(Luận văn thạc sĩ) Quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014 - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN HOÀNG VŨ

QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA NGƢỜI ĐẠI DIỆN
THEO PHÁP LUẬT TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

Hà Nội, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN HOÀNG VŨ

QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA NGƢỜI ĐẠI DIỆN
THEO PHÁP LUẬT TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN NHƯ PHÁT

Hà Nội - 2019



2.1. Xác lập và chấm dứt tư cách người đại diện theo pháp luật........................25
2.1.1. Điều kiện trở thành người đại diện theo pháp luật ..................................25
2.1.2. Các trường hợp xác lập và chấm dứt tư cách người đại diện theo pháp luật
............................................................................................................................29
2.2. Số lượng người đại diện theo pháp luật .......................................................32
2.3. Chức danh quản lý của người đại diện theo pháp luật ................................34
2.4. Quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật ....37
2.4.1. Quyền hạn, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật .........................37
2.4.2. Trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật ......................................42
2.5. Giới hạn thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật .............................47
2.6. Cơ chế giám sát thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật .................49
CHƢƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA
NGƢỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN ......57
3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật .........................................................57


3.2. Những kiến nghị cụ thể ...............................................................................58
3.2.1. Kiến nghị về khái niệm người đại diện theo pháp luật ............................58
3.2.2. Kiến nghị về thời điểm phát sinh tư cách người đại diện theo pháp luật 59
3.2.3. Kiến nghị về công khai thông tin về người đại diện theo pháp luật ........62
3.2.4. Kiến nghị xây dựng án lệ về trách nhiệm của người đại diện theo pháp
luật ......................................................................................................................63
KẾT LUẬN ..............................................................................................................65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CTCP


Nam cũng là một quốc gia tiếp nhận gần như trọn vẹn học thuyết đại diện vào pháp
luật doanh nghiệp.
Việc chuyển giao vốn và quyền quản lý công ty từ cổ đông sang người quản
lý, người đại diện chính là đặc trưng pháp lý nổi bật của công ty cổ phần (CTCP), từ
đó đặt ra những vấn đề pháp lý cần phải giải quyết cho pháp luật doanh nghiệp,
trong đó có vấn đề người đại diện theo pháp luật (NĐDTPL) của CTCP. Bản thân
CTCP là bộ phận cấu thành của nền kinh tế, là một chủ thể độc lập của quan hệ
pháp luật. Tự bản thân công ty không thể đứng ra xác lập và thực hiện các giao dịch
mà nó chỉ hành động thông qua những con người cụ thể. Cho nên, CTCP cần có
NĐDTPL để nhân danh và vì lợi ích của công ty xác lập, thực hiện các giao dịch
với các chủ thể khác trong xã hội. Chế định NĐDTPL là một trong những chế định
quan trọng và có nhiều điểm mới trong Luật doanh nghiệp 2014 (LDN 2014) mang
tính đột phá, thể hiện tư duy rất thoáng về quyền tự do kinh doanh của doanh
nghiệp. Tuy nhiên, bản thân LDN 2014 và các văn bản pháp luật liên quan khi quy
định về NĐDTPL cũng tồn tại nhiều quy định bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn
đời sống kinh doanh của CTCP. Bên cạnh đó, quá trình làm ăn, giao thương với
CTCP thì khách hàng, đối tác cũng rất khó khăn trong việc xác định đúng NĐDTPL
của chính CTCP đó, trong nhiều trường hợp có thể tạo nên những rủi ro đe dọa bởi
nguy cơ hợp đồng vô hiệu.
Hiện nay, khoa học pháp lý rất cần những nghiên cứu để làm rõ các vấn đề lý
luận, thực trạng pháp luật về NĐDTPL trong CTCP, đồng theo đề xuất các kiến
nghị, giải pháp hữu ích để hoàn thiện các quy định của pháp luật doanh nghiệp.
1


Chính vì các lẽ đó, tác giả quyết định chọn đề tài “Quyền, nghĩa vụ của người đại
diện theo pháp luật trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014” để làm
luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Hiện nay, chế định về NĐDTPL của doanh nghiệp đã được nhiều tác giả

chức danh này.
Bùi Thị Tâm (2017), Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp từ thực tiễn
Tổng Công ty thuốc lá Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học - Học viện khoa học Xã
hội. Đề tài này trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp, cũng như thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn của Tổng Công
ty thuốc lá Việt Nam về NĐDTPL.
Phạm Lâm Hải Nguyên (2014), Chế định người đại diện của doanh nghiệp
theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học – Trường Đại học
Luật Tp. Hồ Chí Minh. Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận và thực
tiễn áp dụng các quy định về người đại diện của doanh nghiệp theo Luật Doanh
nghiệp 2005. Từ đó, đề xuất kiến nghị một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện
pháp luật doanh nghiệp Việt Nam về chế định người đại diện của doanh nghiệp.
Ngoài các công trình tiêu biểu trên, khoa học pháp lý còn tồn tại khá nhiều
công trình nghiên cứu về chế định NĐDTPL của doanh nghiệp. Mỗi công trình đều
có phạm vi và mục đích nghiên cứu cụ thể. Tuy nhiên, các nghiên cứu về NĐDTPL
trong CTCP, đặt trong đặc trưng của CTCP về vốn, quản trị nội bộ thì chưa có
nhiều. Đây được xem là “khoảng trống” để tác giả lựa chọn và nghiên cứu đề tài
này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật về
quyền và nghĩa vụ của NĐDTPL trong CTCP. Từ đó, đề xuất các kiến nghị và giải
pháp khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp Việt Nam về người đại diện
công ty cổ phần.
Để được mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể
sau: Một là, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về NĐDTPL trong CTCP; Hai là, phân
tích, đánh giá, bình luận thực trạng quy định của pháp luật doanh nghiệp về quyền
3


và nghĩa vụ của NĐDTPL trong CTCP; làm rõ về cơ bản thực tiễn pháp luật về


Thứ ba, phương pháp so sánh: được sử dụng để so sánh và đối chiếu các quy
định của các văn bản pháp luật sau: (i) BLDS 2015 với BLDS 2005 về vấn đề đại
diện trong quan hệ dân sự; (ii) LDN 2005 với LDN 2014 về chế định NĐDTPL của
doanh nghiệp. Qua đó, tác giả đánh giá những vấn đề tương đồng và khác biệt để
làm rõ những quy định tiến bộ, nhằm gợi mở, kiến nghị, đề xuất cho việc hoàn thiện
pháp luật.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho việc bổ sung vào lý luận nghiên
cứu về NĐDTPL, cung cấp các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật liên quan
Công trình có thể là tài liệu tham khảo đối với người học, doanh nghiệp, nhà quản
lý, nhà làm luật…
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, lời mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn có 3 chương, cụ thể:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về người đại diện theo pháp luật trong
công ty cổ phần;
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo
pháp luật trong công ty cổ phần;
- Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo
pháp luật trong công ty cổ phần.

5


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƢỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT
TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1. Khái niệm về công ty cổ phần và đại diện công ty cổ phần
1.1.1. Khái niệm Công ty cổ phần

Kommanditgesellschaft auf Aktien (KGaA). Ở Mỹ có public corporation và close
corporation với một số khác biệt ở luật của các bang khác nhau [32, Tr.246-249].
Ở Việt Nam hiện nay, CTCP là một trong bốn loại hình doanh nghiệp được
pháp luật ghi nhận, với một cơ chế pháp lý chặt chẽ, rõ ràng và minh bạch. Căn cứ
vào các đặc trưng pháp lý cơ bản được ghi nhận trong LDN 2014 thì có thể định
nghĩa về CTCP như sau: CTCP là một loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp
nhân, có chế độ trách nhiệm tài sản hữu hạn, có vốn điều lệ được chia thành nhiều
phần bằng nhau gọi là cổ phần, trong đó phải có cổ phần phổ thông và có thể có
các loại cổ phần ưu đãi khác nhau, cổ phần được tự do chuyển nhượng (trừ một số
trường hợp ngoại lệ); công ty được phép phát hành các loại chứng khoán để huy
động vốn; cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng tối thiểu là 03 và không hạn
chế số lượng tối đa. Bên cạnh đó, pháp luật chuyên ngành cũng có những quy định
đặc thù về CTCP, có nhiều điểm riêng biệt so với CTCP theo LDN, như pháp luật
chứng khoán (công ty đại chúng, công ty niêm yết), pháp luật ngân hàng (ngân hàng
hàng thương mại cổ phần). Về cơ bản, CTCP có các đặc tính cơ bản sau:
- Thứ nhất, Công ty cổ phần là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân. CTCP là
một trong bốn mô hình doanh nghiệp được pháp luật doanh nghiệp Việt Nam ghi
nhận.
Công ty cổ phần có đầy đủ những dấu hiệu của một doanh nghiệp, theo đó,
CTCP là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập
thông qua thủ tục đăng ký doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh. Cũng như
công ty HD và công ty TNHH, CTCP có tư cách pháp nhân.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, một tổ chức được công nhận là
pháp nhân khi có đủ các điều kiện: i) được thành lập theo quy định của Bộ luật Dân
sự 2015, luật khác có liên quan; ii) có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của
Bộ luật Dân sự 2015; có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu
7


trách nhiệm bằng tài sản của mình; nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một


lượng tối đa thực chất là xuất phát từ những đặc trưng cơ bản của CTCP, là công ty
đối vốn và có tính mở, kênh huy động vốn rộng rãi, việc xác lập tư cách cổ đông
công ty rất dễ dàng. Nhà đầu tư khi sở hữu một, một số hoặc nhiều cổ phần của
CTCP thì người đó là cổ đông của CTCP đó. Cho nên LDN 2014 không hạn chế số
lượng cổ đông tối đa trong CTCP.
- Thứ tư, Công ty cổ phần có chế độ trách nhiệm tài sản hữu hạn
Đây là một đặc điểm giống với công ty TNHH. Theo đó, khi CTCP bị tuyên
bố phá sản mà tổng tài sản của công ty không đủ để trả cho công ty thì các cổ đông
không có nghĩa vụ trả nợ thay cho công ty. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các
khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi có nguồn gốc từ
số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Do đó, đây là một ưu điểm nổi bật tạo ra tâm lý ưa
chuộng của nhà đầu tư đối với mô hình kinh doanh này.
- Thứ năm, cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ một số trường hợp ngoại lệ.
Công ty cổ phần là mô hình công ty có tính mở. Yếu tố nhân thân trong
CTCP không quan trọng mà vốn mới là yếu tố quan trọng dẫn đến sự ra đời của mô
hình công ty này. Mặt khác, việc chia vốn điều lệ của CTCP thành các phần nhỏ
như vậy đã làm cho hoạt động của CTCP mang tính xã hội hóa cao. Bất kỳ nhà đầu
tư nào, nhiều hay ít vốn, nếu không thuộc trường hợp bị cấm thành lập và góp vốn
theo quy định của pháp luật thì đều có thể đầu tư vào CTCP thông qua việc mua cổ
phần. Do đó, khác với công ty TNHH và công ty HD, cổ phần được tự do chuyển
nhượng. Cần lưu ý là cổ phần được tự chuyển nhượng nhưng vẫn có những ngoại lệ
(tức là không được chuyển nhượng):
Một là: Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển
nhượng cổ phần đó cho người khác (khoản 3 Điều 116 LDN 2014).
Hai là: Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng
nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ
thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận
của ĐHĐCĐ (khoản 3 Điều 119 LDN 2014).
Ba là: Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần (khoản 3

là một pháp nhân - một thực thể pháp lý độc lập (a separate legal entity), tự bản thân
nó không thể hành động cho chính mình mà chỉ có thể hành động thông qua con
10


người cụ thể – những người quản lý công ty. Cũng vì thế, công ty luôn cần có người
đại diện trong giao dịch để xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình
[17, Tr. 16]. Trong hoạt động của công ty, NĐĐDTPL sẽ đại diện cho công ty thực
hiện các giao dịch vì lợi ích của công ty với các đối tác, khách hàng và với cơ quan
Nhà nước.
Theo từ điển luật học, đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy
định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền [15, Tr. 13]. Theo BLDS 2015 thì
người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bao gồm: i) Người được pháp nhân chỉ
định theo điều lệ; ii) Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; iii)
Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án. NĐDTPL sẽ nhân danh
và vì lợi ích của pháp nhân để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự [25]. Theo pháp
luật dân sự, đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quyết định [24]. Đại diện theo pháp luật là một chế định có
vai trò rất quan trọng trong pháp luật dân sự lẫn pháp luật đầu tư kinh doanh.
NĐDTPL là người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Luật doanh nghiệp 2005 không đưa ra định nghĩa thế nào là NĐDTPL mà
chỉ xác định ai là NĐDTPL của từng loại hình doanh nghiệp. Trong thực tế, có quy
ước chung là NĐDTPL có quyền đại diện đương nhiên cho doanh nghiệp về cả đối
nội lẫn đối ngoại. NĐDTPL được quyền ký kết hợp đồng, thỏa thuận mà không cần
ủy quyền hoặc chấp thuận nào. Nói cách khác, quyền của NĐDTPL của doanh
nghiệp mang tính đương nhiên, gắn với sự tồn tại của doanh nghiệp. Trong nội bộ
công ty, NĐDTPL khi nắm giữ các chức danh quản lý thì có quyền quyết định các
vấn đề quan trọng như việc tổ chức và điều hành hoạt động kinh doanh, tổ chức
nhân sự, quản lý, sử dụng tài khoản, con dấu của doanh nghiệp…

diện cho CTCP trong việc xác lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ
giao dịch của công ty; đại diện cho CTCP với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền, nghĩa vụ khác
theo quy định của pháp luật.
1.2. Đặc điểm của ngƣời đại diện theo pháp luật trong công ty cổ phần
Công ty cổ phần chỉ là một pháp nhân, một thực thể pháp lý do pháp luật tạo
12


ra, cho nên mọi hoạt động của công ty đều thực hiện thông qua những con người cụ
thể, trong đó đặc biệt có người đại diện theo pháp luật (NĐDTPL). Về cơ bản,
NĐDTPL trong CTCP có đặc trưng pháp lý như sau:
Thứ nhất, người đại diện theo pháp luật là người quản lý doanh nghiệp
Người quản lý doanh nghiệp trong CTCP theo LDN 2014 bao gồm Chủ tịch
Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và
cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao
dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty. Điều lệ công ty sẽ quy định cụ
thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp
luật của doanh nghiệp.
Luật doanh nghiệp 2014 đã nhấn mạnh hơn nữa đặc điểm NĐDTPL của
doanh nghiệp là người quản lý doanh nghiệp khi khẳng định các chức danh đó phải
“có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại
Điều lệ công ty” là người quản lý công ty. Các chức danh quản lý phải có thẩm
quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch theo quy định tại Điều lệ thì mới được
xem là người quản lý doanh nghiệp. Vô hình trung, quy định này đã thể hiện rằng
người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là người quản lý doanh nghiệp. Quy
định như vậy là khá chặt chẽ, tạo cho việc quản trị doanh nghiệp được thống nhất.
Bởi vì trao cho một người có quyền nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp thực
hiện các quyền và nghĩa vụ mà không cho họ nắm quyền quản lý thì họ không thể
chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó được. Thêm vào đó, NĐDTPL của

Thứ ba, người đại diện theo pháp luật là người đại diện cho CTCP thực hiện
các quyền và nghĩa vụ của công ty.
Vai trò của NĐDTPL trong CTCP được thể hiện thông qua các chức năng
quan trọng: (i) Đại diện cho CTCP xác lập các giao dịch: các giao dịch của CTCP
chủ yếu là hợp đồng, là sự thoả thuận giữa CTCP với các bên về việc xác lập, thay
đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ trong quan hệ kinh doanh, thương mại. Các hợp
đồng này do NĐDTPL nhân danh CTCP xác lập; (ii) Đại diện cho CTCP thực hiện
các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch, hợp đồng đã xác lập; (iii) Đại diện
cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp
luật.
14


Thứ tư, thẩm quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật có những giới
hạn nhất định
Để hạn chế những rủi ro, cũng như đảm bảo quyền lợi cho các cổ đông,
CTCP và các bên liên quan (như Nhà nước, chủ nợ, khách hàng, đối tác, người lao
động…) thì thẩm quyền của NĐDTPL thường có những giới hạn “quyền lực” nhất
định. Theo pháp luật doanh nghiệp hiện hành, có những giao dịch, hợp đồng có giá
trị lớn, có thể ảnh hưởng đến sự tồn tại của CTCP thì NĐDTPL không đương nhiên
được xác lập và thực hiện mà cần phải được sự chấp nhân của ĐHĐCĐ hoặc HĐQT
(Xem Điều 135, Điều 149, Điều 163 LDN 2014). Hoặc trường hợp CTCP có nhiều
người NĐDTPL thì có thể thẩm quyền thường chỉ giới hạn trong những lĩnh vực,
ngành nghề kinh doanh nhất định… Việc giới hạn thẩm quyền của NĐDTPL trong
CTCP được căn cứ vào các quy định của pháp luật doanh nghiệp, điều lệ công ty.
Theo thông luật (common law) đưa ra 4 mối quan hệ sau để làm rõ vấn đề
này: (i) Thẩm quyền thực tế rõ ràng: Người quản lý có thẩm quyền này thông qua
các quy chế quản lý nội bộ của doanh nghiệp, bao gồm điều lệ, hoặc theo sự phân
công/ủy quyền. Ví dụ hội đồng quản trị của công ty X cho phép ông Y, giám đốc

Thứ năm, chức năng của người đại diện theo pháp luật khác với người đại
diện theo ủy quyền.
Quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền và theo pháp luật. Tuy nhiên,
khác với đại diện theo pháp luật thì đại diện theo ủy quyền là trường hợp quan hệ
đại diện được xác lập theo ý chí của hai bên. Do vậy, cả người đại diện và người
được đại diện đều phải có năng lực hành vi dân sự. Hai bên biểu hiện tự do ý chí
thông qua một hợp đồng ủy quyền hoặc một giấy ủy quyền. Ủy quyền là phương
tiện pháp lý cần thiết tạo điều kiện cho cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác của
quan hệ dân sự, bằng nhiều hình thức khác nhau có thể tham gia vào các giao dịch
dân sự một cách thuận lợi nhất, bảo đảm thỏa mãn nhanh chóng các lợi ích vật chất,
tinh thần mà chủ thể quan tâm. NĐDTPL khác với người đại diện theo ủy quyền ở
đặc điểm:
Thứ nhất, về quyền nhân danh công ty. NĐDTPL của CTCP được pháp luật
và CTCP trao quyền đại diện đương nhiên, mà không cần thông qua bất cứ thủ tục
hay quyết định ủy quyền nào; còn người đại diện theo ủy quyền của công ty là
16


người được NĐDTPL của công ty ủy quyền để thực hiện một hoặc một số quyền và
nghĩa vụ nhất định. Người đại diện theo ủy quyền của công ty không có quyền
đương nhiên nhân danh công ty để thực hiện quyền và nghĩa vụ mà chỉ được nhân
danh công ty trong phạm vi ủy quyền và có nghĩa vụ nói rõ việc ủy quyền đó trong
các giao dịch.
Thứ hai: Quyền ủy quyền cho người khác: NĐDTPL của CTCP được quyền
ủy quyền cho người khác để thực hiện quyền và nghĩa vụ của công ty do mình làm
đại diện theo pháp luật, chẳng hạn như Tổng giám đốc là NĐDTPL của CTCP có
thể ủy quyền cho các Phó tổng giám đốc, các giám đốc chi nhánh thực hiện một số
quyền và nghĩa vụ nhất định của công ty... Trong khi đó, người đại diện theo ủy
quyền của công ty không đương nhiên được ủy quyền lại cho người khác thực hiện
quyền và nghĩa vụ đại diện cho công ty mà mình đã được ủy quyền, trừ trường hợp

Trước công nguyên, luật La Mã không chấp nhận vấn đề đại diện do tính
chất trọng hình thức đối với hợp đồng [14, Tr. 26]. Càng về sau, cùng với sự thay
đổi của các hình thái kinh tế - xã hội thì quan hệ đại diện ngày càng phát triển hơn.
Từ giữa thế kỉ 19, các án lệ của các nước theo truyền thống thông luật (common
law) đã khẳng định rằng, công ty chỉ có thể hành động thông qua các Giám đốc
(directors) - là những người quản lý công ty. Bởi họ cho rằng, công ty là một thực
thể pháp lý độc lập, tự bản thân nó không thể hành động mà phải thông qua con
người cụ thể đại diện cho công ty xác lập và thực hiện các giao dịch.
Đến thế kỷ 20, các lý thuyết về đại diện xuất hiện trong nhiều nghiên cứu của
các giáo sư luật, kinh tế, quản trị ở phương Tây. Theo học thuyết về đại diện, quan
hệ giữa các cổ đông và người quản lý công ty được hiểu như là quan hệ đại diện hay quan hệ ủy thác. Mối quan hệ này được coi như là quan hệ hợp đồng mà theo
đó các cổ đông bổ nhiệm, chỉ định người khác để thực hiện việc quản lý công ty cho
họ mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản
của công ty [17, Tr. 22]. Và về sau, khi vấn đề tách bạch giữa quyền sở hữu và
quyền quản lý (nắm sở hữu nhưng không quản lý hoặc nắm quản lý nhưng không sở
hữu) xuất hiện thì cơ chế quản trị công ty được dùng để giải quyết các vấn đề về đại
diện [5, Tr. 46].
Theo học thuyết về đại diện, mối quan hệ giữa các cổ đông và người quản lý
công ty được hiểu như là quan hệ đại diện – hay quan hệ ủy thác. Mà trong đó, chủ
sở hữu bổ nhiệm, chỉ định người đại diện thực hiện việc quản lý công ty, trao cho
18


họ một số thẩm quyền, bao gồm cả quyền định đoạt tài sản để phục vụ lợi ích của
chủ sở hữu. Nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người quản lý công
ty) đều muốn tối đa hóa lợi tích của mình, thì có cơ sở để tin rằng người quản lý
công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức các cổ
đông và công ty [17, Tr. 11-18]. Làm thế nào để đảm bảo rằng người đại diện chỉ
hành động duy nhất vì lợi ích người chủ (principal) là một thách thức lớn lao.
Có thể thấy quan hệ đại diện đã xuất hiện trong cuộc sống như một nhu cầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status