VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ THU
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC TỪ THỰC TIỄN
BẢO TÀNG HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2018
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO,
BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC ..........................................................9
1.1. Một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách đào tạo công chức, viên chức ...9
1.2. Nội dung thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ..22
1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách đào tạo công chức,
viên chức ..............................................................................................................28
Chương 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI
DƯỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC TẠI BẢO TÀNG HÀ NỘI ..................38
2.1. Tổng quan về bảo tàng hà nội .....................................................................38
2.3. Đánh giá chung hoạt động thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng
công chức, viên chức Bảo tàng Hà Nội giai đoạn 2011 – 2017 ....................55
Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC
TẠI BẢO TÀNG HÀ NỘI ......................................................................................59
hợp lý và có hiệu quả nguồn nhân lực thì kinh tế đất nước đó phát triển nhanh
chóng và bền vững. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, việc xây dựng một
nhà nước tinh gọn, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của việc
quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một yêu cầu cấp bách.
Chiến lược phát triển của mỗi quốc gia đều coi trọng việc tập trung xây
dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, coi đó là mấu chốt của sự phát triển. Xây
dựng nguồn nhân lực cao thực chất là nói đến xây dựng và phát huy sức mạnh cán
bộ, công chức, viên chức. Chính sách đào tạo công chức, viên chức là chiến lược
mang tính thời đại, là một vấn đề xã hội có tính toàn cầu, là mối quan tâm lớn của
nhiều quốc gia.
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức có vai trò đặc biệt quan
trọng trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, cập nhật những kiến
thức cần thiết về quản lý nhà nước, cải cách hành chính, kiến thức về hội nhập và
kỹ năng thực thi công việc để phục vụ yêu cầu của công dân, tổ chức ngày càng tốt
hơn. Thông qua đó, giúp họ nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và
trách nhiệm được giao, đồng thời hoàn thiện các tiêu chuẩn của ngạch và của từng
vị trí chức danh đang đảm nhiệm. Thời gian qua, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đã
được thực hiện tương đối tốt, song vẫn còn không ít những hạn chế cần được tiếp
tục đổi mới, khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu của tình hình mới hiện nay.
Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức trong những năm qua
không chỉ là mối quan tâm chung của tất cả các cấp, các ngành, từng cơ quan, đơn
vị; mà còn là mối quan tâm thiết thực của bản thân mỗi công chức. Hoạt động đào
tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực làm việc cho đội ngũ công chức, đặc biệt là
1
công chức, viên chức các cơ quan chuyên môn; là con đường giúp họ không ngừng
hoàn thiện về phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị, nâng cao trình độ chuyên môn
quả giải quyết công việc chưa đạt yêu cầu. Hơn nữa nhiệm vụ lớn, cấp bách hiện
nay của Bảo tàng Hà Nội là thực hiện việc tổ chức nghiên cứu trưng bày cùng các
hoạt động kèm theo để đến cuối năm 2019 chính thức khai trương hệ thống trưng
bày thường xuyên. Đây là một nhiệm vụ chính trị rất quan trọng. Tuy nhiên, đội ngũ
cán bộ của Bảo tàng Hà Nội hiện nay còn yếu; công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa tập
trung, còn dàn trải, hiệu quả chưa cao, cách thức đào tạo và sử dụng cán bộ còn hạn
chế về tầm nhìn chiến lược, đổi mới công tác cán bộ còn chậm, chưa theo kịp với sự
đổi mới về kinh tế, chưa đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài; chưa ngang tầm với
thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; chưa đủ khả năng để
hoàn thành nhiệm vụ mà cơ quan đã đề ra.
Vì vậy, Bảo tàng một mặt cần có kế hoạch trước mắt tập trung thực hiện
công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ công chức, viên chức để
từng bước hoàn thiện và phát triển đội ngũ công chức, viên chức Bảo tàng Hà Nội
theo hướng chuyên nghiệp đủ khả năng quản lý Bảo tàng theo mô hình hiện đại,
theo kịp với xu thế phát triển của các bảo tàng trong nước và quốc tế.
Để đánh giá đúng thực trạng thực hiện chính sách đào tạo công chức, viên
chức ở Bảo tàng Hà Nội, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách đào tạo công chức, viên chức Bảo tàng, học viên chọn vấn đề: “Thực
hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức từ thực tiễn Bảo tàng
Hà Nội” làm đề tài luận văn Thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nói chung
là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm và cũng là vấn đề được
nhiều nhà khoa học nghiên cứu, tìm hiểu.
Đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức đã được một số bài viết, công trình
nghiên cứu nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau. Nhìn chung, các bài viết, công
trình đó đã nêu được một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cán bộ, công chức cũng
như đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng
công chức, viên chức. Ngoài ra, có thể thấy nhiều luận văn, luận án cũng đã quan
khoa học của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hành chính theo nhu cầu công
việc, thực hiện năm 2008 đã đi sâu nghiên cứu cơ sở khoa học của đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu công việc.[47]
4
Trong bài viết“Cải cách quy trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ, công bố trên Tạp chí Tổ chức nhà nước,
tác giả Ngô Thành Can đã giới thiệu quy trình 4 bước đào tạo, bồi dưỡng trong đó
nhấn mạnh đến việc xác định nhu cầu đào tạo như là khâu then chốt.[3]
Trên Tạp chí Nghiên cứu Khoa học Nội vụ tháng 6/2014, tác giả Nguyễn
Minh Phương có bài “Tiếp tục đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên
chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước”. Bài viết làm rõ việc đổi mới
trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trong bối cảnh mới
nhằm nâng cao hiệu quả bộ máy hành chính.[26]
Nguyễn Thị La trong bài “Đào tạo, bồi dưỡng, công chức trong quá trình cải
cách hành chính” trên Tạp chí Cộng sản 04/09/2015 đã tổng kết, khái quát một số vấn
đề đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức trong tiến trình cải cách hành chính nhà
nước.[15]
Trong luận văn thạc sĩ Kinh tế chính trị Đào tạo, bồi dưỡng công chức trong
nền kinh tế thị trường ở nước ta (qua thực tiễn ở Thành phố Hà Nội), Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh 2006, tác giả Tạ Quang Ngải dựa trên cơ sở lý luận
và thực trạng công tác, đào tạo, bồi dưỡng công chức ở thành phố Hà Nội đã đề xuất
mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng, công chức ở thành
phố Hà Nội và cả nước trong nền kinh tế thị trường.[17]
Công trình Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Việt Nam
hiện nay, Nguyễn Lan Hương đăng trên Thư viện Học liệu Mở Việt Nam (VOER)
là một tài liệu cung cấp khá nhiều thông tin liên quan đến hoạt động đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ công chức, viên chức với những số liệu dẫn chứng khá phong
Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về khách thể: Công chức, viên chức tại Bảo tàng Hà Nội.
Về không gian: Nghiên cứu vấn đề thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
công chức, viên chức ở Bảo tàng Hà Nội.
Về thời gian: Đề tài nghiên cứu, tập trung đánh giá thực hiện chính sách sách
đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Bảo tàng Hà Nội từ năm 2011 đến năm
6
2017 và đề xuất định hướng giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đào
tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Bảo tàng Hà Nội giai đoạn 2018 -2025.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng về đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức, viên chức.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu, luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương
pháp trong đó tập trung vào một số phương pháp sau:
+ Phương pháp khảo cứu tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu có liên quan để có
những luận cứ khoa học cho việc đánh giá thực trạng và đề ra một số giải pháp nâng
cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức Bảo tàng Hà Nội.
+ Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu để nhận diện, khảo sát và tìm
kiếm thông tin về bối cảnh và lịch sử của vấn đề nghiên cứu. Tác giả phỏng vấn sâu
đối với cấp lãnh đạo, các trưởng phòng, ban chuyên môn, các viên chức thuộc Bảo
tàng Hà Nội. Bằng cách ghi chép lại các cuộc phỏng vấn sâu này để làm rõ những
chiều cạnh phong phú việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên
chức Bảo tàng Hà Nội, từ đó phân tích toàn diện hơn vấn đề nghiên cứu.
Sản phẩm nghiên cứu còn có thể là tài liệu tham khảo có ích cho những
người tham gia vào việc xây dựng các chiến lược và quản lý, công tác đào tạo, bồi
dưỡng viên chức ngành Bảo tàng ở Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các biểu và tài liệu tham khảo, luận
văn được chia thành 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận liên quan đến hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công
chức, viên chức.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức,
viên chức tại Bảo tàng Hà Nội.
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức Bảo tàng Hà Nội.
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG
ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC
1.1. Một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách đào tạo công chức, viên chức
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Công chức, viên chức
- Công chức:
Công chức là một khái niệm mang tính lịch sử. Nội hàm của khái niệm này
phụ thuộc rất nhiều vào thể chế chính trị của mỗi quốc gia và trong từng giai đoạn
lịch sử. Bởi vậy không có một định nghĩa chung về công chức cho tất cả các quốc
gia. Ngay đối với một quốc gia trong từng thời kỳ phát triển khác nhau thuật ngữ
“Công chức” cũng mang những nội dung khác nhau.
Luật Công chức Cộng hòa Liên bang Đức năm 1977 quy định: “Các công
chức Cộng hòa Liên bang Đức đều là những nhân viên làm việc trong cơ quan nhà
nhà nước. Ngày 13/11/2008, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII, đã thông qua Luật
cán bộ, công chức[28]. Theo đó. Tại Khoản 2, Điều 4 của Luật cán bộ, công chức
quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị
thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp,
công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ
máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng Sản Việt
Nam, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội”.
Năm 2010, căn cứ vào Nghị định số 06/2010/NĐ – CP, ngày 25/01/2010 của
Chính phủ có thể xác định: “ Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng,
bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách
nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy
định của pháp luật”[30].
- Viên chức:
Thuật ngữ “công chức”, “viên chức” thường được hiểu một cách khái quát là
những người được Nhà nước tuyển dụng, nhận một công vụ hoặc một nhiệm vụ
nhất định, do Nhà nước trả lương và có nghĩa vụ, bổn phận phục vụ nhân dân, phục
vụ Nhà nước theo các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, phạm vi rộng hẹp khi xác
định đối tượng là công chức hoặc là viên chức lại không giống nhau đối với các
10
quốc gia khác nhau. Trong điều kiện thể chế chính trị của Việt Nam, có một điểm
đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức luôn có sự liên thông với nhau.
Theo yêu cầu nhiệm vụ, cơ quan có thẩm quyền có thể điều động, luân chuyển họ
giữa các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội. Với điểm
đặc thù này, việc nghiên cứu để xác định rõ cán bộ, công chức, viên chức một cách
triệt để rất khó và phức tạp.
phát triển văn minh nhân loại”.
Theo Điều 5, Nghị định số 18/2010/NĐ – CP ngày 05/03/2010 của Chính
phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức thì đào tạo được hiểu như sau: “Đào tạo là quá
trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của
từng cấp học, bậc học”[18].
Đào tạo được xem là quá trình làm cho người ta trở thành có năng lực theo
tiêu chuẩn nhất định, trang bị những kiến thức, kỹ năng mới và có khả năng nhận
được một sự phân công lao động, góp phần công sức của mình vào sự phát triển xã
hội nói chung. Quá trình đào tạo, tùy theo mỗi cấp học mà mục tiêu đào tạo phải có
một chương trình, nội dung và thời gian tương ứng, cuối khóa học, nếu người học
đáp ứng những yêu cầu thì được cấp bằng tốt nghiệp. Thời gian đào tạo tương đối
dài ( từ 1 năm học trở lên) và có cấp bằng, chứng chỉ.
Mặc dù các khái niệm trên tiếp cận đào tạo ở nhiều góc độ khác nhau nhưng
đều có những điểm chung, đào tạo là quá trình huấn luyện, trang bị cho con người
những kiến thức, kỹ năng, thái độ, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp để học có thể tự
tạo được việc làm hoặc làm việc trong những ngành nghề nhất định.
- Bồi dưỡng
Bồi dưỡng có thể hiểu là một quá trình liên tục nâng cao trình độ chuyên
môn, nâng cao kiến thức, nâng cao năng lực, phẩm chất và nghiệp vụ trên cơ sở
những kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo trước đó.
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Bồi dưỡng là làm tăng thêm trình độ, năng lực
hoặc phẩm chất”[39].
Theo Đại từ điển do GS. Nguyễn Như Ý chủ biên [38], giải thích “bồi dưỡng”:
1. Làm khỏe thêm, mạnh thêm, bồi dưỡng sức khỏe; 2. Làm cho tốt hơn, giỏi hơn, bồi
dưỡng đạo đức, bồi dưỡng nghiệp vụ. Hoặc “bồi dưỡng”: 1. Làm cho tăng thêm sức
của cơ thể bằng chất bổ; 2. Làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất.
12
các tổ chức, công tác đào tạo bồi dưỡng cần phải được thực hiện một cách có tổ
chức và có kế hoạch.
1.1.1.3. Chính sách và chính sách đào tạo, bồi dưỡng
“Chính sách” là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu và
trên các phương diện truyền thông, tuy nhiên cho đến nay vẫn khó có thể đưa ra một
định nghĩa duy nhất. Theo cách hiểu thông thường, chính sách là chương trình hành
động do các nhà lãnh đạo, quản lý đưa ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc
phạm vi thẩm quyền của mình. Chính sách là khái niệm thường được đề cập trong
khoa học hành chính, nhưng thực sự nó còn là phạm trù của khoa học chính trị.
Tùy theo cách tiếp cận khác nhau, có thể có các định nghĩa khác nhau về
chính sách:
Hugh Hecslo (1972) định nghĩa một chính sách có thể được xem như là một
đường lối hành động hoặc không hành động thay vì những quyết định hoặc hành
động cụ thể.
David Easton (1953) cho rằng chính sách là chuỗi các quyết định và các
hành động phân phối các giá trị. Theo Smith (1976), khái niệm chính sách bao hàm
sự lựa chọn có chủ định hành động hoặc không hành động, thay vì những tác động
của những lực lượng có quan hệ với nhau.
Ở các nước phát triển và các tổ chức kinh tế quốc tế, thuật ngữ “Chính sách
công” được sử dụng rất phổ biến. Theo tác giả Đỗ Phú Hải trong công trình
“Nghiên cứu thể chế chính sách công tại Việt Nam” thì: Chính sách công bao gồm
các hoạt động thực tế do chính phủ tiến hành [Peter Aucoin, 1971]. Chính sách công
là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một
nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để
đạt các mục tiêu đó [ William Jenkin, 1978]. Chính sách công là cái mà chính phủ
lựa chọn làm hay không làm [Thomas T. Dye,1984]…
Từ các quan niệm trên, chính sách công có thể được nhìn nhận như sau:
Chính sách công là một trong những công cụ quan trọng của quản lý nhà nước,
Trong quá trình quản lý, điều hành nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động
theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước phải đối xử với nhiều
đối tượng có quan hệ khác nhau. Có những đối tượng quan hệ với Nhà nước là đồng
sở hữu như các đối tượng thuộc các thành phần kinh tế nhà nước; có những đối
tượng mà tính chất sở hữu gần với sở hữu nhà nước, được nhà nước kết hợp với
thành phần kinh tế nhà nước để xây dựng nền tảng của nền kinh tế. Trong hệ thống
15
các thành phần hiện có, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Do địa vị kinh tế,
chính trị, xã hội và pháp lý của từng đối tượng thuộc các thành phần này không
giống nhau, nên vai trò của chúng đối với sự nghiệp phát triển xã hội ở nước ta
cũng khác. Để phát huy tác dụng của các đối tượng trong quá trình vận động đến
mục tiêu, nhà nước có thái độ ứng xử một cách thích hợp với mỗi vấn đề phát sinh
thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Trong quản lý xã hội, công cụ được nhà
nước dùng để chuyển tải thái độ ứng xử của mình đến các đối tượng quản lý là
chính sách. Tùy theo yêu cầu quản lý phát triển nền kinh tế ở từng thời kỳ, nhà nước
chủ động ban hành các chính sách công để thể hiện ý chí trong quan hệ với các
thành phần kinh tế theo định hướng. Như vậy có thể nói, thực thi chính sách công là
giai đoạn biến thái độ ứng xử của nhà nước, ý đồ chính sách thành hiện thực.
Trong những năm qua, đội ngũ công chức, viên chức Bảo tàng Hà Nội đã có
những đóng góp rất quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đặc biệt
là đội ngũ công chức, viên chức Bảo tàng ngày càng được trưởng thành qua thử
thách, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần độc lập tự chủ, trung thành với
lý tưởng cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn. Tuy nhiên, do quá
trình phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, do quá trình hội nhập sâu vào nền
kinh tế thế giới. Để đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay yêu cầu
đặt ra với đội ngũ công chức, viên chức Bảo tàng hiện nay là cần phải có kiến thức
và năng lực toàn diện, trong đó bao gồm 4 vấn đề cơ bản là trình độ văn hóa, chính
tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Việt Nam cũng khác nhau, việc đào tạo, bồi
dưỡng ở từng thời kỳ phải phù hợp với sự đổi mới tư duy về chức năng của hoạt
động đào tạo, phù hợp với sự phát triển của công chức, viên chức và tình hình phát
triển kinh tế xã hội của đất nước.
Thực hiện mục tiêu của chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức
là để trang bị những kiến thức và kỹ năng cơ bản, bổ sung kiến thức chuyên môn,
nghiệp vụ và quản lý nhằm xây dựng đội ngũ công chức, viên chức Nhà nước thành
thạo về chuyên môn, nghiệp vụ; trung thành với chế độ xã hội chủ nghĩa, tận tụy
với công vụ; có trình độ, quản lý tốt, đáp ứng yêu cầu của việc kiện toàn và nâng
cao hiệu quả của bộ máy Nhà nước; thực hiện chương trình cải cách một bước nền
hành chính Nhà nước.
Mục tiêu của thực hiện chính sách đào tạo phải xác định được học viên đạt
được những gì sau khi kết thúc khóa đào tạo, mức độ kiến thức kỹ năng và khả năng
thực hiện công việc sau khi đào tạo. Mục tiêu chính sách đào tạo phải cụ thể có khả
17
năng đạt được, đo lường được và mô tả toàn bộ kết quả của khóa học bao gồm
những kỹ năng cụ thể cần được dạy, trình độ kỹ năng có được sau đào tạo nhằm
giúp học viên thực hiện công việc tốt hơn, thỏa mãn nhu cầu phát triển cho học
viên. Được trang bị những kỹ năng chuyên môn cần thiết sẽ kích thích học viên
thực hiện công việc tốt hơn, đạt được nhiều thành tích tốt hơn, muốn được trao
những nhiệm vụ có tính thách thức cao hơn. Chuẩn bị đội ngũ quản lý, công chức,
viên chức kế cận, giúp cho công chức, viên chức có được những kỹ năng cần thiết
cho các cơ hội thăng tiến trong công việc.
Trên cơ sở quy hoạch công chức, viên chức cần xây dựng kế hoạch đào tạo,
bồi dưỡng kể cả đào tạo, bồi dưỡng lại công chức, viên chức theo đúng chức danh
nghề nghiệp; chú ý đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức nguồn và công chức,
viên chức dự bị kế cận các chức danh lãnh đạo. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
thừa nhận của chủ thể ban hành chính sách. Một chính sách được triển khai thực hiện
rộng rãi trong đời sống xã hội, thì tính đúng đắn của nó được khẳng định ở mức cao
hơn, tức là cả xã hội thừa nhận, nhất là các đối tượng thừa hưởng chính sách.
Công chức, viên chức Bảo tàng là những người trực tiếp tổ chức thực hiện
mọi chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Do vậy,
việc xây dựng đội ngũ công chức, viên chức Bảo tàng là yêu cầu cơ bản và cấp bách
nhằm tạo ra động lực mới để giải quyết khối lượng công việc của tổ chức, phát huy
nội lực cơ sở, đáp ứng đòi hỏi nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, góp phần vào
công cuộc đổi mới đất nước. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời cho đến nay,
công tác đào tạo, bồi dưỡng, công chức, viên chức luôn là vấn đề được quan tâm và
đang được tiếp tục hoàn thiện những quy định về quyền và nghĩa vụ của công chức,
viên chức phù hợp với đặc điểm, tính chất hoạt động nghề nghiệp của họ.
Xác định rõ vai trò và tầm quan trọng chiến lược của công tác đào tạo, bồi
dưỡng công chức, viên chức trong thực thi nhiệm vụ, Đảng và Nhà nước đã ban
hành nhiều chủ trương, chính sách để tạo bước chuyển biến đột phá trong công tác
này và đẩy mạnh triển khai các giải pháp thực hiện mục tiêu xây dựng đội ngũ công
chức, viên chức chuyên nghiệp, năng động, minh bạch và hiệu quả hơn.
Đảng và Nhà nước định hướng tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý công chức
bảo đảm phát huy tối đa các tiềm năng tri thức và tài năng của công chức, viên chức
phù hợp với cải cách khu vực dịch vụ công, phát triển và hội nhập quốc tế. Thực
hiện chính sách tuyển dụng vị trí việc làm và quản lý công chức theo chuyên môn
nghiệp vụ. Nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ ba, khóa
19
VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;
Quy định số 54/QĐ – TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng về chế độ học tập
lý luận chính trị trong Đảng; Quyết định 874/TTg của Thủ tướng Chính phủ về
công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nhà nước,….là những định
Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ theo
chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Bộ đã được phê duyệt và
các dự án, đề án theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; trình Thủ
tướng Chính phủ dự thảo quyết định, chỉ thị và các văn bản khác thuộc ngành, lĩnh
vực do Bộ Nội vụ quản lý hoặc theo sự phân công ban hành thông tư, quyết định chỉ
thị và các văn bản khác thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; hướng dẫn, kiểm
tra việc thực hiện các văn bản.
1.1.3.2. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội
Ủy ban nhân dân cấp thành phố Hà Nội ban hành các chính sách về công
chức, viên chức. Cân đối ngân sách phục vụ cho việc thực hiện chính sách công
chức, viên chức.
1.1.3.3. Sở Nội vụ thành phố Hà Nội
Sở Nội vụ tham mưu với Ủy ban nhân dân thành phố ban hành chế độ, chính
sách khuyến khích công chức, viên chức học tập để nâng cao trình độ, chuyên môn
nghiệp vụ; phối hợp với các cơ quan có liên quan trình Ủy ban nhân dân thành phố
quyết định việc bố trí, phân bổ kinh phí đối với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công
chức, viên chức theo quy định thống nhất quản lý và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi
dưỡng công chức, viên chức sau khi được Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt. Phối
hợp với Sở Tài chính thực hiện trợ cấp đi học cho công chức, viên chức theo quy định.
Tham mưu với Ủy ban nhân dân thành phố ban hành quy hoạch, kế hoạch
đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý; giúp Ủy ban thành
phố tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức,
viên chức sau khi được phê duyệt; Giúp Ủy ban nhân dân thành phố hướng dẫn,
kiểm tra thực việc thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng, công chức, viên chức; tổng
hợp, báo cáo kết quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức hằng năm
gửi Bộ Nội vụ theo quy định.
1.1.3.4. Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội
Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội (sau đây gọi tắt là Sở) là cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội; thực hiện chức năng tham
chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý trước khi đề bạc, bổ nhiệm. Đào tạo, bồi dưỡng có
22