Quản lý nhà nước về thông tin đối với mạng xã hội tại việt nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN XUÂN THỦY

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THÔNG TIN
ĐỐI VỚI MẠNG XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN XUÂN THỦY

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THÔNG TIN
ĐỐI VỚI MẠNG XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM TUẤN ANH



1.2. Quản lý nhà nước về thông tin đối với mạng xã hội

18

1.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về thông tin đối với mạng
xã hội của một số quốc gia và bài học cho Việt Nam
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ

34

THÔNG TIN ĐỐI VỚI MẠNG XÃ HỘI TẠI VIỆT
NAM HIỆN NAY
2.1. Thực trạng về các mạng xã hội trên thế giới và ở Việt

34

Nam hiện nay
2.2. Thực trạng quản lý nhà nước về thông tin đối với mạng

39

xã hội tại Việt Nam hiện nay
2.3. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về thông tin đối

52

với mạng xã hội tại Việt Nam hiện nay
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG



CNTT

: Công nghệ thông tin

KT-XH

: Kinh tế - xã hội

MXH

: Mạng xã hội

QLNN

: Quản lý nhà nước

TT&TT

: Thông tin và truyền thông

TTĐT

: Thông tin điện tử

HĐND

: Hội đồng nhân dân

UBND

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự tiến bộ vượt bậc của công nghệ thông tin, Internet nói chung và
mạng xã hội (MXH) nói riêng ngày càng phát triển trên phạm vi toàn cầu như
một xu thế tất yếu khách quan. Sau hơn 20 năm ra đời, MXH đã trở thành một
công cụ đặc biệt đáp ứng vô cùng hữu hiệu nhu cầu của con người trong việc
chia sẻ thông tin, kết nối bạn bè mà không còn những trở ngại về khoảng cách
thời gian, không gian địa lý, ngôn ngữ, văn hóa, dân tộc giữa các quốc gia; MXH
đang trở nên phổ biến hơn và ngày càng thu hút lượng người dùng đông đảo trên
khắp thế giới. Ở Việt Nam, theo Trung tâm Internet Việt Nam, tính đến cuối năm
2018, cả nước có trên 60 triệu người sử dụng Internet, gấp đôi số người sử dụng
năm 2011, tương ứng với hơn 60% dân số, đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam
Á, sau Singapore (80%), Malaysia (trên 70%). Chỉ tính 17 năm qua, từ năm 2001
đến năm 2018, số lượng người sử dụng Internet tăng trung bình mỗi năm 1518%. Trong số hơn 60 triệu người Việt Nam sử dụng Internet, có gần 30 triệu
khách hàng của Google, 15 triệu của Yahoo, có trên 48 triệu khách của Facebook
(người dùng có thể sử dụng đồng thời các MXH). Khác với Yahoo, đang có xu
hướng giảm lượng người dùng, riêng Facebook, đã có mức tăng từ 4 triệu người
dùng vào cuối năm 2011 lên trên 35 triệu người dùng cuối vào năm 2016 và đạt
trên 48 triệu người dùng tính đến tháng 4/2018. Cùng với sự phát triển mạng mẽ
của Internet thì xuất hiện ngày càng nhiều các mạng xã hội, công cụ tìm kiếm….
Chúng phát triển nhanh, lan tỏa rộng khắp toàn cầu, điển hình là Facebook,
Twitter, YouTube, Google, Yahoochat, Gmail, Zalo... Riêng Facebook, chỉ sau
mấy năm ra đời, MXH này đã có hơn một tỷ người khắp thế giới sử dụng, hơn
một nửa trong đó sử dụng hàng ngày.Việt Nam xếp thứ 7 trong số các quốc gia
có người dùng, với 59 triệu người dùng vào tháng 7 năm 2018. Bên cạnh đó là
sự xuất hiện vào năm 2005 của MXH chia sẻ video lớn nhất hiện nay - Youtube.
1


Đến nay, với hơn 1 tỷ người dùng, tương đương 1/7 dân số thế giới, MXH chia

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển thông tin quốc gia
đến năm 2025, tầm nhìn 2030 (Quyết định số 1497/QĐ-TTg ngày 08/11/2018). Đây
là một trong những căn cứ pháp lý quan trọng nhằm định hướng cho hoạt động phát
triển và quản lý thông tin trên môi trường Internet nói chung trong đó có MXH.
Bộ TT&TT có văn bản hướng dẫn cụ thể về Quản lý MXH và trang TTĐT
(Thông tư số 09 /2014/TT-BTTT); Nội dung của Thông tư này quy định điều kiện
về quản lý thông tin đối với MXH nêu rõ phải bảo đảm người sử dụng đồng ý
thỏa thuận sử dụng dịch vụ MXH bằng phương thức trực tuyến thì mới có thể sử
dụng được các dịch vụ, tiện ích của MXH; có cơ chế phối hợp để có thể loại bỏ
ngay nội dung vi phạm quy định, chậm nhất sau 03 giờ kể từ khi tự phát hiện
hoặc có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; có biện pháp bảo vệ bí
mật thông tin riêng, thông tin cá nhân của người sử dụng; bảo đảm quyền quyết
định của người sử dụng trong việc cho phép thu thập thông tin cá nhân của mình
hoặc cung cấp cho tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân khác.
Điều kiện về tên miền quy định, đối với tổ chức, doanh nghiệp không phải là
cơ quan báo chí, dãy ký tự tạo nên tên miền không được giống hoặc trùng với tên
cơ quan báo chí; trang thông tin điện tử (TTĐT) tổng hợp và MXH của cùng một
tổ chức, doanh nghiệp không được sử dụng cùng một tên miền. Tên miền phải còn
thời hạn sử dụng ít nhất là 06 tháng tại thời điểm đề nghị cấp phép và phải tuân
thủ theo đúng quy định của Bộ TT&TT quy định về quản lý và sử dụng tài nguyên
Internet.
Tác giả Nguyễn Thị Lan Hường với bài viết: “Quản lý MXH trên hệ thống
phương tiện truyền thông mới ở Việt Nam”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 405,
tháng 3 - 2018. Nội dung của bài viết đề cập đến một số vấn đề đặt ra trong việc
quản lý MXH trong bối cảnh hiện nay.
Tác giả Nguyễn Thế Kỷ với bài viết: “Mạng xã hội nhận diện và định
hướng quản lý”, Tạp chí Thế giới và Việt Nam tháng 6/2018. Nội dung của bài
viết đề cập đến việc phát triển các MXH tại Việt Nam cũng như quan điểm của
3




3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận của hoạt động QLNN về thông tin đối với
MXH; thực trạng công tác QLNN về thông tin về mặt pháp lý và công tác tổ
chức cũng như đánh giá hiệu quả công tác QLNN về thông tin đối với các trang
MXH phổ biến tại nước ta hiện nay. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp cơ
bản tăng cường QLNN về thông tin đối với MXH ở nước ta trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có nhiệm vụ cơ bản sau:
- Thứ nhất, hệ thống hoá, phân tích, bổ sung, hoàn thiện và làm rõ một số
cơ sở lý luận về hoạt động QLNN về thông tin đối với MXH;
- Thứ hai, phân tích thực trạng QLNN về thông tin đối với MXH tại Việt
Nam trong thời gian qua, qua đó đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra những
vấn đề hạn chế, bất cập và nguyên nhân;
- Thứ ba, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác QLNN
về thông tin đối với MXH.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thông tin trên MXH; cách thức nắm bắt, kiểm soát nguồn thông tin truyền
tải trên MXH.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Trong giai đoạn từ năm 1997 đến nay (giai đoạn chính thức
Internet hoạt động tại Việt Nam);
- Về không gian: Tại Việt Nam;
- Về nội dung: Giới hạn trong 5-10 trang MXH phổ biến nhất ở Việt Nam,
bao gồm: facebook, Zalo, Youtube, Instagram, Mocha, Google+, Line… Với
quy mô của đề tài cũng như do tính đặc trưng của nội dung nghiên cứu, tác giả
5



thống pháp luật quốc tế.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện cơ sở khoa học của QLNN về thông
tin đối với MXH trên cơ sở làm rõ một số vấn đề về lý luận, thực tiễn hoạt động
QLNN về thông tin đối với MXH trong bối cảnh bùng nổ thông tin như hiện nay.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các khuyến nghị khoa học của luận văn có thể được vận dụng vào thực tế
QLNN về thông tin đối với MXH phù hợp với tình hình thực tiễn của Việt Nam,
có tính đến trình độ dân trí, phong tục tập quán… góp phần nâng cao hiệu lực,
hiệu quả QLNN đối với thông tin đối với MXH ở Việt Nam hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết.

7


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
THÔNG TIN ĐỐI VỚI MẠNG XÃ HỘI
1.1. Thông tin trên mạng xã hội
1.1.1. Thông tin
1.1.1.1. Khái niệm
Ngày nay, trong đời sống hàng ngày, ở đâu cũng thấy mọi người nói tới
thông tin: thông tin là nguồn lực của sự phát triển; chúng ta đang sống trong thời
đại thông tin; một nền công nghiệp thông tin, một xã hội thông tin đang hình
thành v.v... Quả thật thông tin (Information) là khái niệm cơ bản của khoa học

cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người,
Trong lĩnh vực viễn thông – tin học, thông tin là toàn bộ hoạt động nhằm
mục đích vận chuyển, đảm bảo tính chính xác của các thông điệp.
Trong lĩnh vực truyền thông đại chúng, thông tin hoạt động chủ yếu dựa
trên nội dung của các thông điệp, nhất là khi tiếp xúc với công chúng.
Trong lĩnh vực báo chí, thông tin được dùng để nói đến chất liệu ngôn ngữ
sống, sự miêu tả câu chuyện, bằng chứng, chỉ cần nó thể hiện một nhân tố của
thực tại.
Như vậy, cùng sử dụng thuật ngữ thông tin, nhưng khái niệm thông tin mà
các nhà báo sử dụng hoàn toàn khác với những khái niệm thông tin mà các nhà
kỹ thuật viễn thông xử lý hoặc thông tin mà các nhà tin học chế tạo.
Tóm lại, từ sự phân tích trên, trong luận văn này, tác giả nghiên cứu thống
nhất hiểu thông tin theo nghĩa thông thường, là tất cả các sự kiện, sự việc, ý
tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người. Thông tin hình
thành trong quá trình giao tiếp: một người có thể nhận thông tin trực tiếp từ
người khác thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ
liệu hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh.
9


1.1.1.2. Các thuộc tính của thông tin
Thông tin tiềm tàng khắp nơi trong xã hội. Đó là các nguồn thông tin về lao
động, đất đai, tài nguyên, môi trường; thông tin về các tổ chức và các hoạt động
kinh tế, xã hội; thông tin về khoa học và công nghệ; thông tin về sản xuất, kinh
doanh v.v... Nhưng thông tin chỉ có giá trị và ý nghĩa khi nó được truyền đi, phổ
biến và được sử dụng. Có thể nói bản chất của thông tin nằm trong sự giao lưu
của nó. Nói cách khác thuộc tính cơ bản của thông tin là giao lưu, tương tác.
Để phân biệt nội dung thông tin cần truyền đi và cách thức chuyển giao
thông tin người ta tách nội dung thông tin ra khỏi hình thức biểu diễn nó. Các
hình thức biểu diễn thông tin (các ký hiệu, dấu hiệu, hình ảnh ...) là hữu hạn.

phép người ta có thể lựa chọn một quyết định trong nhiều khả năng cho phép. Có
thể nói thêm rằng giá trị nhận thức của thông tin dự báo liên quan mật thiết đến
tính đúng đắn của việc lựa chọn quyết định.
Trên một ý nghĩa rộng hơn, giá trị của thông tin nằm trong quyền lực tổ
chức của nó. Thông tin phản ánh cái xác định, trật tự trong các mối quan hệ của
tổ chức. Thông tin có giá trị cao cho phép người ta có thể làm môi trường tốt lên
và có thể ra những quyết định đối phó được với sự thay đổi của hoàn cảnh. Tính
chất quyền lực này của thông tin còn nằm trong cách nó có thể tượng trưng cho
những kiến trúc vật chất và tinh thần và được phản ánh trong các định nghĩa của
từ điển về động từ "thông tin": "Thông tin là sắp xếp, hình thành, tạo thành (trí
tuệ và tính cách...) bằng cách truyền đạt kiến thức" (Oxford English Dictionary)
Sự vật luôn vận động, ở trạng thái bất định và chứa đựng tính ngẫu nhiên.
Tăng lượng tin tức về một hiện tượng nào đó cũng là giảm độ chưa biết hoặc độ
bất định của nó, làm tăng khả năng nắm bắt, dự báo độ biến động của nó. Vì vậy
trên quan điểm của lý thuyết thông tin thì thông tin là sự loại trừ tính bất định
của hiện tượng ngẫu nhiên.
Tính trật tự đối lập với cái bất định và ngẫu nhiên là thuộc tính cơ bản của
thông tin mà Lý thuyết thông tin của Claude E. Shanon phát hiện. Với ý nghĩa đó
11


thông tin là lượng đo trật tự nhân tạo chống lại sự hỗn độn của tự nhiên. Chính
điều đó giải thích ý nghĩa to lớn của thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động của
con người.
Hiện nay người ta thừa nhận rằng vật chất, năng lượng, thông tin và bản
sắc văn hoá dân tộc là các nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi
quốc gia. Đặc biệt trong điều kiện cách mạng và công nghệ đang diễn ra với
quy mô lớn như hiện nay, khoa học và công nghệ đang trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp của xã hội, thì thông tin khoa học và công nghệ thật sự trở thành
nguồn lực quan trọng tạo nên những ưu thế kinh tế và chính trị của mỗi nước.

thông tin đa dạng và đóng góp một tỷ trọng đáng kể trong nền kinh tế quốc dân.
Người ta thấy rằng khối lượng và chất lượng của các sản phẩm và dịch vụ thông
tin đã trở thành tiêu chí đánh giá trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước.
1.1.1.3. Vai trò của thông tin
Vai trò của thông tin trong đời sống xã hội là vô cùng quan trọng, nó thúc
đẩy tiến trình phát triển của mọi lĩnh vực. Thông tin làm nên những cuộc cách
mạng mang tính đột phá của nền văn minh nhân loại.
Trong cuộc sống con người, mọi hoạt động đều không thể thiếu vai trò của
thông tin, đây là điều kiện quan trọng để thực hiện hay quyết định một công việc.
Việc chuyển tải và tiếp nhận thông tin một cách nhanh chóng đã thúc đẩy tiến
trình phát triển các hoạt động KT-XH. Các công ty quốc tế hoạt động, cạnh tranh
nhau nhờ nắm bắt và khai thác được khối lượng thông tin nhanh chóng và hữu
ích. Nhờ đó mà người lãnh đạo có thể đưa ra những quyết định kinh doanh đúng
đắn và mang tính sống còn.
Một đất nước văn minh thì nhất định công nghệ thông tin cũng phát triển
tương ứng. Xã hội càng phát triển thì vai trò của thông tin càng trở nên quan
trọng, là yếu tố hàng đầu làm nên sức cạnh tranh kinh tế, chính trị và văn hóa của
một quốc gia. Thông tin là sức mạnh, là tiền bạc vì nó có một vị thế tiên phong
trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay.
Công nghệ thông tin ngày một phát triển với quy mô và tốc độ rộng. Đặc
13


biệt là sự xuất hiện của Internet, điều này đã thực sự làm nên một cuộc cách
mạng thông tin của thời đại chúng ta. Nhờ đó mà con người có thể thông tin và
giao tiếp với nhau vào bất cứ thời điểm nào, có thể tiếp nhận được cả âm thanh
và hình ảnh trong cùng một thời điểm, nó xoá nhoà khái niệm khoảng cách, biên
giới. Vì vậy mà nhiều người cho rằng, thế giới ngày nay là thế giới phẳng. Mọi
diễn tiến sự kiện cuộc sống, mọi tri thức đều được phổ biến ở phạm vi toàn cầu,
rất thuận tiện cho sự tiếp nhận thông tin của con người, xóa nhòa đi mọi khoảng

cần sử dụng. Để hệ thống hoạt động hiệu quả nó phải được tổ chức, quản lý một
cách chặt chẽ, hệ thống thông tin không chỉ là các máy móc, phần mềm, nó còn
14


bao gồm những yếu tố sau:

Hình 1.2: Các yếu tố cấu thành hệ thống thông tin
Như vậy, hệ thống thông tin có 5 thành phần chính:
Thứ nhất, phần cứng (Hardware), là các cơ phận (vật lý), các thiết bị hữu
hình cụ thể của máy tính hay hệ thống máy tính như là màn hình, chuột, bàn
phím, máy in, máy quét, vỏ máy tính, bộ nguồn, bộ vi xử lý CPU, bo mạch chủ,
các loại dây nối, loa, ổ đĩa mềm, ổ đĩa cứng, ổ CDROM, ổ DVD, card đồ
họa VGA, card wifi, card âm thanh, bộ phận tản nhiệt Cooler,...
Thứ hai, phần mềm (Software), là một tập hợp những câu lệnh hoặc chỉ thị
(Instruction) được viết bằng một hoặc nhiều ngôn ngữ lập trình theo một trật tự
xác định, và các dữ liệu hay tài liệu liên quan nhằm tự động thực hiện một số
nhiệm vụ hay chức năng hoặc giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó. Phần mềm
thực hiện các chức năng của nó bằng cách gửi các chỉ thị trực tiếp đến phần
cứng (hay phần cứng máy tính, Computer Hardware) hoặc bằng cách cung cấp
dữ liệu để phục vụ các chương trình hay phần mềm khác. Như vậy, phần mềm là
một khái niệm trừu tượng và nó hoạt động trên hệ thống phần cứng mới có thể
thực thi các “lệnh” hoặc “chỉ thị”.
Thứ ba, dữ liệu (database), là hình thức lưu giữ các sự kiện, ý tưởng, tin tức
15


và các thực thể cần quản lý, dữ liệu tồn tại ở nhiều dạng khác nhau: con số, kí tự,
văn bản, hình ảnh, âm thanh. Dữ liệu của hệ thống thông tin là dự liệu được số
hoá và tổ chức thành các cơ sở dữ liệu và các cơ sở tri thức.

cứu trên quan hệ cá nhân - cộng đồng để tạo thành mạng lưới xã hội. Mạng lưới
xã hội được hiểu là một tập hợp các mối quan hệ giữa các thực thể xã hội. Các
thực thể xã hội này không nhất thiết chỉ là các cá nhân mà còn là các nhóm xã
hội... Khi mạng lưới xã hội này được thiết lập và phát triển thông qua phương
tiện truyền thông Internet, nó được hiểu là MXH ảo.
Như vậy, có thể hiểu MXH là một dịch vụ kết nối các thành viên cùng sở
thích trên Internet lại với nhau, với nhiều mục đích khác nhau. Khi các cá nhân
tham gia vào xã hội ảo thì khoảng cách về không gian địa lý, giới tính, độ tuổi,
thời gian trở nên vô nghĩa. Những người sử dụng MXH được gọi là cư dân
mạng. Nhờ vào những ưu việt này mà MXH đang có tốc độ lan truyền chóng
mặt ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là ở giới trẻ trên toàn thế giới.
Còn ở Việt Nam, theo quy định của pháp luật tại khoản 22 Điều 3 Nghị
định 72/2013/NĐ-CP về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông
tin trên mạng, theo đó: MXH là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng
người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và
trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân,
diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và
các hình thức dịch vụ tương tự khác.
1.1.2.2. Đặc điểm của mạng xã hội
MXH trên Internet bao gồm các đặc điểm nổi bật: tính liên kết cộng đồng,
tính tương tác, khả năng truyền tải và lưu trữ lượng thông tin khổng lồ. Trong đó:
- Tính liên kết cộng đồng: Đây là đặc điểm nổi bật của MXH cho phép mở

rộng phạm vi kết nối giữa người với người trong không gian đa dạng. Người sử
dụng có thể trở thành bạn của nhau thông qua việc gửi liên kết mời kết bạn, mà
không cần gặp gỡ trực tiếp. Việc gửi liên kết này tạo ra một cộng đồng mạng với
số lượng thành viên lớn. Những người chia sẻ cùng một mối quan tâm cũng có thể
tập hợp lại thành các nhóm trên MXH, thường xuyên giao lưu, chia sẻ trên mạng
17


nghĩa hẹp và nghĩa rộng.
Theo nghĩa rộng, QLNN là hoạt động của toàn bộ bộ máy nhà nước từ cơ
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status