Quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn tỉnh bình dương - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VĂN GẤM

LÊ VĂN GẤM

LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

KHÓA VIII ĐỢT 1 - 2017

HÀ NỘI - 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ VĂN GẤM

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH DƯƠNG

Ngành

: Luật hiến pháp và luật hành chính


Học viên kính ghi

Lê Văn Gấm


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS. Đỗ Thị Kim Định và chưa được công bố trên
bất kỳ phương tiện nào. Các thông tin, số liệu sử dụng trong đề tài được dẫn
nguồn cụ thể theo quy định. Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về mặt p háp
lý và đạo đức đối với lời cam đoan này.
Người cam đoan

Lê Văn Gấm


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...................................................................................................... . 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ TÔN GIÁO............................................................................... . 1
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về tôn giáo ............. 9
1.2. Nội dung quản lý nhà nước về tôn giáo ................................................ 14
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về tôn giáo...................... 25
Tiểu kết Chương 1 ...................................................................................... . 30
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO TỪ
THỰC TIỄN TỈNH BÌNH DƯƠNG ......................................................... 31
2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về tôn giáo tại tỉnh Bình
Dương ......................................................................................................... . 31
2.2. Thực trạng quản lý nhà nước về tôn giáo tại tỉnh Bình Dương ............. 38
2.3. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn tỉnh Bình


: Ủy ban nhân dân

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước đa dân tộc, đa tôn giáo, với đời sống tôn giáo đa
dạng và khá phức tạp. Hiện nay, theo xu hướng chung của các tôn giáo trên
thế giới (thế tục hóa, đa dạng hóa và dân tộc hóa), tình hình đời sống tôn
giáo ở Việt Nam cũng có sự biến đổi. Các tôn giáo có sự phục hồi, phát triển
nhanh chóng và phức tạp, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống xã hội. Trong
khi đó, các thế lực xấu lợi dụng tôn giáo, nhân quyền nhằm chống phá nước
ta. Vì vậy, đòi hỏi nhà nước phải nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về t
ôn giáo, nhằm tăng cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn
kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Bình Dương là tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong Vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam, một trong những trung tâm phát triển năng động, có tốc
độ đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa cao. Tỉnh Bình Dương có 1
thành phố, 4 thị xã và 4 huyện (với 41 phường, 2 thị trấn và 50 xã), với nhiều
khu công nghiệp thu hút lao động của các tỉnh, thành phố trong cả nước và cả
người nước ngoài đến sinh sống và làm việc. Nhận thức được tôn giáo là vấn
đề “nhạy cảm”, dễ xảy ra “điểm nóng chính trị” và là lĩnh vực mà các thế lực
thù địch trong và ngoài nước thường lợi dụng để chống phá nhà nước ta,
chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân các cấp trong tỉnh Bình Dương xác

các công trình nghiên cứu về tôn giáo và quản lý nhà nước về tôn giáo có liên
quan trực tiếp đến đề tài luận văn, cụ thể như:
- Đỗ Thị Kim Định (2014), Thực tiễn áp dụng pháp luật về tôn giáo ở
Việt Nam hiện nay, Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo. Trong bài viết này, tác giả
đã phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay, cả thành tựu
và hạn chế, để thấy việc hoàn thiện pháp luật về tôn giáo ở nước ta đang là
2


một yêu cầu , một mục tiêu trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền
[19, tr. 19 - 30].
- Nguyễn Hồng Dương (2015), Những thách thức của đa dạng tôn giáo
tại Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Hà Nội, Số 6 (148), tr.
3 - 10. Bài viết nghiên cứu vấn đề đa dạng tôn giáo ở Việt Nam đem lại cho
tôn giáo ở Việt Nam diện mạo mới, làm phong phú đời sống tâm linh - tôn
giáo ở Việt Nam. Nền văn hóa Việt Nam dưới tác động của đa dạng tôn giáo
đã và đang được bổ sung thêm những giá trị văn hóa - tôn giáo mới,… Song
đa dạng tôn giáo ở Việt Nam đã và đang đặt ra những thách thức, đồng thời
đặt ra những vấn đề đối với công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt
Nam hiện nay. Bài viết đi vào hai nội dung chính: (1) Những thách thức của
đa dạng tôn giáo; (2) Những vấn đề đặt ra đối với quản lý nhà nước về tôn
giáo tại Việt Nam hiện nay.
- Trần Xuân Nghĩa (2017), Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và điểm
mới về chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước ta, Tạp chí Khoa học Đại
học Văn Lang, (số 5), tr. 16 -20. Tác giả bài viết đã đề cập về tư tưởng đoàn
kết dân tộc trong đó có đoàn kết tôn giáo là một nội dung q uan trọng trong
chiến lược đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Luận điểm sáng tạo của
Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết
toàn dân tộc đã được Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo phù hợp
với tình hình thực tiễn trong giai đoạn hiện nay.

- Nguyễn Hồng Sơn (2016), Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở
Quảng Bình - Những kinh nghiệm bước đầu, Tạp Chí cộng sản. Bài viết đã
góp phần nhận thức và vận dụng quan điểm của Đại hội XII của Đảng về
công tác tôn giáo, từ tổng kết thực tiễn công tác quản lý nhà nước về tôn giáo
ở tỉnh Quảng Bình, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm bước đầu.
- Nguyễn Hồng Thúy (2012), Quản lý nhà nước về tôn giáo của Ủy
4


ban nhân dân cấp huyện từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc
sĩ Luật học, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh. Luận văn đã nghiên cứu
những vấn chung về tôn giáo và quản lý nhà nước về tôn giáo của Ủy ban
nhân dân cấp huyện; thực tiễn quản lý nhà nước về tôn giáo của Ủy ban nhân
dân cấp huyện từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh; giải pháp nâng cao hiệu
quả quản lý nhà nước về tôn giáo của Ủy ban nhân dân cấp huyện [34].
- Nguyễn Quốc Vũ (2013), Pháp luật về các tổ chức, cơ sở tôn giáo,
Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh. Luận văn
đã nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sỏ pháp lý về tổ chức, cơ sở tôn giáo ; thực
trạng pháp luật về tổ chức, cơ sở tôn giáo và giải pháp hoàn thiện từ thực tiễn
tỉnh Đồng Nai [51].
- Đề tài khoa học cấp tỉnh: “Tôn giáo ở Bình Dương, thực trạng và
giải pháp” của Ban Tôn giáo tỉnh Bình Dương, nghiệm thu năm 2005. Đề tài
đã khái quát đặc điểm cộng đồng các tôn giáo ở Bình Dương dưới góc độ
nhân khẩu học, mô tả hiện trạng các tôn giáo ở Bình Dương. Từ thực tr ạng
các tôn giáo ở Bình Dương, đề tài đã đặt ra ba vấn đề cần lưu ý trong công
tác quản lý nhà nước về tôn giáo là: mối quan hệ chặt chẽ và có hệ thống
giữa các tôn giáo ở Bình Dương với giáo hội các tôn giáo ở ngoài tỉnh và
nước ngoài; hoạt động của các phần tử cực đoan luôn tác động đến tôn giáo ở
Bình Dương và việc phát triển các tôn giáo bất hợp pháp và khôi phục các hội
đoàn công giáo. Điều đó, đòi hỏi công tác quản lý nhà nước của các cơ quan

nước về tôn giáo nói chung và tôn giáo tại tỉnh Bình Dương nói riêng, từ đó
đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý nhà nước về tôn giáo.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung của quản lý nhà
nước về tôn giáo, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về tôn giáo.

6


- Đánh giá thực trạng về hoạt động quản lý nhà nước về tôn giáo tại
tỉnh Bình Dương; phân tích, làm sáng tỏ những thành tựu và hạn chế, nguyên
nhân của những hạn chế.

7


- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao quản lý nhà nước về tôn giáo
nói chung và tôn giáo tại tỉnh Bình Dương nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về tôn giáo
tại tỉnh Bình Dương; những quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo tại tỉnh Bình Dương.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: tại địa bàn tỉnh Bình Dương
- Phạm vi thời gian: luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề QLNN về tôn
giáo theo quy định của pháp luật trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2018.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận là chủ nghĩa duy

Đề tài có giá trị tham khảo, giúp cho các cơ quan, ban ngành của tỉnh
trong hoạt động quản lý nhà nước về tôn giáo được thực hiện một cách hiệu
lực và hiệu quả trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh
và trật tự ở địa phương. Đồng thời, luận văn cũng là một tài liệu tham khảo có
giá trị cho những ai quan tâm nghiên cứu đến vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được chia làm 3 chương, không kể phần mở đầu, kết luận,
danh mục tài liệu tham khảo, cụ thể:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về tôn giáo
- Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn tỉnh
Bình Dương
- Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước về tôn giáo ở tỉnh Bình Dương
9


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ TÔN GIÁO
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về tôn giáo
1.1.1. Khái niệm về tôn giáo, quản lý nhà nước về tôn giáo
1.1.1.1. Khái niệm về tôn giáo
Tôn giáo: (Tiếng Latinh - Religio) đồng nghĩa với sự sùng đạo, mộ đạo,
đối tượng được sùng bái. Trong các từ điển thông dụng, thường định nghĩa
tôn giáo là sự sùng bái và sự thờ phụng của con người đối với thần linh hoặc
các mối quan hệ của con người đối với thần linh [25, tr.13].
Theo tác giả Nguyễn Bá Dương (2017) cho rằng: “Tôn giáo là một hiện
tượng xã hội mang tính lịch sử, bao gồm ý thức tôn giáo, hoạt động tôn giáo
và tổ chức tôn giáo, mà sự tồn tại, phát triển của nó là do sự phản ánh hư ảo
hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người” [12, tr.11].

giáo năm 2016).
Dưới góc độ tiếp cận của QLNN, tôn giáo là đối tượng của quản lý nhà
nước. Trong QLNN về các hoạt động tôn giáo (tôn giáo cá nhân và tôn giáo
có tổ chức) chúng ta cần đặc biệt chú ý hoạt động của các tôn giáo có tổ chức,
khái niệm tôn giáo có tổ chức được hiểu như sau: “tôn giáo là một tổ chức,
đại diện cho một cộng đồng người có chung một đức tin, theo một giáo lý hay
một giáo chủ và có một kết cấu là tổ chức giáo hội” [25, tr. 15].
1.1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước về tôn giáo
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền
lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá
nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ
máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát
triển của xã hội [26, tr.3]. Theo đó, QLNN về tôn giáo là một dạng quản lý xã
11


hội đặc biệt của nhà nước, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp
luật và chính sách tôn giáo để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên
lĩnh vực của đời sống về tôn giáo do các cơ quan nhà nước thực hiện, nhằm
phục vụ nhân dân, đảm bảo quyền tự do tôn giáo, duy trì sự ổn định và phát
triển của xã hội.
QLNN về tôn giáo là quá trình tác động, điều hành, điều chỉnh để các
hoạt động tôn giáo diễn ra theo đúng quy định của pháp luật [25, tr.51].
QLNN về tôn giáo là việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực
hiện sự quản lý nhà nước đối với tôn giáo nhằm đảm bảo quyền tự do tôn giáo
của nhân dân, hướng các tôn giáo vào các hoạt động tôn giáo phục vụ lợi ích
chính đáng của các tín đồ vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam XHCN.
Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo
và quản lý tổ chức của tôn giáo (Khoản 11, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

được các tổ chức giáo hội đào tạo, quản lý chặt chẽ theo quy định của giáo lý,
giáo luật. (2) Các cơ sở vật chất (như nhà thờ, nhà chùa, thánh đường…) phục
vụ và đảm bảo các điều kiện về vật chất, trang thiết bị cho hoạt động của tôn
giáo và các sinh hoạt tôn giáo đối với các tôn giáo khác nhau.
Thứ ba, quản lý nhà nước về tôn giáo mang tính quyền lực nhà nước,
sử dụng công cụ pháp luật, chính sách về tôn giáo để quản lý. Quyền lực ở
đây được hiểu là khả năng chi phối của một chủ thể đến một khách thể trong
mối quan hệ nào đó, nhằm đạt được một mục tiêu nhất định. Theo đó, quyền
lực của chủ thể lập quản lý nhà nước về tôn giáo hay cơ qu an quản lý nhà
nước về tôn giáo được hiểu là khả năng chi phối lãnh đạo, quản lý đến đối
tượng quản lý (các chức sắc, nhà tu hành,…) trong mối quan hệ vận động
phát triển nhằm mục tiêu tổng thể, mục tiêu phát triển chung về kinh tế, xã
hội và các lĩnh vực khác, trong đó có lĩnh vực tôn giáo. QLNN về tôn giáo là
hoạt động thực thi quyền hành pháp, là sự tác động, điều chỉnh có tổ chức
13


bằng quyền lực pháp luật nhà nước đối với các hoạt động của các cá nhân, tổ
chức

14


tôn giáo do các cơ quan thuộc bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương
đến cơ sở (Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp) tiến hành.
Thứ tư, mục tiêu của quản lý nhà nước về tôn giáo là phục vụ nhân dân,
đối với cộng đồng xã hội, người theo tôn giáo hoặc không theo tôn giáo, dựa
trên nền tảng tôn trọng quyền tự do tôn giáo của công dân nhằm duy trì sự ổn
định và phát triển của toàn xã hội, đặc biệt đối với chức sắc, chức việc và nhà
tu hành. Theo đó, QLNN về tôn giáo cần phải đảm bảo quyền tự do về tín

ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động quản lý nhà nước về tôn giáo ở nước ta.
Ngoài pháp luật về tôn giáo là công cụ của nhà nước để điều chỉnh các hoạt
động tôn giáo, còn chịu sự điều chỉnh của các Điều ước Quốc tế mà Nhà nước
tham gia ký kết hoặc thừa nhận. Trong số 06 tôn giáo lớn ở nước ta thì có 04
tôn giáo (Công giáo, Phật giáo, đạo Hồi và Tin lành) có nguồn gốc và mối
quan hệ với nước ngoài. Do đó, hoạt động QLNN về tôn giáo cần chú trọng
và thận trọng trong quan hệ quốc tế về tôn giáo.
1.2. Nội dung của quản lý nhà nước về tôn giáo
1.2.1. Xây dựng chính sách, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về
tôn giáo
Nhà nước là chủ thể chủ yếu trong xây dựng chính sách, ban hành văn
bản quy phạm pháp luật về tôn giáo. Đồng thời, Nhà nước cần thu hút rộng
rãi người dân, đặc biệt là người theo các tôn giáo vào quá trình xây dựng và
ban hành chính sách pháp luật về tôn giáo. Xây dựng chính sách, ban hành
văn bản quy phạm pháp luật về tôn giáo là hoạt động tuân thủ các quy định
của pháp luật về trình tự, thủ tục và hình thức được quy định trong Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Việc tuân thủ các bước trong
chu trình (quy trình) xây dựng chính sách pháp luật về tôn giáo sẽ đảm bảo
tính nguyên tắc, khách quan, dân chủ, pháp quyền, công khai, minh bạch và
trách nhiệm giải trình trong toàn bộ quá trình xây dựng chính sách pháp luật
16


về tôn giáo. Ngược lại, việc không tuân thủ các bước này trong quy trình xây
dựng chính sách pháp luật về tôn giáo sẽ dẫn đến tình trạng lạm dụng để xâm
phạm đến các quyền tự do tôn giáo của người dân.
Chính sách tôn giáo là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan
của nhà nước để lựa chọn mục tiêu và những giải pháp, công cụ chính sách
tôn giáo nhằm giải quyết các vấn đề chính sách tôn giáo theo mục tiêu tổng
thể đã xác định của đảng chính trị cầm quyền. Còn pháp luật về tôn giáo là hệ

Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 ra đời (có hiệu lực ngày 01/01/2018) thì
Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004; Nghị định số 92/2012/NĐ-CP quy
định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Chỉ
thị số
01/2005/CTTTg ngày 4/12/2005 về một số công tác đối với đạo Tin lành; Chỉ
thị số 1940/CT-TTg ngày 31/12/2008 về nhà, đất liên quan đến tôn giáo,…
cùng nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác như Luật Hình sự, Luật Tố tụng
Hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai,… đã tạo nên một hành lang pháp lý
bảo đảm quyền lợi của các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam; giúp các cơ quan
quản lý nhà nước nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác tôn giáo, phát huy sức
mạnh đoàn kết toàn dân tộc; là công cụ đảm bảo quyền tự do bình đẳng tôn
giáo, ngăn ngừa, xử lý các vi phạm pháp luật của mọi tổ chức, cá nhân tham
gia hoạt động tôn giáo.
Các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội trong lĩnh
vực tôn giáo, nhất là “Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016”, được ban hành
và áp dụng vào thực tiễn Việt Nam mới đây và tiếp tục được thể chế hóa như
Nghị định số 162/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 của Chính phủ quy định chi
tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã tạo hành
lang pháp lý thuận lợi trong việc bảm đảm quyền tự do tôn giáo và quyền tự
do không tôn giáo của người dân; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công
tác tôn giáo.
18


1.2.2. Quy định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo
Chủ thể QLNN về tôn giáo, bao gồm: Chính phủ; Bộ Nội vụ; Ban Tôn
giáo Chính phủ; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Sở Nội vụ; Cấp huyện; Cấp xã.
Theo quy định tại Điều 61, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 về trách
nhiệm quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo như sau:
Chính phủ thống nhất QLNN về tôn giáo trong phạm vi cả nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status