i
BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƢ
HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN
o0o
Trí Tuệ Và Phát Triển
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ NGUỒN VỐN VIỆN
TRỢ CHÍNH THỨC (ODA) TẠI VIỆT NAM: THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP.
Giáo viên hướng dẫn : Ths. Bùi Quý Thuấn
Sinh viên thực hiện : Hoàng Quỳnh Trang
Khóa : 1
Ngành : Kinh tế
Chuyên ngành : Kinh tế đối ngoại
Hà Nội, năm 2014
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi,
chưa từng được công bố trên các phương tiện khác. Tất cả các số liệu cũng như
thông tin được sử dụng theo nguồn chính thức của Vụ Kinh tế đối ngoại - Bộ
Kế hoạch và Đầu tư.
Luận văn được hoàn thành tại Học viện Chính sách và Phát triển - năm
2014 dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn và góp ý của các thầy cô giáo trong khoa
Kinh tế đối ngoại thuộc Học viện.
Việt Nam 29
2.3. Tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA tại Việt Nam 31
2
2.3.1. Tình hình thu hút nguồn vốn ODA 31
2.3.2. Tình hình sử dụng nguồn vốn ODA 37
2.4. Vai trò quản lý nhà nước về ODA 40
2.5. Đánh giá hiệu quả các chương trình và quản lý ODA 45
2.5.1. Các thành tựu đạt được 45
2.5.2. Những hạn chế và nguyên nhân 48
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ
QUẢN LÝ NGUỒN VỐN ODA Ở VIỆT NAM 55
3.1. Định hướng thu hút và quản lý nguồn vốn ODA trong thời gian tới 55
3.2. Định hướng trong việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA giai đoạn 2011
– 2015 58
3.2.1. Nhu cầu về nguồn vốn ODA 58
3.2.2. Định hướng thu hút và sử dụng vốn ODA 59
3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao vai trò quản lý nguồn vốn ODA 61
3.3.1.Về quy hoạch và phân bổ nguồn vốn ODA 61
3.3.2. Cơ chế và chính sách quản lý nguồn vốn ODA 62
3.3.3.Vai trò quản lý của nhà nước đối với nguồn vốn ODA của Vụ Kinh tế đối
ngoại 64
3.4. Một số giải pháp quản lý nhà tài trợ cho các cơ quan quản lý Nhà nước về
ODA 67
3.4.1. Theo quan điểm của các chuyên gia 67
3.4.2. Theo quan điểm cá nhân 68
KẾT LUẬN 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
9
4
ODA
Official Development Assitance
Vốn viện trợ phát triển chính thức
1
5
OECD
Orgnaisation for Economic Co-
oporation and Development
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh
tế
16
6
TPP
Trans-Pacific Partnership
Hiệp định đối tác Châu Á – Thái
Bình Dương
40
7
WB
51
5 DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
STT
Tên biểu đồ
Trang
Biểu đồ 1
Tăng trưởng GPD thực của Việt Nam từ 1980 đến
2014
29
Biểu đồ 2
Tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam từ 1993 – 2010
30
Biểu đồ 3
Tổng vốn cam kết, ký kết, giải ngân thời kì 1993-
2012
32
Biểu đồ 4
Cam kết, kí kết và giải ngân vốn ODA thời kì 1993 -
2012
33
Biểu đồ 5
Tỷ trọng ODA vốn vay trong tổng vốn ODA giai đoạn
1993 - 2012
34
Biểu đồ 6
ODA ký kết theo ngành lĩnh vực thời kỳ 1993 - 2012
10 năm. Nền kinh tế đã thu được những kết quả đáng khả quan như tốc độ tăng
trưởng nhanh, lạm phát ở mức có thể kiểm soát được, nhưng để duy trì tốc độ
tăng trưởng như vậy thì nhu cầu về vốn đầu tư là rất lớn. Trong khi đó nền kinh
tế nước ta lại có xuất phát điểm thấp, nghèo nàn, lạc hậu nên nguồn vốn trong
nước không thể đáp ứng hết nhu cầu về vốn đầu tư đó.
Vì vậy, nguồn vốn đầu tư nước ngoài nói chung và nguồn vốn hỗ trợ
phát triển chính thức (ODA) nói riêng là rất quan trọng. Nguồn vốn ODA đã
góp phần đáng kể vào việc đạt được những thành tựu kinh tế xã hội của đất
nước. Để có thể thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn ODA trong phát triển
kinh tế - xã hội cần có những biện pháp cụ thể và toàn diện.
7
Nguồn vốn ODA được chính phủ Việt Nam đánh giá là một trong những
nguồn vốn quan trọng của Ngân sách Nhà nước được sử dụng cho các mục đích
phát triển kinh tế xã hội. Nguồn vốn này đã phần nào đáp ứng nhu cầu bức thiết
về vốn trong công cuộc Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nuớc, góp phần
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm đói nghèo. Tuy nhiên ODA không chỉ là
một khoản cho vay, mà đi kèm với nó là các điều kiện ràng buộc về chính trị,
kinh tế. Sẽ là gánh nặng nợ nần cho các thế hệ sau hoặc phải chịu sự chi phối
của nước ngoài nếu chúng ta không biết cách quản lý và sử dụng ODA. Bởi vậy
quản lý và sử dụng ODA sao cho có hiệu quả, phù hợp với mục tiêu và định
hướng phát triển đất nước là một yêu cầu tất yếu.
Là một sinh viên thuộc ngành Kinh tế đối ngoại của Học viện Chính
sách và phát triển, nhận ra được yêu cầu tất yếu đó, tôi xin phép được nghiên
cứu đề tài: “Vai trò Quản lý Nhà nước về nguồn vốn viện trợ chính thức tại
Việt Nam: Thực trạng và Giải pháp.”.
2. Đối tƣợng và mục đích nghiên cứu
Từ sự cấp thiết trên, tôi chọn đối tượng để nghiên cứu là Nguồn vốn viện
trợ phát triển chính thức ODA để có thể thấy rõ được thực trạng thu hút và sử
dụng nguồn vốn này tại Việt Nam. Qua đó phân tích và nghiên cứu để đưa ra
Do còn hạn chế về nhiều mặt nên có thể bài nghiên cứu này sẽ có ít
nhiều thiếu sót, tôi rất hi vọng nhận được sự góp ý của quý thầy cô cùng các
bạn đọc.
9 CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN VỐN VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN
CHÍNH THỨC (ODA)
1.1. Khái niệm và đặc điểm của ODA
1.1.1. Khái niệm
ODA là tên gọi tắt của ba từ tiếng Anh Official Development Assistance
có nghĩa là Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính
thức.
Năm 1972, tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển đã đưa ra định nghĩa
như sau: "ODA là một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích thúc
đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển. Điều kiện tài
chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại
chiếm ít nhất 25%".
Tại Điều I Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính
thức ban hành ngày 5-8-1977 có nêu khái niệm về ODA như sau :" Hỗ trợ phát
triển chính thức được hiểu là sự hợp tác phát triển giữa nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam với một hay nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, bao gồm các
hình thức sau:
- Hỗ trợ cán cân thanh toán.
- Hỗ trợ theo chương trình.
- Hỗ trợ kỹ thuật.
- Hỗ trợ theo dự án.
ODA bao gồm ODA không hoàn lại và ODA cho vay ưu đãi có yếu tố
không hoàn lại chiếm ít nhất 25% giá trị khoản vay.
đầu tư phát triển và mang tính dài hạn. Tỷ trọng của vốn dài hạn trong tổng số
có thể tăng lên đáng kể nếu triển vọng tăng trưởng lâu dài, đặc biệt là tăng
trưởng xuất khẩu của nước đi vay là khả quan.
Các dòng vốn quốc tế này có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Nếu
một nước kém phát triển không nhận được vốn ODA đủ mức cần thiết để hện
đại hoá các cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, thì cũng khó có thể thu hút được các
nguồn vốn FDI, cũng như vay vốn tín dụng khác để mở rộng kinh doanh.
Nhưng nếu chỉ tìm kiếm các nguồn vốn ODA, mà không tìm cách thu hút các
nguồn vốn FDI và các nguồn vốn tín dụng khác thì chính phủ sẽ không có đủ
thu nhập để trả nợ cho các loại vốn ODA.
1.1.2. Đặc điểm của nguồn vốn ODA
ODA là một giao dịch quốc tế, thể hiện ở chỗ hai bên tham gia giao dịch
này không có cùng quốc tịch. Bên cung cấp thường là các nước phát triển hay
các tổ chức phi chính phủ. Bên tiếp nhận thường là các nước đang phát triển
hay các nước gặp khó khăn về nguồn lực trong việc giải quyết các vấn đề xã
hội, kinh tế hay môi trường.
ODA thường được thực hiện qua hai kênh giao dịch là kênh song
phương và kênh đa phương. Kênh song phương, quốc gia tài trợ cung cấp ODA
trực tiếp cho chính phủ quốc gia được tài trợ. Kênh đa phương , các tổ chức
quốc tế hoạt động nhờ các khoản đóng góp của nhiều nước thành viên cung cấp
ODA cho quốc gia được viện trợ. Đối với các nước thành viên thì đây là cách
cung cấp ODA gián tiếp.
ODA là một giao dịch chính thức. Tính chính thức của nó được thể hiện
ở chỗ giá trị của nguồn ODA là bao nhiêu, mục đích sử dụng là gì phải được sự
chấp thuận và phê chuẩn của chính phủ quốc gia tiếp nhận. Sự đồng ý tiếp nhận
12
đó được thể hiện bằng văn bản, hiệp định, điều ước quốc tế ký kết với nhà tài
trợ.
ODA được cung cấp với mục đích rõ ràng. Mục đích của việc cung cấp
nhà tài trợ không tính lãi hoặc nước đi vay được tính một mức lãi suất đặc biệt.
Loại ODA này thường được nước tiếp nhận đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng
xã hội như xây dựng đường xá, cầu cảng, nhà máy Muốn được nhà tài trợ
đồng ý cung cấp, nước sở tại phải đệ trình các văn bản dự án lên các cơ quan có
thẩm quyền của chính phủ nước tài trợ. Sau khi xem xét khả thi và tính hiệu
quả của dự án, cơ quan này sẽ đệ trình lên chính phủ để phê duyệt. Loại ODA
này chiếm phần lớn khối lượng ODA trên thế giới hiện nay.
Hình thức hỗn hợp: ODA theo hình thức này bao gồm một phần là ODA
không hoàn lại và một phần là ODA vốn vay ưu đãi. Đây là loại ODA được áp
dụng phổ biến trong thời gian gần đây. Loại ODA này được áp dụng nhằm mục
đích nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn này.
Hai là, phân loại theo mục đích:
Hỗ trợ cơ bản: là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng kinh tế - xã hội và môi trường. đây thường là những khoản cho vay
ưu đãi.
Hỗ trợ kỹ thuật: là những nguồn lực dành cho chuyển giao tri thức, công
nghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu tiền đầu
tư phát triển thể chế và nguồn nhân lực Loại hỗ trợ này chủ yếu là viện trợ
không hoàn lại.
Ba là, phân loại theo điều kiện :
14
ODA không ràng buộc: Là việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng
buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng.
ODA có ràng buộc:
Thứ nhất, ràng buộc bởi nguồn sử dụng: Có nghĩa là nguồn ODA được
cung cấp dành để mua sắm hàng hoá, trang thiết bị hay dịch vụ chỉ giới hạn cho
một số công ty do nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát ( đối với viện trợ song
phương ), hoặc công ty của các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương).
Thứ hai, ràng buộc bởi mục đích sử dụng: Nghĩa là nước nhận viện trợ
1.3. Nguồn gốc lịch sử của ODA
Sau Đại chiến thế giới lần thứ II, nền kinh tế thế giới lâm vào tình trạng
khủng hoảng nghiêm trọng. Nhiều nước tham chiến bị thiệt hại nặng nề về cả
người và của. Với mục đích vực dậy nền kinh tế thế giới, nhiều tổ chức tài
chính quốc tế đã được thành lập vào thời kỳ này. Một trong những kế hoạch tái
thiết kinh tế lúc đó là kế hoạch Marshall, tiền thân của hình thức hỗ trợ phát
triển chính thức sau này, có mục đích là hỗ trợ các nước châu Âu khôi phục lại
nền kinh tế đã bị chiến tranh tàn phá. Ngày 14-12-1960, tại Paris, Tổ chức hợp
tác kinh tế châu Âu (OEEC ), tiền thân của tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát
triển (OECD) được thành lập để thực hiện kế hoạch Marshall. Các nước tham
dự hội nghị Paris đã thống nhất mục tiêu của Tổ chức hợp tác kinh tế châu Âu
gồm: Cải thiện mức sống và điều kiện lao động của các nước thành viên, đạt
được tốc độ phát triển kinh tế cao và bền vững, duy trì sự ổn định về tài chính.
Bên cạnh đó hỗ trợ các nước khác đặc biệt là các nước thành viên và các nước
chịu sự tàn phá nặng nề sau chiến tranh trong quá trình phát triển kinh tế. Ngoài
16
ra còn tăng cường phát triển thương mại quốc tế dựa trên cơ sở đa phương.Tổ
chức này ban đầu có 19 thành viên gồm có áo, Bỉ, Canađa, Đan Mạch, Pháp,
Đức, Hy Lạp, Aixơlen, Ý, Lucxămbua, Hà Lan, Na Uy, Bồ Đào Nha, Thụy Sỹ,
Thụy Điển, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh và Mỹ. Các nước gia nhập thêm sau đó là Nhật
Bản (năm 1964), Phần Lan (năm 1969), Ôxtrâylia (năm 1971), Niuzilân
(năm1973) và Mêhicô (năm 1994).
OECD thành lập nhiều uỷ ban để phân chia quyền hạn và nhiệm vụ trong
hoạt động của mình.Một trong số đó là ủy ban hỗ trợ phát triển (DAC). Đây là
ủy ban chuyên cung cấp ODA dạng tài chính cho các nước đang phát triển.
Thành viên của ủy ban này gồm có Mỹ, Nhật Bản, Pháp, Đức, Hà Lan, Vương
Quốc Anh, Canađa, Thụy Điển, Đan Mạch, Ý, Na Uy, Ôxtrâylia, Thụy Sỹ, Tây
Ban Nha, Bỉ, áo, Phần Lan, Bồ Đào Nha, Ailen, Niuzilân, Luxcămbua và ủy
ban châu Âu.
xây dựng các công trình công cộng, hạ tầng kỹ thuật. Các quốc gia đang phát
triển hầu hết đều đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp, cơ sở vật chất, kỹ thuật
lạc hậu. Vì vậy vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng để đáp ứng nhu cầu công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước đang trở lên hết sức cấp bách.
Xu hướng quốc tế hoá nền kinh tế thế giới đang là điều kiện bắt buộc các
nước đang phát triển phải tìm mọi cách nâng cao hiệu quả, tính cạnh tranh của
nền kinh tế và vấn đề thiếu vốn đang là trở ngại lớn nhất trên con đường tìm
kiếm sự phát triển của các nước này. Hàng năm, với tinh thần nhân đạo cao cả,
các nước phát triển đã cung cấp một khối lượng ODA đáng kể trị giá hàng trăm
tỷ USD cho các quốc gia đang phát triển. khối lượng ODA đó có vai trò rất
quan trọng đối với các nước này, nó cho phép họ có một khoản tiền để giải
18
quyết một số vấn đề cấp thiết, và đầu tư vào hạ tầng cơ sở, các công trình công
cộng.
Có thể nói, một hệ thống cơ sở hạ tầng tốt sẽ là nền tảng cho sự phát
triển của một đất nước. Tuy nhiên, hầu hết các nước đang phát triển có hệ
thống cơ sở hạ tầng lạc hậu, không đáp ứng được nhu cầu cho phát triển kinh
tế. Hiện nay, xu hướng chung của các nước đang phát triển là tìm cách thu hút
nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI và ODA), bổ sung cho nguồn vốn eo hẹp
trong nước. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), có ưu điểm là khối
lượng vốn đầu tư lớn và nước tiếp nhận không phải chịu gánh nặng nợ nần.
Nhưng nếu muốn thu hút được nhiều nguồn vốn FDI thì đòi hỏi các nước đang
phát triển phải có một hệ thống cơ sở hạ tầng tốt, một môi trường kinh doanh
thuận lợi.
Đây là những yếu tố mà các nước đang phát triển còn thiếu. Nếu chỉ thu
hút riêng vốn FDI thì không đủ nhu cầu ngày càng cao về vốn cho phát triển
kinh tế - xã hội. Vì vậy, phải thu hút nguồn vốn ODA để bổ sung nhu cầu về
vốn. ODA có ưu điểm là nước tiếp nhận được chủ động trong việc sử dụng
nguồn vốn này vào những lĩnh vực mà mình quan tâm. Ngoài việc sử dụng vốn
Vốn vay và
FDI (B)
Tổng vốn
nƣớc ngoài
(A+B)
A/A+B (%)
1959-1961
666.842
4.386
671.228
99.35
1962-1966
832.789
314.191
1.146.980
72.61
1967-1971
443.996
2.237.106
2.681.102
15.56
1972-1976
12.621
5.934.164
5.946.786
0.21
1977-1981
0
13.721.151
13.721.151
Goldstars
Lucky-
Goldstars
SK
(Sunkyong)
4
Tai Han
Lucky-
Goldstars
Daewoo
SK
LG
5
Gaipoong
Ssangyong
SK
Han Jin
Lotte
6
Samyang
SK
Lotte
Lotte
POSCO
7
SSangyong
Korea
Explosives
Han Jin
Daewoo
và thực hiện tốt, cơ chế theo dõi và giám sát chặt chẽ.
Trung Quốc đặc biệt đề cao vai trò của việc quản lý và giám sát. Hai cơ
quan Trung ương quản lý ODA là Bộ Tài chính (MoF) và Ủy ban cải cách và
phát triển quốc gia (NDRC). MoF làm nhiệm vụ “đi xin tiền”, đồng thời là cơ
quan giám sát việc sử dụng vốn. MoF yêu cầu các Sở Tài chính địa phương
thực hiện kiểm tra thường xuyên hoạt động của các dự án, phối hợp với WB
đánh từng dự án. Các Bộ ngành chủ quản và địa phương có vai trò quan trọng
trong thực hiện và phối hợp với MoF giám sát việc sử dụng vốn. Việc trả vốn
ODA ở Trung Quốc theo cách “ai hưởng lợi, người đó trả nợ”. Quy định này
buộc người sử dụng phải tìm giải pháp sản sinh lợi nhuận và lo bảo vệ nguồn
vốn.
1.5.3. Malaysia
Ở Malaysia, vốn ODA được quản lý tập trung vào một đầu mối là Văn
phòng Kinh tế Kế hoạch. Vốn ODA được đất nước này dành cho thực hiện các
dự án xóa đói giảm nghèo, nâng cao năng lực cho người dân.
Văn phòng Kinh tế Kế hoạch Malaysia là cơ quan lập kế hoạch ở cấp
Trung ương, chịu trách nhiệm phê duyệt chương trình dự án, và quyết định
phân bổ ngân sách phục vụ mục tiêu phát triển quốc gia. Malaysia đánh giá cao
hỗ trợ kỹ thuật từ các nhà tài trợ. Mục đích lớn nhất của Malaysia là nhận hỗ
trợ kỹ thuật để tăng cường năng lực con người thông qua các lớp đào tạo.
22
Malaysia công nhận rằng họ chưa có phương pháp giám sát chuẩn mực.
Song chính vì vậy mà Chính phủ rất chú trọng vào công tác theo dõi đánh giá.
Kế hoạch theo dõi và đánh giá được xây dựng từ lập kế hoạch dự án và trong
lúc triển khai. Malaysia đặc biệt chú trọng đơn vị tài trợ trong hoạt động kiểm
tra, giám sát. Phương pháp đánh giá của đất nước này là khuyến khích phối hợp
đánh giá giữa nhà tài trợ và nước nhận viện trợ, bằng cách hài hòa hệ thống
đánh giá của hai phía. Nội dung đánh giá tập trung vào hiệu quả của dự án so
với chính sách và chiến lược, nâng cao công tác thực hiện và chú trọng vào kết
(5/8/1997), Nghị định 17/2001/NĐ-CP (4/5/2001) và Nghị định 131/2006/NĐ-
CP (09/11/2006)). Các nghị định sau được hoàn thiện trên cơ sở thực tiễn thực
hiện nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng cao của quan hệ hợp tác phát
triển.
Cùng với nỗ lực hoàn hiện thể chế, công tác quản lý nhà nước về ODA
đã không ngừng được cải tiến và đạt được nhiều tiến bộ. Nếu như trong giai
đoạn đầu của quá trình tiếp nhận ODA, quản lý nhà nước theo mô hình tập
trung nhiều ở cấp trung ương thì nay theo mô hình phân cấp mạnh mẽ để các
Bộ, ngành và địa phương phát huy tính chủ động và nâng cao trách nhiệm từ
khâu xây dựng dự án, thực hiện dự án, khai thác và vận hành các sảm phẩm đầu
ra. Theo Nghị định 131/2006/NĐ-CP Việt Nam có 4 cấp tham gia vào quá trình
quản lý và thực hiện nguồn vốn ODA (Ban QLDA, Chủ dự án, Cơ quan chủ
quản, Cơ quan quản lý nhà nước về ODA). Các cấp này có chức năng và nhiệm
vụ rõ ràng, cụ thể: