột có thể được thủy phân trước với enzym
takadiastase để tránh tạo vón cục trong dung dịch thủy phân [11], [21],
Thông thường, quá trình xà phòng hóa được thực hiện bằng cách lắc mẫu
phân tích đã được xử lý sơ bộ phù hợp với từng đối tượne mẫu với dung dịch KOH
trong ethanol và có thêm chất chống oxy hóa trong 30 phút. Nên thổi khí nitơ vào
trong bình thủy phân tại thời điếm bắt đầu và khi kết thúc quá trình thủy phân.
Không cần thiết phải thổi khí nitơ trong quá trình lắc bởi vì lúc đó đã bão hòa alcol,
ngăn cản sự oxy hóa của không khí. Lượng dung dịch KOH trong ethanol thì phụ
thuộc vào lượng chất béo có chứa trong mẫu. Nói chune, thông thường cần phải sử
dụng 5 ml dung dịch KOH 60% trong nước và 15 ml ethanol cho 1 gam chất béo.
Các chất chống oxy hóa thường được sử dụng trong quá trình xử lý mẫu là:
pyrogallol, BHA (butyl hydroxy anison), BHT (butyl hydroxy toluen), TBHQ (tert
butyl hydroxyquinon). Tuy nhiên, pyrogallol thường bị biến đổi trong quá trình thủy
phân tạo thành pyrogallin. Sản phẩm này cũns được chiết đồng thời vào các dung
môi hữu cơ cùng với các phần không bị xà phòng hóa. Điều này có thể làm tăng
nhiễu đường nền trong các phương pháp HPLC sử dụng detector huỳnh quang.
Retinol thì khá ổn định trong các dung dịch kiềm và có nshiên cứu cho thấy
nó ổn định ít nhất 1 tuần trong duns dịch KOH trong ethanol có chứa pyrogallol.
Thông thường, quá trình xà phòng hóa diễn ra tại nhiệt độ sôi của hỗn hợp thủy
quan trọng là phải đảm bảo tỉ lệ cân bàng tối ưu của nước và ethanol trong quá trình
chiết. Để chiết hiệu quả retinol và các tocopherol khi sử dụng hexan, nồng độ
ethanol phải dưới 40%. Các chất bị xà phòng hóa được chiết ra khỏi hỗn họp sau
khi thủy phân không đáng kể. Chúng chuyển sang lóp hexan rất ít nhưng một lượng
lớn của chúng có các đặc tính sơ nước (hydrophobic) so với hỗn hợp ethanol-nước
và sự cho thêm nước vào sẽ ít ảnh hưởng đến quá trình chiết tách. Bởi vậy, cần phải
nghiên cứu để số lần chiết là ít nhất và độ thu hồi của các vitamin không bị ảnh
hưởng bởi lượng chất béo có chứa trong mẫu thực phẩm cần phân tích [26], [28]..
Vitamin A và vitamin E là các họp chất rất ít phân cực nên sẽ được chiết ra
khỏi hỗn họp sau khi thủy phân bằng cách sử dụng các dung môi ít phân cực như
diethyl ether, ether dầu hỏa/diethyl ether (1:1), ether dầu hỏa/diisopropylether (3:1),
10% ethyl acetat trong hexan và hexan/diethyl ether (85:15). Việc rửa dịch chiết
diethyl ether được thực hiện nhiều lần với nước cất để loại bỏ phần kiềm còn dư sau
quá trình xà phòng hóa. Các nhũ tương có thể được tạo ra khi các chất đã bị xà
phòng hóa, nước, và các dung môi sơ nước được lắc trộn với nhau khi khône có mặt
của ethanol. Vì vậy, giai đoạn rửa cần phải được thực hiện lắc xoáy nhẹ nhàng.
Dịch sau khi chiết được loại bỏ nước bằng cách cho qua natri sulfat khan và được
làm khô cẩn thận bằng hệ thống cất quay chân không. Trong quá trình cất quay,
bình cất quay luôn được làm đầy bởi các dung môi cất quay. Tuy vậy, giai đoạn
cuối nên cho dòng khí nitơ thổi vào. Cặn còn lại có thể được hòa tan trong một dung
môi thích họp để chuyển sang quá trình làm sạch mẫu tiếp theo hoặc có thế tiến
hành phân tích ngay trên hệ thống HPLC [29].
* Kết
tủa các sterol:
Phần không bị xà phòng hóa trong sữa nói chung thường chiếm khoảng 0,3-
0,45% khối lượng của tổng lượng chất béo và chiếm chủ yếu trong số đó là các
sterol gồm có: đa số là cholesterol và các sterol khác. Phần lớn chúng có thế được
hiện các vitamin khá chọn lọc, quá trình xử lý mẫu không quá phức tạp, và ít khi
cần dẫn xuất hóa. Do không phá hủy các chất tự nhiên sau khi tách nên HPLC còn
được sử dụng như phương pháp điều chế và định lượng. Với những lý do trên, so
với những kỹ thuật khác, đế xác định các vitamin tan trong dầu nói chung với một
độ chính xác và độ lặp lại chấp nhận được thì HPLC là một phương pháp được lựa
chọn hiện nay [12], [18], [25].
Trong số các dạng retinoid thông thường được tìm thấy trong thực phẩm nói
chung, chỉ có dạng all-trans-retinol, một lượng nhỏ 13-cis-retinol và dạng ester của
chúns thì thường có mặt với lượng đáng kể. Trong thực phẩm bo suns với dạng
retinyl acetat, HPLC thuận tiện cho việc tách phân biệt phần bổ sung và phần có ban
đầu (retinyl palmitat), đồng thời xác định được tổng lượng vitamin A có trong mẫu
thực phẩm. Trong phân tích các loại rau quả, HPLC có thể tách được bốn dạng
provitamin A thường gặp nhất (đó là các carotenoid: a-, Ị3-, y-caroten và P'
cryptoxanthin), thậm chí có thể tách được cả dạng đồng phân cis và trans của mỗi
chất đó. Các carotenoid hoạt tính cũne có thể tách ra khỏi các carotenoid bất hoạt.
Hàm lượne ban đầu của vitamin E trong những thực phẩm có chất béo
thường khoảng mg/1002, trong khi đó hàm lượng ban đầu của vitamin A chỉ khoảng
mcg/100a. Vì vậy, trong thực tế, vitamin E có thể được xác định bằng HPLC mà
không cần tinh chế mẫu kéo dài. v ề mục đích dinh dưỡng, giá trị của vitamin E có
thể được đánh giá bàng cách sử dụng các hệ số thích họp dựa trên cơ sở tương quan
với hoạt tính sinh học. Trong các thực phẩm bổ sung, HPLC cũng thường có khả
năng xác định đồng thời cả a-tocopherol acetat bổ sung và tổng lượng a-tocopherol.
*
Sắc ký khí lỏng (Gas-liquid chromatographic methods-GLC) [27]:
Một số dạng sắc ký thì bắt buộc sử dụng để xác định các các vitamin tan
trong dầu nói chung trong thực phẩm, trong đó có sắc ký lóp mỏng, sắc ký khí lỏng
định đồng thời hai vitamin A và vitamin E trong thực phẩm. Quy trình phân tích
gồm có các giai đoạn sau: loại protein bang ethanol, thủy phân bằng dung dịch
KOH 3,6M trong một bể runs; siêu âm tại 65°c với thời gian là 30 phút. Sau đó
thêm đệm phosphat và chiết 3 lần bằng dung môi n-Hexan. Hệ dung môi pha động
gồm có acetonitril/methanol/H20 thay đổi theo gradient, tốc độ dòng cũng được
thay đổi theo thời gian phân tích, sử dụng cột sắc ký Cg (25cm
X
0,46cm; 5|im).
Bước sóng xác định vitamin A là 325nm và vitamin E là 292nm. Tuy nhiên, thời
gian cho một lần phân tích khá dài (khoảng 30 phút) [24],
Khi phân tích xác định vitamin A và E trong các loại sữa dành cho trẻ nhỏ,
Soledad Albala-Hurtado và các cộng sự cũng sử dụng kỹ thuật sắc ký lỏng hiệu
năng cao pha đảo với cột sắc ký C]8 (25cm X 0,46cm; 5|iin). nhưng chỉ tiến hành
thủy phân mẫu phân tích tại nhiệt độ phòng và sau đó chiết bằng dung môi n-Hexan.
Pha động làm việc theo
chế
độ
isocratic với hỗn họp
dung môi là
pha thường (normal phase) và sắc ký pha đảo (reverse phase) đều có thể được sử
dụng cho phân tích vitamin A và vitamin E. Bản thân khi phân tích từng vitamin
hoặc kết họp cả hai vitamin có thể chạy sắc ký đẳng dòng (isocratic). Khi tiến hành
phân tích HPLC đồng thời hỗn họp nhiều vitamin thì phức tạp hơn, có thế cần phải
có một chương trình rửa giải gradient. Sự lựa chọn chế độ sắc ký nào sẽ phụ thuộc
vào bản chất của mẫu cần phân tích. Trong các kỹ thuật xác định từng loại vitamin
A hay vitamin E riêng lẻ cũng đều phải tiến hành các giai đoạn thủy phân mẫu,
chiết tách chất cần phân tích ra khỏi mẫu thử sau khi thủy phân, làm sạch mẫu rồi
thực hiện phân tích trên hệ thống HPLC. Cả hai loại vitamin A và E đều có các liên
kết đôi trong công thức cấu tạo, bởi vậy chúng có khả năng hấp thụ bức xạ tử ngoại.
Do đó có thể sử dụng detector u v để phát hiện hai vitamin này.
Với những phân tích và nhận định ở trên, chúng tôi thấy rằng khả năng xây
dựng một phương pháp định lượng được đồng thời hai vitamin A và E là hoàn toàn
có thể. Nó giúp giảm bớt được thời gian kiểm nghiệm mẫu, tiết kiệm được dung
môi và hóa chất phân tích. Phương pháp này có thể làm tăng hiệu quả kinh tế (đặc
biệt trong thời đại hiện nay), tăng năng suất lao động mà vẫn đảm bảo được chât
lượng công việc. Ngoài ra, xây dựng được một phương pháp xác định đồng thời hai
vitamin A và E trong các mẫu sữa bằng HPLC với các bước thực hiện nhanh gọn,
kỹ thuật xử lý mẫu đơn giản, dễ thực hiện sẽ tạo thuận lợi cho việc áp dụng phương
pháp này tại các phòng thí nghiệm khác trong cả nước, đặc biệt là các phòng thí
nghiệm tuyến dưới, phục vụ tốt công tác kiểm nghiệm thực phẩm nói chung.
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ
PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN c ứ u
2.1. Đ ối tượng nghiên cứu:
2.1.1. Các loai sữa:
Sữa là nguồn thực phấm rất quan trọng. Nó không chỉ chứa nhiều chất đạm,