VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ TUẤN ANH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH Ở TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số
: 834 04 02
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Trần Minh Tuấn
Hà Nội - 2018
MỤC LỤC
Chương 1
1.1
MỞ ĐẦU
1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH
Chương 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI
34
DƯỠNG CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH Ở TỈNH NINH BÌNH
2.1
Khái quát về đội ngũ công chức hành chính của tỉnh Ninh Bình hiện
34
nay
2.2
Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức
42
của tỉnh Ninh Bình
2.3
Chương 3
Đánh giá chung về tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡngcông
chức hành chính ở tỉnh Ninh Bình
53
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND
- Hội đồng nhân dân
UBND
- Ủy ban nhân dân
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Cơ cấu độ tuổi của công chức hành chính ..................................... 34
Bảng 2.2. Trình độ chuyên môn của công chức hành chính ........................... 35
Bảng 2.3. Trình độ lý luận chính trị của công chức hành chính .................... 36
Bảng 2.4. Trình độ quản lý nhà nước công chức hành chính ........................ 37
Bảng 2.5. Thực trạng trình độ ngoại ngữ của công chức hành chính ............. 37
Bảng 2.6. Thực trạng trình độ tin học của công chức hành chính. ....................38
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công chức hành chính có vai trò rất quan trọng trong tổ chức và vận
động nhân dân tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức
mạnh và quyền làm chủ của nhân dân, huy động các nguồn lực phát triển kinh
tế - xã hội. Chất lượng hiệu quả làm việc của công chức quyết định đến hiệu
quả, hiệu lực của chính quyền. Nơi nào có đội ngũ công chức có trình độ, tinh
nước và cấp cơ sở.
Từ nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của cán bộ, công chức và tầm quan
trọng của việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức việc thực hiện chính sách
cán bộ, công chức đội ngũ cán bộ, công chức trong cả nước nói chung và ở
tỉnh Ninh Bình nói riêng luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền ở tỉnh Ninh
Bình quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc trên cơ sở bám sát chủ
trương, đường lối và các quy định của Đảng, Chính phủ. Tuy nhiên, bên cạnh
các các kết quả đạt được, việc thực hiện chế độ chính sách đào tạo, bồi dưỡng
công chức hành chính của tỉnh còn bộc lộ nhiều bất cập như: một số văn bản
của tỉnh quy định về chế độ chính sách cho cán bộ, công chức được cử đi đào
tạo, bồi dưỡng còn dàn trải, chế độ chính sách hỗ trợ được ban hành những
năm trước đây chưa được sửa đổi không còn phụ hợp với điều kiện hiện nay,
do vậy chưa tạo nên được sự khuyến khích, động viên cho cán bộ công chức
đi học; đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng còn dàn trải chưa thực sự gắn với
vị trí việc làm của công chức; nguồn ngân sách hàng năm dành cho đào tạo,
bồi dưỡng, công chức hành chính của tỉnh còn hạn chế nhất là nguồn ngân
sách dành cho thu hút tài năng và đào tạo đội ngũ công chức chất lượng cao;
công tác thanh tra, kiểm tra chưa thường xuyên, chưa có cơ chế kiểm soát
việc thực hiện kết luận sau kiểm tra... Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến
hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính.
2
Với mong muốn đóng góp các đề xuất của mình trong việc thực hiện
chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính ở tỉnh Ninh Bình nói
riêng và trong cả nước nói chung, em lựa chọn đề tài “Thực hiện chính sách
đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính ở tỉnh Ninh Bình” để nghiên cứu
luận văn thạc sỹ Chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đào tạo, bồi dưỡng là một lĩnh vực nhận được sự quan tâm của đông đảo
tạo, bồi dưỡng, về đội ngũ giảng viên và cán bộ, công chức quản lý nhà nước
về đào tạo, bồi dưỡng, về áp dụng hệ thống quản lý chất lượng TCVN ISO
9001:2000 và về đôn đốc, giám sát, đánh giá nhằm nâng cao chất lượng, hiệu
quả quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay [50].
- Tô Tử Hạ (1998), “Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức hiện nay”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Trong cuốn
sách này tác giả đã luận giải quan niệm về đào tạo, bồi dưỡng công chức,
những căn cứ thực tiễn, pháp lý tác động đến hoạt động đào tạo, bồi dưỡng,
mục đích, mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng trong giai đoạn hiện nay, quan điểm để
hoàn thiện từng bước hệ thống đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính nhà
nước, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cải cách hành chính nhà nước. Tác
phẩm này đã nêu nhiều nhận định có ý nghĩa và chúng tôi đã tiếp thu khi làm
luận văn của mình [16].
- Bộ Nội vụ (2008), trong cuốn “Tài liệu Bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức”, đã nêu lên nội dung, ưu điểm, tồn tại và
phương hướng quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Việt
Nam trong thời gian tới, những vấn đề chung về quản lý nhà nước đối với công
tác đào tạo, bồi dưỡng. Cuốn sách đã nêu lên những gợi ý quan trọng cho tác giả
luận văn khi nghiên cứu và đưa ra những đề xuất trong đề tài của mình [2].
- Bộ Nội vụ (2011), “Tài liệu Hội nghị Tổng kết 5 năm (2006 - 2010)
thực hiện Quyết định số 40/2006/QĐ-TTg và triển khai Quyết định số
4
1374/QĐ-TTg về việc phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức giai đoạn 2011 - 2015”.[35] Tài liệu đã đánh giá ưu điểm, tồn tại trong
triển khai đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2006 - 2010, đồng
thời đề ra phương hướng giải pháp để tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ năng lực, phẩm chất,
trong UBND các huyện, thành phố và cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh
nói riêng.
Tuy nhiên đến nay chưa có một đề tài nào nghiên cứu trực tiếp về thực
hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính xét từ thực tiễn một
địa phương cụ thể như tỉnh Ninh Bình. Vì vậy, việc lựa chọn đề tài này là cần
thiết và không mang tính trùng lắp.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng
thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính ở tỉnh Ninh
Bình, luận văn đề xuất định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính ở tỉnh Ninh Bình giai
đoạn tới:
- Nhiệm vụ: Luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
+ Một là, nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực hiện chính
sách đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính;
+ Hai là, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
công chức hành chính ở tỉnh Ninh Bình dưới góc độ khoa học chính sách công;
+ Ba là, đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo vị trí việc làm
trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh tỉnh Ninh Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
công chức hành chính tỉnh Ninh Bình
6
- Phạm vi về nội dung: Do giới hạn về trình độ và thời gian nên đề tài
chỉ tập trung vào nghiên cứu thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công
chức hành chính tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh và UBND cấp
giá, tổng kết rút kinh nghiệm từ đó cung cấp những vấn đề có giá trị tham khảo
cho việc nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức
hành chính ở địa phương.
+ Luận văn cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan, ban, ngành trong
quá trình hoạch định và thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng đối với công
chức hành chính ở địa phương.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, Luận văn được kết cấu làm 3
chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức hành chính.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công
chức hành chính ở tỉnh Ninh Bình.
Chương 3: Mục tiêu, định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính ở tỉnh Ninh Bình.
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH
1.1. Một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách đào tạo, công
chức hành chính
1.1.1. Các khái niệm cơ bản có liên quan
1.1.1.1. Khái niệm công chức hành chính
a) Khái niệm về công chức:
Công chức là một bộ phận quan trọng của nền hành chính nhà nước, đảm
bảo cho nền hành chính hoạt động thông suốt, thống nhất và có hiệu quả.
Khái niệm công chức được sử dụng từ khá sớm và cũng phổ biến ở nhiều
đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương
từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý
của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn
vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [23, tr.1-2].
Năm 2010, căn cứ vào Nghị định số 06/2010/NĐ-CP, ngày 25/01/2010
của Chính phủ có thể xác định: “Công chức là công dân Việt Nam, được
tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng
lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự
nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [5, tr.1] .
b)Khái niệm về hành chính:
Theo tiếng Latinh cổ, thuật ngữ “hành chính”(administration) có hai
nghĩa phân biệt nhau: giúp đỡ, hỗ trợ hay phục vụ - (một người hay một nhóm
người dành cho một người hay một nhóm người khác) và quản lý, hướng dẫn
hay cai trị (một người hay một nhóm người đối với một người hay một nhóm
người khác).
Theo nghĩa rộng hành chính có thể hiểu là chỉ những hoạt động những
tiến trình chủ yếu có liên quan đến những biện pháp để thực thi những mục
tiêu, những nhiệm vụ đã được xác định trước. Hành chính là những biện pháp
tổ chức của một nhóm người hoặc các nhóm người trong hoạt động với nhau
để hoàn thành mục tiêu mà cả nhóm người đó muốn hướng tới. [47]
Theo Từ điển Luật học hành chính là nền hành chính nhà nước ( hay còn
gọi là nền hành chính công) “ là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, do
10
các chủ thể sử dụng quyền lực nhà nước tiến hành để quản lí công việc của
Nhà nước nhằm phục vụ lợi ích chung, lợi ích hợp pháp của các tổ chức và
công dân”.[46] Hành chính xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước; nó
là một hệ thống thiết chế, cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức thi
hành công vụ, do các cơ quan có tư cách pháp nhân công quyền tiến hành
dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong biên chế và hưởng
lương từ ngân sách nhà nước, giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan
nhà nước gồm: Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang bộ, một số cơ quan thuộc
Chính phủ, UBND các cấp và một số cơ quan chuyên môn của UBND các
cấp. Công chức hành chính giữ một vai trò quan trọng trong bộ máy và trong
xã hội, đảm bảo cho bộ máy hoạt động liên tục,hiệu quả, giữ vững ổn định và
thúc đẩy xã hội phát triển”.
1.1.1.2. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng
Đào tạo, bồi dưỡng là một trong những hoạt động quan trọng của phát
triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển nguồn nhân lực hành chính
nhà nước nói riêng.
- Đào tạo: là một quá trình truyền thụ kiến thức mới để người cán bộ,
công chức thông qua đó trở thành người có văn bằng mới hoặc cao hơn trình
độ trước đó như: đào tạo để cấp bằng lý luận chính trị cao cấp, đào tạo cử
nhân hành chính, cử nhân chính trị, đào tạo sau đại học. Đặc trưng của việc
đào tạo gắn liền với một trình độ học vấn có cấp bậc, vì vậy sau một quá trình
đào tạo mỗi người học được cấp bằng. Thông thường, đào tạo là một quá trình
trang bị kiến thức cơ bản mới hoặc ở trình độ cao hơn, nên thời gian đào tạo
thời dài hơn so với bồi dưỡng. Khoá đào tạo ít nhất phải tương đương với một
năm học (09 tháng trở lên).
Theo Khoản 1, Điều 5, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP của Chính phủ ban
hành ngày 05/3/2010 về đào tạo, bồi dưỡng công chức đã định nghĩa: “Đào
tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo
quy định của từng cấp học, bậc học”[5, tr.2].
Như vậy, có thể hiểu đào tạo là việc trang bị các kiến thức, kinh nghiệm,
kỹ năng nhằm phát triển các cá nhân để đóng góp cho sự phát triển xã hội.
Thông thường, hoạt động đào tạo được tổ chức trong những cơ sở giáo dục
đào tạo như: trường học, học viện, trung tâm dạy nghề hoặc tại cơ sở sản xuất
12
13
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức khác với đào tạo trong chương trình
giáo dục quốc dân ở chỗ: Giáo dục quốc dân (trung học, cao đẳng, đại học, trên
đại học) có trách nhiệm cung cấp nguồn nhân lực trí tuệ cho toàn xã hội, trong
đó có cả nguồn nhân lực dự trữ cho bộ máy nhà nước [23]. Trái lại, đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức chỉ diễn ra trong phạm vi nguồn nhân lực trong bộ
máy các cơ quan nhà nước, chỉ áp dụng đối với cán bộ, công chức.
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là một chiến lược nhằm bảo đảm
thực tiễn quản lý nhà nước có hiệu lực, hiệu quả, vừa đáp ứng những thay đổi
bên ngoài như xu thế toàn cầu hoá, những vấn đề cải cách công vụ. đào tạo, bồi
dưỡng công chức là phương tiện để đạt tới mục đích cuối cùng nhằm xây dựng,
nâng cao chất lượng đội ngũ công chức. Do vậy, đào tạo, bồi dưỡng được tiến
hành ở nhiều nội dung, bằng nhiều biện pháp và ở các cấp khác nhau, với các
đối tượng công chức khác nhau (công chức cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp
huyện; cấp xã).
1.1.1.3. Khái niệm chính sách đào tạo, bồi dưỡng
“Chính sách” là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu
và trên các phương tiện truyền thông, tuy nhiên cho đến nay vẫm khó có thể
đưa ra một định nghĩa duy nhất. Theo cách hiểu thông thường, chính sách là
chương trình hành động do các nhà lãnh đạo, quản lý đưa ra để giải quyết một
vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình. Chính sách là khái niệm
thường đề cập trong khoa học hành chính, nhưng thực sự nó còn là phạm trù
khoa học chính trị.
Tùy theo các cách tiếp cận khác nhau, có thể có các định nghĩa khác
nhau về chính sách.
Theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 03 năm 2010 của Chính
phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức (có hiệu lực thi hành kể từ ngày
1.1.2. Vai trò của thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức
hành chính
1.1.2.1. Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhằm đưa chính sách
gắn liền với thực tiễn
Trong quá trình quản lý, điều hành nền kinh tế nhiều thành phần hoạt
động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước phải giải
quyết nhiều mối quan hệ khác nhau. Có đối tượng quan hệ với Nhà nước là
15
đồng sở hữu như các đối tượng thuộc các thành phần kinh tế nhà nước; có
những đối tượng mà tính chất sở hữu gần với sở hữu nhà nước, được nhà
nước kết hợp với thành phần kinh tế nhà nước để xây dựng nền tảng của nền
kinh tế. Trong hệ thống các thành phần hiện có, kinh tế nhà nước giữ vai trò
chủ đạo. Do địa vị kinh tế, chính trị, xã hội và pháp lý của từng đối tượng
thuộc các thành phần này không giống nhau, nên vai trò của chúng đối đối với
sự nghiệp phát triển xã hội đất nước cũng khác nhau. Để phát huy tác dụng
của các đối tượng trong quá trình vận động đến mục tiêu, nhà nước phaỉ xử lý
thích hợp trước mỗi vấn đề phát sinh trong thực tế.
Trong quản lý xã hội, công cụ được nhà nước dùng chuyển tải thái độ
ứng xử của mình đến các đối tượng quản lý là chính sách. Tùy theo yêu cầu
quản lý phát triển nền kinh tế ở từng thời kỳ, nhà nước chủ động ban hành các
chính sách công để thể hiện ý chí trong quan hệ với các thành phần kinh tế
theo định hướng. Như vậy có thể nói, thực thi chính sách công là giai đoạn
biến thái độ ứng xử nhà nước nhằm đưa ý đồ chính sách thành hiện thực.
1.1.2.2. Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhằm từng bước thực
hiện các mục tiêu chính sách và mục tiêu chung
Đào tạo, bồi dưỡng công chức là việc làm liên tục, nhưng mỗi giai đoạn
có những mục tiêu, mục đích cụ thể. Mục tiêu thực chất là kế hoạch hoá một
cách cụ thể, chi tiết về thời gian, khối lượng công việc để có thể thực hiện
chính sách
Chính sách đúng đắn là chính sách đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của một
chính sách tốt. Tuy nhiên, một chính sách khi hoạch định được coi là tốt thì
giá trị của nó cũng mới chỉ dừng lại ở phương diện nguyện vọng, mong muốn
mà thôi, là sự thừa nhận của chủ thể ban hành chính sách. Một chính sách
được triển khai thực hiện rộng rãi trong đời sống xã hội, thì tính đúng đắn ở
mức độ cao hơn, tức là cả xã hội thừa nhận, nhất là đối tượng thừa hưởng
chính sách.
1.1.3. Các chủ thể thực hiện chính sách đối với công chức hành chính
Hiệu quả quản lý nhà nước phụ thuộc vào chủ thể, khách thể, mục tiêu,
phương pháp và công cụ quản lý. Chính sách là công cụ được Nhà nước dùng
để điều hành hoạt động kinh tế - xã hội. Do đó, chủ thể ban hành chính sách là
17
Nhà nước, cụ thể là hệ thống các cơ quan nhà nước được hình thành từ Trung
ương đến địa phương.
- Ở Trung ương, Bộ Nội vụ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng công chức thống nhất trên phạm
vi toàn quốc, với các nhiệm vụ, quyền hạn [3, tr.62]:
(1) Xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo
thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật, chế độ, chính sách về đào tạo,
bồi dưỡng, công chức;
(2) Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công
chức trình cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc ban hành theo thẩm quyền; tổ
chức, hướng dẫn thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi
dưỡng sau khi được ban hành; theo dõi, tổng hợp kết quả đào tạo, bồi dưỡng
của UBND cấp tỉnh trực thuộc Trung ương;
(3) Tổng hợp nhu cầu, đề xuất kinh phí đào tạo, bồi dưỡng công chức
1.2. Các nội dung thực hiện chính sách đào tạo công chức hành chính
1.2.1. Ban hành các văn bản theo thẩm quyền để tổ chức thực hiện
chính sách
Văn bản quy phạm pháp luật là phương tiện quản lý đào tạo, bồi dưỡng
công chức. Để quản lý đào tạo, bồi dưỡng có nhiều phương tiện, biện pháp,
nhưng văn bản quy phạm pháp luật là phương tiện quan trọng nhất bởi lẽ:
Thứ nhất, nó là phương tiện để thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước đối với đào tạo, bồi dưỡng.
Thứ hai, dựa vào văn bản quy phạm pháp luật để xác định rõ chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng ở
các cấp quản lý.
Thứ ba, dựa vào văn bản quy phạm pháp luật để kiểm tra, kiểm soát hoạt
động của các tổ chức, cơ quan, cũng như công chức làm quản lý đào tạo, bồi
dưỡng.
1.2.2. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng công chức hành chính
Để đưa chính sách thực thi vào đời sống thì cần phải xây dựng kế
hoạch cụ thể, phải có những nhìn nhận, đánh giá về hiệu lực, hiệu quả thực
hiện chính sách. Đây là một quá trình phức tạp và diễn ra trong một khoảng
19
thời gian dài, cần có kế hoạch sát theo thực tế đảm bảo đúng với chủ trương
đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Kế hoạch thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng phải hướng đến mục
tiêu nhằm trang bị thêm kiến thức về lý luận chính trị; kỹ năng quản lý hành
chính nhà nước; chuyên môn nghiệp vụ; kiến thức ngoại ngữ, tin học và các
kiến thức bổ trợ khác để xây dựng đội ngũ công chức hành chính của tỉnh có
đủ phẩm chất năng lực, kỹ năng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ phát
triển của tỉnh, nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị xã hội. Duy trì số
Bước 3: Nắm thực trạng đội ngũ công chức hành chính của tỉnh và công
tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng;
Bước 4: Xây dựng đề cương khái quát và trao đổi đề cương trong bộ
phận chuẩn bị và xin ý kiến lãnh đạo;
Bước 5: Xây dựng đề cương chi tiết và trao đổi đề cương chi tiết trong
bộ phận chuẩn bị có sự tham gia của một số chuyên gia có kinh nghiệm về
quản lý và tổ chức triển khai đào tạo, bồi dưỡng công chức;
Bước 6: Viết dự thảo quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng;
Bước 7: Tổ chức Hội thảo, hội nghị để lấy ý kiến đối với dự thảo quy
hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng;
Bước 8: Chỉnh sửa dự thảo quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng trên
cơ sở góp ý trong hội thảo, hội nghị;
Bước 9: Gửi một bản dự thảo tới các cơ quan liên quan để lấy ý kiến
tham gia;
Bước 10: Bổ sung hoàn thiện dự thảo quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi
dưỡng;
Bước 11: Viết tờ trình và trình cấp có thẩm quyền ban hành. Hồ sơ trình
bao gồm: Tờ trình, bản dự thảo quy hoạch, kế hoạch, bản tổng hợp ý kiến
đóng góp của các cơ quan hữu quan, các bản góp ý của các cơ quan hữu quan;
phụ lục về số liệu, bảng biểu thống kê cơ cấu, trình độ, nhu cầu và kết quả
quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. [17, tr 206-208]
1.2.2.2. Kế hoạch cung cấp nguồn vật lực
Nguồn kinh phí chủ yếu đảm bảo công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức
hành chính lấy từ ngân sách nhà nước. Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương có trách nhiệm bố trí kinh phí từ ngân sách để thực hiện đào tạo, bồi
21