Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn tỉnh hưng yên - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ NGOAN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÔNG CHỨC TẠI CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN
TỈNH HƯNG YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ NGOAN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÔNG CHỨC TẠI CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN
TỈNH HƯNG YÊN

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐỖ TÁ KHÁNH

HÀ NỘI, 2019


2.3. Kết quả đào tạo, bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn tỉnh Hưng Yên
......................................................................................................................................... 45
Chương 3. CÁC GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG TÁC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC TẠI CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN
TỈNH HƯNG YÊN ............................................................................................................ 52
3.1. Quan điểm đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên
môn của tỉnh Hưng Yên ................................................................................................... 52
3.2. Các giải pháp và kiến nghị để đổi mới công tác thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn tỉnh Hưng Yên ....................................... 55
KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 68


DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
CBCC

Cán bộ, công chức

CC

Công chức

CCHC

Cải cách hành chính

CQCM

Cơ quan chuyên môn


3 yếu tố đó là: Hệ thống thể chế để quản lý xã hội theo pháp luật, bao gồm hệ
thống các văn bản pháp luật là cơ sở để quản lý Nhà nước; cơ cấu tổ chức và
cơ chế vận hành của bộ máy hành chính các cấp, các ngành từ Chính phủ đến
chính quyền cơ sở; đội ngũ CBCC tại các CQCM bao gồm những người thực
thi công vụ trong bộ máy hành chính công quyền, không kể những người lâu
nay gọi là viên chức nhà nước nhưng làm việc ở các doanh nghiệp Nhà nước
hoặc các đơn vị sự nghiệp, dịch vụ không thuộc bộ máy công quyền.
CC là một mắt xích quan trọng không thể thiếu của bất kỳ nền hành
chính nào. Chất lượng CC ảnh hưởng đến chất lượng hiệu quả hoạt động của
bộ máy Nhà nước từ Trung ương xuống cơ sở. Hiệu lực, hiệu quả quản lý
Nhà nước là kết quả của hiệu quả hoạt động của đội ngũ CC, CC tại các
CQCM Nhà nước.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VII đã chỉ rõ trong công cuộc
đổi mới “cán bộ có vai trò quan trọng, hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình
đổi mới” [13]. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng cũng đề ra mục tiêu xây dựng
đội ngũ cán bộ giai đoạn 2011-2020 là: “Xây dựng đội ngũ CBCC, viên chức
có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên
nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân”.
Kể từ khi ra đời cho đến nay, Đảng ta luôn xác định xây dựng đội ngũ
cán bộ là khâu then chốt trong sự nghiệp cách mạng, xây dựng và phát triển
đất nước. Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khóa VII), Hội nghị Trung ương lần
thứ 6 (khóa IX) của Đảng đã khẳng định CCHC Nhà nước và chiến lược cán
1


bộ, trong đó có nội dung xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC là
một trong những đường lối trọng tâm của Đảng ta.
Trong những năm gần đây, đội ngũ CC nói chung đã thể hiện bản lĩnh
chính trị vững vàng; khẳng định được vai trò của mình trong việc thay mặ
Nhà nước thực thi quền hành pháp góp phần vào sự nghiệp phát triển, đổi mới

Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm, Nxb Chính trị quốc gia, 2003
[51]; qua công trình nghiên cứu của tác giả, người đọc hiểu rõ hơn về lịch sử
phát triển của các khái niệm về CBCC, viên chức; giải thích hệ thống hóa các
căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC.
+ “Xây dựng đội ngũ CBCC đáp ứng đòi hỏi của nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” của TS.Thang Văn Phúc và
TS.Nguyễn Minh phương, 2004 [5]. Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm cơ
bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản
Việt Nam về vai trò, vị trí người cán bộ cách mạng, cũng như yêu cầu đào tạo,
xây dựng đội ngũ CBCC; tìm hiểu những bài học kinh nghiệm về việc tuyển
chọn và sử dụng nhân tài trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước
của của dân tộc ta, cũng như kinh nghiệm xây dựng nền công vụ chính qui
hiện đại của các nước trong khu vực và trên thế giới.
+ “Chiến lược phát triển đội ngũ CBCC 2001-2010” của Viện Khoa
học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ [58].
Đề tài nghiên cứu về “ĐTBD cán bộ, lãnh đạo cấp tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương trong hệ thống chính trị ở nước ta” của Ban Tổ chức Trung
ương [2], đã tập trung xác định rõ những yêu cầu, nguyên tắc, những khó
khăn và đưa ra những biện pháp khắc phục cho công tác ĐTBD cán bộ lãnh
đạo ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

3


- Các bài viết, nghiên cứu đăng trên tạp chí chuyên ngành
+ “Cải cách nền hành chính quốc gia ở nước ta” của GS.TS Nguyễn
Duy Gia (1996, NXB chính trị quốc gia) [19].
+ “Tổng quan về nền hành chính nhà nước Việt Nam”của Giáo sư
Đoàn Trọng Tuyến (1996, NXB chính trị quốc gia) [49].
+ “Pháp luật về công vụ và đạo đức công vụ” của GS.TS Phạm Hồng

4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Là CC làm việc tại các CQCM cấp tỉnh, cấp huyện gồm:17 sở, ngành
và tương đương; 10 UBND huyện, thành phố của tỉnh Hưng Yên.
- Công tác ĐTBD CC tại các CQCM tỉnh Hưng Yên.
- Nghiên cứu về thực tiễn thực hiện chính sách ĐTBD CC tại các
CQCM tỉnh Hưng Yên đáp ứng với công cuộc đổi mới hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: CC làm việc tại các CQCM cấp tỉnh, cấp huyện
gồm: 17 sở, ngành và tương đương; 10 UBND huyện, thành phố của tỉnh
Hưng Yên.
- Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu chính sách được thực hiện
trong giai đoạn 2014-2018.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước nói
chung và Đảng bộ, chính quyền tỉnh Hưng Yên nói riêng về ĐTBD CC tại các
CQCM.

5


5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng kết hợp các
phương pháp nhằm đánh giá được ưu, nhược điểm trong quá trình thực hiện
chính sách để dự báo xu hướng phát triển đề ra chính sách giai đoạn tới, cụ
thể các phương pháp nghiên cứu như sau:
Phương pháp phân tích: Dùng để phân tích thực trạng, các yếu tổ tác
động đến cơ hội và thách thức của quá trình thực hiện chính sách ĐTBD CC
tại các CQCM tỉnh Hưng Yên.

trường chính trị của tỉnh Hưng Yên nhằm ĐTBD CC tại các CQCM tỉnh
Hưng Yên đạt kết quả cao.
- Các giải pháp nêu trong luận văn có thể áp dụng để đổi mới công tác
thực hiện chính sách ĐTBD CC tại các CQCM tỉnh Hưng Yên.
7. Kết cấu của luận văn
Luậ văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
công chức tại các cơ quan chuyên môn tỉnh Hưng Yên.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công
chức tại các cơ quan chuyên môn tỉnh Hưng Yên.
Chương 3: Các giải pháp đổi mới công tác thực hiện chính sách đào
tạo, bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn tỉnh Hưng Yên.

7


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO,
BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC TẠI CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN
1.1. Khái niệm, đặc điểm công chức tại các cơ quan chuyên môn
1.1.1. Khái niệm công chức
Căn cứ vào Luật CBCC 2008, ngày 25 tháng 01 năm 2010 Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 06/2010/NĐ-CP tại Điều 2 và Thông tư hướng dẫn
số 08 ngày 02 tháng 06 năm 2011của Bộ Nội vụ tại Điều 1, quy định những
người là CC như sau:
“CC là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc
được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của
pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định
này”. [33].

nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cùng cấp theo quy định
của pháp luật, góp phần đảm bảo sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh
vực công tác từ trung ương đến cơ sở. CQCM gồm CQCM cấp tỉnh và
CQCM cấp huyện.
- CQCM thuộc UBND cấp tỉnh gọi là CQCM cấp tỉnh gồm có sở và cơ
quan ngang sở (gọi chung là sở).
Sở là cơ quan thuộc UBND cấp tỉnh; thực hiện chức năng tham mưu,
giúp UBND cấp tỉnh QLNN về ngành, lĩnh vực ở địa phương theo quy định
của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của UBND cấp tỉnh, Chủ tịch
UBND cấp tỉnh.
- CQCM thuộc UBND cấp huyện gọi là CQCM cấp huyện gồm có
phòng và cơ quan tương đương phòng (gọi chung là phòng).

9


Phòng thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản lý
nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ,
quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp huyện và theo quy định của pháp
luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công
tác ở địa phương.
Phòng chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế CC,
cơ cấu ngạch CC và công tác của UBND cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ
đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của CQCM thuộc UBND
cấp tỉnh.
Do đó, các cơ quan sau đây không thuộc các CQCM như:
- Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu công nghệ cao, Khu kinh tế
và Ban Quản lý có tên gọi khác thuộc UBND cấp tỉnh;
- Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh;
các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc UBND cấp tỉnh và các tổ chức thuộc

tr.755].
Như vậy, đào tạo được coi là sau một quá trình lĩnh hội tri thức làm cho
người được đào tạo có thêm kiến thức chuyên môn, nghề nghiệp, kỹ năng
nghiệp vụ theo tiêu chuẩn nhất định do yêu cầu, đòi hỏi của công việc. Đào
tạo CC tại các CQCM để giúp cho họ đạt được những yêu cầu về trình độ
chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng nghiệp vụ theo tiêu chuẩn chung
đối với từng ngạch, chức danh của từng CC và phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi
của từng vị trí việc làm của CC đảm nhiệm trong CQCM.
Đào tạo CC nói chung, trong đó có CC tại các CQCM, chỉ giới hạn
trong phạm vi điều chỉnh của Luật CBCC và một số văn bản pháp luật của
Nhà nước có liên quan; được tiến hành chủ yếu ở các cơ sở đào tạo CBCC
được Đảng và nhà nước giao nhiệm vụ như: Học viện Hành chính; các Học
viện, Trường, Trung tâm ĐTBD CC của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan

11


thuộc Chính phủ; các Trường Chính trị; các Trung tâm Chính trị trong cả
nước nhằm thực hiện công cuộc cải cách hành chính nhà nước ta hiện nay.
Trước đây, trong công tác ĐTBD CBCC chúng ta thường sử dụng khái
niệm “đào tạo lại” để nói đến quá trình ĐTBD những kiến thức mới cho
CBCC khi có nhu cầu hoặc do có sự thay đổi vị trí việc làm nên yêu cầu phải
được cập nhật bổ sung kiến thức mới. Hiện nay, khái niệm này không còn
được sử dụng bởi tính đa nghĩa của nó.
Khái niệm “đào tạo” trong “ĐTBD CC” cũng có nhiều ý nghĩa khác
nhau so với khái niệm đào tạo thuần túy được sử dụng chung trong xã hội và
hệ thống giáo dục quốc dân. Bởi, “đào tạo” trong “ĐTBD CC” gần giống với
“bồi dưỡng”. Nhưng khác với “bồi dưỡng” là đào tạo còn trang bị kiến thức,
kỹ năng mới mà trước đó người CC có thể chưa được học, chưa được đào tạo.
1.2.1.2. Khái niệm bồi dưỡng

trước đó người CC chưa được đào tạo thì bồi dưỡng được xem là quá trình
nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức kỹ năng nghiệp vụ, nghề nghiệp.
1.2.2. Chủ thể đào tạo, bồi dưỡng tại các cơ quan chuyên môn
Ngày 01 tháng 9 năm 2017 Chính phủ ban hành Nghị định số
101/2017/NĐ-CP về ĐTBD CBCC [9], viên chức đã quy định chủ thể ĐTBD
CC như sau:
- Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức chương trình bồi
dưỡng lý luận chính trị theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp huyện
và tương đương; cấp sở và tương đương; Chương trình bồi dưỡng lý luận
chính trị theo tiêu chuẩn ngạch CC, tiêu chuẩn chức danh CBCC, viên chức
và chương trình bồi dưỡng khác do cấp có thẩm quyền giao;
- Học viện Hành chính Quốc gia tổ chức chương trình bồi dưỡng kiến
thức quản lý nhà nước trước khi bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp
huyện và tương đương, cấp sở và tương đương; chương trình bồi dưỡng kiến

13


thức quản lý nhà nước theo tiêu chuẩn ngạch chuyên viên cao cấp và tương
đương và chương trình bồi dưỡng khác do cấp có thẩm quyền giao;
- Trường Chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức
chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo,
quản lý cấp phòng và tương đương; Chương trình bồi dưỡng kiến thức quản
lý nhà nước trước khi bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp phòng và
tương đương; chương trình bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước theo tiêu
chuẩn ngạch cán sự và tương đương; ngạch chuyên viên và tương đương;
ngạch chuyên viên chính và tương đương và chương trình bồi dưỡng khác do
cấp có thẩm quyền giao;
- Cơ sở ĐTBD CBCC của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương tổ chức chương trình bồi dưỡng

thành chương trình đào tạo trong thời gian ít nhất gấp 2 lần thời gian đào tạo;
chuyên ngành đào tạo phù hợp với vị trí việc làm; CC được cử đi học theo các
chương trình hợp tác với nước ngoài được ký kết hoặc gia nhập nhân danh
Nhà nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngoài các
quy định nêu trên còn phải đáp ứng yêu cầu khác của chương trình hợp tác;
Trường hợp CC được cử đi đào tạo từ trình độ trung cấp trở lên bằng nguồn
ngân sách nhà nước hoặc kinh phí của cơ quan quản lý, sử dụng CBCC, viên
chức nếu tự ý bỏ học, bỏ việc hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc
trong thời gian đào tạo; không được cơ sở đào tạo cấp văn bằng tốt nghiệp; đã
hoàn thành và được cấp văn bằng tốt nghiệp khóa học nhưng bỏ việc hoặc
đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc khi chưa phục vụ đủ thời gian cam
kết thì phải đền bù chi phí đào tạo.
Điều kiện bồi dưỡng ở nước ngoài; Đối với các khóa bồi dưỡng có thời
gian dưới 01 tháng CC phải còn đủ tuổi để công tác ít nhất 18 tháng tính từ
khi khóa bồi dưỡng bắt đầu; Đối với các khóa bồi dưỡng có thời gian từ 01
tháng trở lên CC phải còn đủ tuổi để công tác ít nhất 02 năm tính từ khi khóa

15


bồi dưỡng bắt đầu; Không trong thời gian xem xét, xử lý kỷ luật hoặc trong
thời gian thi hành kỷ luật từ khiển trách trở lên; không thuộc trường hợp chưa
được xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định của pháp luật; CC được cử đi bồi
dưỡng phải hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong năm trước liền kề;
Chuyên môn, nghiệp vụ của CC được cử đi bồi dưỡng phải phù hợp với nội
dung của khóa bồi dưỡng; Có sức khỏe bảo đảm đáp ứng yêu cầu khóa bồi
dưỡng.
- Nội dung chính sách ĐTBD CC tại các CQCM nhà nước:
Nội dung ĐTBD CC tại các CQCM nhà nước được xác định dựa trên
cơ sở của mục tiêu ĐTBD CC; là yếu tố quan trọng của công tác ĐTBD. Trên

máy thông suốt, có hiệu quả.
Đây là nội dung quan trọng, bởi hiện nay CBCC đang rất hạn chế về
khả năng tổ chức và thực hiện công việc; phần lớn CBCC đều nắm rõ chức
năng, nhiệm vụ của mình, nhưng việc tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ
thế nào; làm sao để không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả công
việc,… thì còn nhiều lúng túng, bị động tạo nên tâm lý chờ đợi.
- ĐTBD kiến thức pháp luật; kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước và
quản lý chuyên ngành: CC tại các CQCM là người thực hiện các mục tiêu
chính trị của Đảng, nhà nước, là người trực tiếp thực hiện chức năng quản lý
nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội nên họ cần hiểu biết một cách
chính xác, đầy đủ chính sách, pháp luật của nhà nước. Mặt khác, CC tại các
CQCM cần phải có những kỹ năng nghề nghiệp riêng, chuyên biệt hơn so với
trước đây. Những kỹ năng chung cần có đối với CC tại các CQCM trong giai
đoạn hiện nay là: kỹ năng ra quyết định; kỹ năng lập kế hoạch; kỹ năng làm
việc nhóm; kỹ năng quản lý thời gian; kỹ năng giao tiếp, ứng xử; kỹ năng
soạn thảo văn bản; kỹ năng tổ chức cuộc họp,... Ngoài ra, với từng vị trí công
tác người CC cần được đào tạo những kỹ năng chuyên biệt. Đối với CC lãnh

17


đạo cần đào tạo thêm các kỹ năng như: kỹ năng lãnh đạo; kỹ năng ủy quyền;
kỹ năng điều hành cuộc họp; kỹ năng quản lý nhân sự,…
- ĐTBD tin học, ngoại ngữ: Nhằm trang bị cho CC những tri thức cần
thiết trong quá trình thực thi công vụ. Trong thời đại tri thức, người CC phải
biết sử dụng tin học như một công cụ thiết yếu nhằm từng bước hiện đại hoá
và tăng cường năng lực của nền hành chính nhà nước. Biết sử dụng ngoại ngữ
để tăng cường khả năng giao dịch, kết nối, nghiên cứu tài liệu nước ngoài
phục vụ cho công việc.
- ĐTBD kiến thức, kinh nghiệm hội nhập quốc tế để CC có đủ tri thức,

nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC hiện nay, do có khả năng tiếp thu tốt, có
kinh nghiệm trong cuộc sống và công việc nên việc áp dụng một số phương
pháp đào tạo cũng dễ dàng hơn với những đối tượng khác.
Phương pháp theo nghĩa chung nhất là tổng hợp tất cả cách thức giúp
người dạy (giảng viên) truyền đạt tốt nhất những kiến thức, kỹ năng cho
người học (học viên) để người học có thể tiếp thu tốt nhất những nội dung,
kiến thức, kỹ năng mà giảng viên truyền thụ.
CC tại các CQCM là những người trưởng thành về mặt thể chất và xã
hội, họ được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong
các cơ quan của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Đây là
đối tượng ĐTBD đặc biệt có hai vai trò: khi đi học họ là đối tượng ĐTBD, khi
ra trường họ đóng vai trò trong việc giải thích, hướng dẫn nhân dân thực hiện
chính sách pháp luật của nhà nước. Do tính chất đặc thù đó nên phương pháp
ĐTBD đòi hỏi phải có những đặc điểm riêng, thiết kế phù với với đối tượng
được đào tạo.
Hiện nay, ĐTBD CC tại các CQCM được xác định bằng nhiều phương
pháp đa dạng khác nhau như: phát huy tính tự giác, chủ động nghiên cứu, trao
đổi thông tin, kiến thức và kinh nghiệm giữa giảng viên với học viên và giữa
các học viên với nhau; các phương pháp đối thoại, đề ra các tình huống thảo

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status