Theo dõi thi hành pháp luật từ thực tiễn tỉnh Gia Lai (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
=============

NGUYỄN NGỌC NGUYÊN

THEO DÕI THI HÀNH PHÁP LUẬT TỪ THỰC TIỄN
TỈNH GIA LAI

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Hà Nội 2019


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
=============

NGUYỄN NGỌC NGUYÊN

THEO DÕI THI HÀNH PHÁP LUẬT TỪ THỰC TIỄN
TỈNH GIA LAI

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số:

8 38 01 02

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn: GS. TS. Thái Vĩnh Thắng

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

3

5

Phạm vi nghiên cứu và những đóng góp của luận văn

3

6

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

3

7

Kết cấu của luận văn

4

Chương 1
Những vấn đề lý luận và pháp luật về công tác theo dõi thi hành pháp luật
1.1 Cơ sở lý luận và pháp lý cho việc thực hiện theo dõi thi hành pháp luật

5

1.2 Quy định pháp luật hiện hành về theo dõi thi hành pháp luật


Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
theo dõi thi hành pháp luật ở địa phương
3.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả theo dõi thi hành pháp luật ở địa phương

70

3.2 Các giải pháp hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động theo dõi thi
hành pháp luật ở địa phương

75

KẾT LUẬN

81

Danh mục tài liệu tham khảo

5

35

70

83


Lời cam kết
Tôi là: Nguyễn Ngọc Nguyên, hiện đang công tác tại Văn phòng Ủy ban nhân
dân tỉnh Gia Lai cam kết: Đề tài Theo dõi thi hành pháp luật từ thực tiễn tỉnh Gia Lai
là một công trình nghiên cứu độc lập không có sự sao chép của người khác. Trong

2. Chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương ở tỉnh,
huyện, xã.
1


3. Chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa phương ở thành phố
trực thuộc trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố
trực thuộc trung ương, phường, thị trấn” [10, Điều 4] và quy định các lĩnh vực thuộc
thẩm quyền giải quyết của chính quyền địa phương trong các lĩnh vực: Kinh tế, văn
hóa, quốc phòng, an ninh chính trị, nông nghiệp, lâm nghiệp,… các lĩnh vực trên qua
thực hiện của Chính quyền địa phương thể hiện qua công việc cụ thể:
Chấp hành chính sách, pháp luật và tổ chức triển khai thi hành trên địa bàn thể
hiện qua: Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật;
và giải quyết các khiếu nại, tố cáo trong việc thi hành chính sách pháp luật trên địa
bàn địa phương.
Qua quá trình hình thành, lịch sử phát triển của Chính quyền địa phương qua
các thời kỳ; thực trạng hoạt động của chính quyền địa phương trong việc đảm bảo
thi hành Hiến pháp, pháp luật ở địa phương, trên cơ sở đó sẽ đưa ra giải pháp cho
việc triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ của Chính quyền địa phương trong việc
thực hiện Hiến pháp, pháp luật. Tuy nhiên, trong thực tiễn tổ chức công tác theo dõi
thi hành pháp luật ở địa phương vẫn còn những nội dung cần hoàn thiện để đưa
pháp luật vào cuộc sống, đó là lý do tôi chọn luận văn “Theo dõi thi hành pháp
luật từ thực tiễn tỉnh Gia Lai” làm luận văn thạc sỹ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Công tác theo dõi thi hành pháp luật là một nội dung mới trong nhiệm vụ của cơ
quan nhà nước, từ việc triển khai cho đến tổ chức thực hiện vẫn còn nhiều lúng túng,
nên việc nghiên cứu đối với nội dung này chưa thể hiện được chiều sâu dưới dạng đề
tài, luận văn mà chỉ mới ở dạng hội thảo, bài viết. Nội dung theo dõi thi hành pháp luật
đã có một số bài viết như: Bàn về cơ chế phối hợp theo dõi thi hành pháp luật của
Nguyễn Quốc Hoàn; Huy động sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động

- Đưa ra một số giải pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác theo dõi thi hành
pháp luật ở địa phương.
Luận văn nghiên cứu công tác theo dõi thi hành pháp luật và vai của Ủy ban
nhân dân tỉnh Gia Lai trong tổ chức theo dõi thi hành pháp luật ở địa phương.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn công tác theo dõi thi hành pháp

3


luật ở địa phương. Qua đó, có thể làm tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu vấn đề
nâng cao công tác theo dõi thi hành pháp luật ở Gia Lai và địa phương khác.
7. Kết cấu của luận văn
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, Luận văn đã xác định mục đích của việc nghiên
cứu. Để phù hợp với mục đích trên luận văn có kết cấu như sau:
Luận văn gồm các phần mở đầu; kết luận; danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được chia làm 3 Chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật ở
tỉnh Gia Lai;
Chương 2: Thực trạng hoạt động theo dõi thi hành pháp luật ở tỉnh Gia Lai;
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động theo dõi
thi hành pháp luật ở địa phương.

4


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TÁC THEO DÕI
THI HÀNH PHÁP LUẬT
1.1 Cơ sở lý luận và pháp lý cho việc thực hiện theo dõi thi hành pháp luật

sát thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Tổ chức thực hiện Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số
51/2001/QH10, của Quốc hội khóa X chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính
phủ đã được điều chỉnh để bảo đảm các nhiệm vụ quản lý nhà nước, trong đó có các
nhiệm vụ liên quan đến công tác thi hành pháp luật và đã được quy định tại Luật tổ
chức Chính phủ [8], các nghị định của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu
tổ chức của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, văn bản về cải
cách và kiểm soát thủ tục hành chính, về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp
luật và tại các các văn bản quy phạm pháp luật khác cơ liên quan. Cụ thể, từ năm
2003, chính phủ đã giao Bộ Tư pháp nhiệm vụ kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm
pháp luật (Nghị định số 135/2003/NĐ-CP); từ năm 2008 Chính phủ tiếp tục giao
cho Bộ tư pháp chức năng mới, đó là quản lý nhà nước về công tác thi hành pháp
luật (Nghị định số 93/2008/NĐ-CP). Bên cạnh đó, Nghị định số 24/2009/NĐ-CP
ngày 05/3/2009 quy định chi tiết về biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy
phạm pháp luật năm 2008 cũng quy định trách nhiệm của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ trong việc đánh giá tình hình thi hành các luật, pháp lệnh,
nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ về ngành, lĩnh vực do mình phụ
trách, gửi Bộ Tư pháp để tổng hợp, trình Chính phủ.
Tuy nhiên, các văn bản nêu trên mới chỉ dừng lại ở việc giao nhiệm vụ cho Bộ
Tư pháp và các bộ, ngành, địa phương trong việc bảo đảm thi hành Hiến pháp, pháp
luật nói chung. Xét về tổng thể, vẫn chưa có một cơ chế hợp lý, đầy đủ, toàn diện để
Chính phủ đánh giá tình hình tổ chức thi hành và áp dụng pháp luật của các cơ quan
quản lý nhà nước; việc chấp hành, tuân thủ pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
khắc phục, xử lý những hạn chế, vướng mắc và những vấn đề mới phát sinh trong
thực tiễn thi hành nhằm bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách đầy đủ,
nghiêm chỉnh, thống nhất, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và ngược lại để góp
phần hoàn thiện hệ thống pháp luật. Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, Nhà
6





Căn cứ Nghị định số 93/2008/NĐ-CP và Nghị định số 16/2009/NĐ-CP, Bộ Tư
pháp đã ban hành Quyết định số 2101/QĐ-BTP quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật. Theo
đó, Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật được xác định là đơn vị thuộc Bộ
Tư pháp, có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về thi hành pháp luật. Thành lập Phòng Công tác thi hành pháp luật thuộc Vụ,
là đơn vị trực tiếp giúp Bộ trưởng triển khai thực hiện nhiệm vụ này. Ngày
28/4/2009, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch số
01/2009/TTLT-BTP-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
của Sở Tư pháp thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc Uỷ ban nhân
dân cấp huyện và công tác tư pháp của Uỷ ban nhân dân cấp xã. Theo đó, Sở Tư
pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, tham mưu, giúp Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thi hành văn bản
quy phạm pháp luật. Về mặt tổ chức, trong cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp có thể
thành lập các phòng theo các lĩnh vực: xây dựng và thi hành văn bản quy phạm
pháp luật; kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; hành
chính tư pháp; bổ trợ tư pháp; quản lý luật sư; các lĩnh vực khác. Phòng Tư pháp là
cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, tham mưu, giúp Ủy ban
nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về, công tác thi hành văn
bản quy phạm pháp luật. Công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã có nhiệm vụ theo dõi,
báo cáo tình hình thi hành văn bản quy phạm pháp luật, phát hiện, đề xuất biện pháp
giải quyết những khó khăn vướng mắc trong thi hành văn bản quy phạm pháp luật ở
cấp xã với Phòng Tư pháp cấp huyện. Đặc biệt, để đảm bảo tính đồng bộ của hệ
thống các cơ quan trong ngành Tư pháp, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các
Bộ, cơ quan ngang Bộ xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định số
55/2011/NĐ-CP ngày 04 tháng 7 năm 2011 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và tổ chức bộ máy của các tổ chức pháp chế, theo đó giao các tổ chức pháp
chế có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ

dõi, kiểm tra, đánh giá việc thi hành pháp luật. Thông qua hoạt động theo dõi thi
hành pháp luật, các cơ quan, tổ chức, cá nhân sẽ thực hiện các giải pháp khắc phục,
tháo gỡ các vướng mắc, bất cập trong việc thi hành pháp luật.
Có thể nói, theo dõi thi hành pháp luật là một khâu của chu trình tổ chức thi

9


hành pháp luật, thực hiện chức năng xem xét, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật
nhằm mục đích nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp
luật, đồng thời là một trong những công cụ, phương tiện hữu hiệu thực hiện giám
sát, kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm cho việc thi hành pháp luật được thực
hiện nghiêm minh, triệt để và chính xác.
Xuất phát từ phân tích trên, có thể hiểu theo dõi thi hành pháp luật là hoạt động
xem xét, đánh giá của các cơ quan, tổ chức và cá nhân đối với quá trình tổ chức thi
hành, đưa pháp luật vào thực hiện trong đời sống xã hội của các cơ quan nhà nước
và người có thẩm quyền. Qua đó, phát hiện những vướng mắc, bất cập phát sinh
trong thực tiễn thi hành pháp luật và kiến nghị các giải pháp khắc phục, tháo gỡ để
nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo trật
tự kỷ cương pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý nhà
nước và xã hội.
1.1.2 Cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật
* Khái niệm của cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật. Theo từ điển tiếng
Việt [2] (Viện Ngôn ngữ học 1996) thì “cơ chế” là cách thức theo đó một quá trình
thực hiện”, “tổ chức” được hiểu là “làm những gì cần thiết để tiến hành hoạt động
nào đó để có được hiệu quả tốt nhất”. Từ cách hiểu này, cơ chế tổ chức theo dõi thi
hành pháp luật chính là cách thức theo đó quá trình tổ chức theo dõi thi hành pháp
luật được diễn ra trên thực tế. Sự phân tích trên đây về hai khái niệm theo dõi thi
hành pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật có thể cho phép chúng ta không cần
phân biệt cơ chế theo dõi thi hành pháp luật với cơ chế tổ chức thi hành pháp luật.

trị - xã hội, các tổ chức xã hội – nghề nghiệp và công dân đều được Hiến pháp, pháp
luật quy định được tham gia vào hoạt động theo dõi thi hành pháp luật dưới các
hình thức và mức độ khác nhau.
- Cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật luôn đổi mới, linh hoạt đáp ứng
yêu cầu của đời sống chính trị, kinh tế - xã hội. Chủ thể, nội dung, hình thức, quy
trình theo dõi thi hành pháp luật được xác lập bởi pháp luật nên luôn mang tính bắt
buộc, công khai, chính thống và minh bạch, nó đòi hỏi các chủ thể phải tiến hành
thường xuyên, định kỳ, đột xuất tùy theo đối tượng và nội dung theo dõi.
* Các yếu tố cấu thành cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật. Từ khái
niệm đã phân tích trên, cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật được cấu thành

11


bởi các yếu tố sau:
Một là, thể chế theo dõi thi hành pháp luật, bao gồm tổng thể các quy phạm
pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình theo dõi thi hành
pháp luật giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật, được thể hiện trong các văn
bản quy phạm pháp luật có cấp độ hiệu lực pháp lý khác nhau, từ Hiến pháp đến các
đạo luật và văn bản dưới luật.
Thể chế theo dõi thi hành pháp luật thường xác lập, quy định các quyền, nghĩa
vụ của các chủ thể; nội dung, hình thức, phương pháp và trình tự thủ tục theo dõi thi
hành pháp luật; các điều kiện bảo đảm cho việc theo dõi thi hành pháp luật. Ở Việt
Nam hiện nay, Hiến pháp năm 2013 là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý
cao nhất đã có những quy định đặt nền móng cho việc xây dựng và hoàn thiện thể chế
về theo dõi thi hành pháp luật [7, Điều 99]. Bên cạnh những quy định mang tính căn
bản của Hiến pháp năm 2013, hệ thống thể chế pháp luật về theo dõi thi hành pháp
luật hiện nay đang được điều chỉnh bởi các văn bản pháp lý ở tầm nghị định do
Chính phủ ban hành và một số văn bản quy định chi tiết thi hành.
Hai là, thiết chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật là hệ thống các tổ chức

xem xét, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật một cách chính xác, khách quan và
khoa học. Theo dõi thi hành pháp luật, trên phương diện là cơ chế “nhằm xem xét,
đánh giá thực trạng thi hành pháp luật, kiến nghị thực hiện các giải pháp nâng cao
hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật” có vị trí, vai trò rất
lớn trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, phát huy dân chủ, đảm bảo quyền con người, đáp ứng yêu cầu hội nhập Quốc
tế.
* Theo dõi thi hành pháp luật là công cụ, phương tiện giúp nâng cao hiệu quả
thi hành và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết 48-NQ/TW, ngày 24 tháng 5
năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật Việt Nam đến năm 2010 và Nghị quyết 49-NQ/TW, ngày 02 tháng 6 năm 2005
về Chiến lược cải cách tư pháp của Bộ Chính trị là những văn kiện pháp lý nền
tảng, tạo cơ sở cho việc tiếp tục hoàn thiện và nâng cao vai trò của pháp luật trong
điều kiện thực hiện chính sách đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội

13


nhập quốc tế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Một trong những yêu cầu đặt ra
trong việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là Hiến
pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hệ thống pháp luật phù hợp với hiện thực khách
quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội. Nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật là của tất cả
công dân, không loại trừ đối với bất kỳ ai. Hoạt động theo dõi thi hành pháp luật
giúp Nhà nước phát hiện, xử lý những bất cập, tồn tại trong quá trình xây dựng và
tổ chức thực hiện Hiến pháp và pháp luật. Thông qua quá trình theo dõi, đánh giá
việc đưa pháp luật vào thực thi trong đời sống xã hội, các cơ quan nhà nước, tổ
chức, cá nhân, công dân sẽ góp phần tìm ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân

thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước bằng nhiều phương thức khác nhau như
phản ánh tình hình thi hành pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng, gửi
đơn tới cơ quan có thẩm quyền hoặc thực hiện gián tiếp thông qua các tổ chức chính
trị - xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp địa diện cho mình.
* Theo dõi thi hành pháp luật góp phần đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Trước yêu cầu đòi hỏi công cuộc hội nhập quốc tế, theo dõi thi hành pháp luật
là phương thức hiệu quả để xem xét, đánh giá kết quả thi hành pháp luật trong thực
tiễn đời sống xã hội. Thông qua hoạt động theo dõi thi hành pháp luật, các quy định,
các văn bản pháp luật tồn tại nhiều bất cập, hạn chế, khiếm khuyết sẽ được kịp thời
phát hiện để sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới nhằm thiết lập hành lang pháp lý
đầy đủ, phù hợp đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực.
1.2 Quy định pháp luật hiện hành về theo dõi thi hành pháp luật
Theo dõi tình hình thi hành pháp luật là một nhiệm vụ mới, rất quan trọng, có ý
nghĩa xã hội lớn, liên quan đến tổ chức và hoạt động của tất cả các cơ quan, tổ chức
từ Trung ương đến địa phương, nhưng Bộ Tư pháp, các bộ, ngành và địa phương
chưa có nhiều kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện. Chính vì vậy, bên cạnh việc tập
trung vào hoạt động nghiên cứu, xây dựng, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp lý;
giao chức năng, nhiệm vụ cho hệ thống các cơ quan thuộc ngành Tư pháp trong
việc giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện nhiệm vụ
theo dõi tình hình thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ,
ngành, địa phương từng bước nghiên cứu, xây dựng, ban hành và ban hành theo
thẩm quyền các văn bản về thể chế thực hiện công tác này.

15


Ngày 30 tháng 11 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số
1987/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Triển khai thực hiện công tác theo dõi tình hình thi
hành pháp luật”. Đây là nhiệm vụ có tính chất chiến lược, là bước thí điểm, tập
dượt, chuẩn bị cho công tác theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật được

Để có hướng dẫn cụ thể cho các Bộ, ngành, địa phương, đồng thời tiếp tục đẩy
mạnh triển khai và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác theo dõi tình hình thi
hành pháp luật, ngày 15 tháng 5 năm 2014, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành
Thông tư số 14/2014/TT-BTP quy định chi tiết thi hành Nghị định số 59/2012/NĐCP. Văn bản này đã quy định chi tiết, cụ thể về nghiệp vụ theo dõi thi hành pháp
luật theo hướng “cầm tay chỉ việc”, với hy vọng tiếp tục nâng cao hơn nữa chất
lượng, hiệu quả công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật.
Để tổ chức triển khai thực hiện hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật,
Nghị định số 59/2012/NĐ-CP đã quy định về cơ chế, trách nhiệm và việc phối hợp
thực hiện công tác này. Theo quy định tại Điều 4, Điều 5, Điều 6, Điều 16, Điều 17
và Điều 18 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP, công tác theo dõi tình hình thi hành pháp
luật được thực hiện theo 4 cơ chế: (i) theo dõi chung tình hình thi hành pháp luật;
(ii) theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo ngành, lĩnh vực; (iii) theo dõi tình
hình thi hành pháp luật theo địa bàn; (iv) phối hợp và huy động sự tham gia của các
tổ chức, cá nhân trong theo dõi tình hình thi hành pháp luật.
Đối với từng cơ chế thực hiện, Nghị định số 59/2012/NĐ-CP quy định cụ thể
về phạm vi trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong việc chủ trì, tham mưu, phối
hợp thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Theo đó, theo dõi
tình hình thi hành pháp luật được xác định là trách nhiệm của các Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và của Ủy ban nhân dân các cấp; trách nhiệm
của tổ chức pháp chế các Bộ, ngành, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp cấp huyện và
công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã trong việc tham mưu, giúp các Bộ, ngành, Ủy
ban nhân dân các cấp và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
trong việc triển khai thực hiện; trách nhiệm của các đơn vị trực thuộc các Bộ,
ngành, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, công
chức chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm theo dõi thi hành
pháp luật trong lĩnh vực được giao quản lý.
17


1.2.1 Thẩm quyền của các cơ quan Trung ương

hình thi hành pháp luật của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Xử lý
kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Bảo đảm các điều kiện cho việc thực
hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Hằng năm báo cáo Bộ Tư pháp
về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trước ngày 15 tháng 10.
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP, các
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm xây dựng, ban
hành Chỉ tiêu thống kê quốc gia ngành làm cơ sở xem xét, đánh giá tình hình thi
hành pháp luật.
- Trách nhiệm tham mưu thực hiện: Tổ chức pháp chế ở Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, cơ
quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tham mưu, giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ theo dõi tình hình thi hành pháp luật;
Các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tham
mưu, giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ theo
dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực được phân công.
1.2.2 Thẩm quyền của các cơ quan Chính quyền địa phương
- Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân các cấp.
- Phạm vi theo dõi tình hình thi hành pháp luật: Ủy ban nhân dân các cấp theo
dõi tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi quản lý ở địa phương.
- Trách nhiệm của chủ thể theo dõi thi hành pháp luật: Chỉ đạo, hướng dẫn, đôn
đốc, kiểm tra các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp, Ủy ban
nhân dân cấp dưới trong việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp
luật tại địa phương; Ban hành và tổ chức thực hiện Kế hoạch theo dõi tình hình thi
hành pháp luật của Ủy ban nhân dân; Xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp
luật; Bảo đảm các điều kiện cho việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành
pháp luật; Hằng năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Bộ Tư pháp về công tác
theo dõi tình hình thi hành pháp luật trước ngày 15 tháng 10.
Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện việc báo cáo về công tác theo dõi
19


20


quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp với Viện
kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
thành viên, các tổ chức khác có liên quan trong việc thực hiện công tác theo dõi tình
hình thi hành pháp luật”.
1.2.3.2 Sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong theo dõi thi hành pháp luật:
Theo quy định, công tác theo dõi thi hành pháp luật chủ yếu được thực hiện bởi
các cơ quan nhà nước, trong khi đây là công việc phức tạp, có phạm vi rộng với
khối lượng lớn. Điều này đã làm cho mức độ đáp ứng yêu cầu công việc đặt ra còn
nhiều hạn chế và kết quả của công tác theo dõi thi hành pháp luật chưa thật sự bảo
đảm tính khách quan, chính xác. Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả công tác theo
dõi thi hành pháp luật, tại các Điều 4, Điều 6 và Điều 13 Nghị định số 59/2012/NĐCP quy định về sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong theo dõi tình hình thi
hành pháp luật.
1.2.4 Ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm
pháp luật.
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì nội dung theo dõi tình hình thi hành
pháp luật được quy định từ Điều 7 đến Điều 10 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP và
được quy định chi tiết từ Điều 1 đến Điều 5 Thông tư số 14/2014/TT-BTP Quy định
chi tiết thi hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP. “Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên
cơ sở xem xét, đánh giá các nội dung sau đây:
1. Tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm
pháp luật;
2. Tình hình bảo đảm các điều kiện cho thi hành pháp luật;
3. Tình hình tuân thủ pháp luật”. [15, Điều 7]
Nội dung này được thực hiện thông qua các nội dung xem xét, đánh giá tình
hình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết là một nội dung theo dõi tình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status