Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức từ thực tiễn Cơ quan Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương (LV thạc sĩ) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NÔNG BÍCH THỦY

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÔNG CHỨC TỪ THỰC TIỄN CƠ QUAN ĐẢNG ỦY KHỐI
CÁC CƠ QUAN TRUNG ƯƠNG

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN KHẮC BÌNH

HÀ NỘI, NĂM 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài: “Thực hiện chính sách đào
tạo, bồi dưỡng công chức từ thực tiễn Cơ quan Đảng ủy Khối các cơ
quan Trung ương” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng
dẫn của PGS.TS. Nguyễn Khắc Bình các kết quả công bố trong luận văn
chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy, trung thực.
NGƯỜI CAM ĐOAN

Nông Bích Thủy

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI

28

DƯỠNG CÔNG CHỨC TẠI CƠ QUAN ĐẢNG ỦY KHỐI CÁC CƠ
QUAN TRUNG ƯƠNG
2.1. Khái quát chung

28

2.2. Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức

34

2.3. Kết quả thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức

46

2.4. Đánh giá thực trạng

51

Chương 3: GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI

56

DƯỠNG CÔNG CHỨC Ở CƠ QUAN ĐẢNG ỦY KHỐI CÁC CƠ
QUAN TRUNG ƯƠNG
3.1. Quan điểm, phương hướng, mục tiêu thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng


CCLLCT

Cao cấp lý luận chính trị

CVC

Chuyên viên chính

CVCC

Chuyên viên cao cấp

ĐUK

Đảng ủy Khối các cơ quanTrung ương

ĐVM

Đảng viên mới

KNĐ

Kết nạp Đảng

NVCTĐ

Nghiệp vụ công tác đảng

NV


Cơ cấu ngạch chức danh chuyên môn

31

Bảng 2.5.

Cơ cấu về độ tuổi

32

Bảng 2.6.

Số lượng công chức đăng ký tham dự các

39

loại hình đào tạo, bồi dưỡng
Bảng 2.7.

Số lượng công chức đã được cử đi đào tạo,

39

bồi dưỡng
Bảng 2.8.

Số lượng cán bộ, công chức được cử đi bồi

48


cần được thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu
cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng đất nước.
Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã đề ra mục tiêu xây dựng đội ngũ cán
bộ trong giai đoạn từ năm 2011 - 2020 là “xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính
chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân”. Ở Trung ương, đội ngũ cán bộ,
công chức đã có chuyển biến rõ rệt về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và trình
độ chính trị. Tuy nhiên, trước những thách thức của nền kinh tế thị trường, một
bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã bộc lộ những hạn chế,
yếu kém cả về năng lực chuyên môn lẫn ý thức chính trị. Hội nghị Trung ương 4
khóa XI đã nhấn mạnh “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có
những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số lãnh đạo cao cấp, suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về
sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy

1


theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô
nguyên tắc”. Như vậy có thể thấy đội ngũ cán bộ, công chức kể cả cán bộ lãnh
đạo còn nhiều yếu kém.
Trong bối cảnh hiện nay, đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, đang chủ động hội nhập quốc tế, đã đặt ra những yêu cầu mới đối với
đội ngũ cán bộ, công chức, đòi hỏi đội ngũ này phải nâng cao trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ, đồng thời phải vững vàng cả về ý thức chính trị, giữ được phẩm
chất đạo đức tốt, lối sống chuẩn mực, tránh được các tác động tiêu cực của nền
kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức hiện nay đã có nhiều đổi
mới tuy nhiên chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, đôi
khi còn kìm hãm sự phát triển tài năng của cá nhân. Do đó, việc đào tạo, bồi

sâu; mỗi chức danh, mỗi vị trí việc làm được bồi dưỡng những kiến thức và kỹ
năng phù hợp, thiết thực với công việc đang đảm nhận, các chương trình cụ thể
như: kỹ năng dành cho công chức, viên chức lãnh đạo quản lý; nghiệp vụ cho
công chức, viên chức làm công tác nhân sự, cải cách hành chính, văn thư lưu trữ,
thực hành văn bản; ứng dụng công nghệ thông tin; xử lý tình huống... đặc biệt là
đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan Đảng trung ương.
NGƯT.Nguyễn Thanh Xuân - Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức theo
vị trí, chức danh, đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Nội vụ, 2006; tác giả đã nêu lên
tầm quan trọng của việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức theo chức danh
gồm: Vụ trưởng các cơ quan Bộ, cơ quan ngang Bộ; Giám đốc sở thuộc ủy ban
nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương… Tác giả đã đánh giá được
thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức thông qua đó xác định nhu cầu và đưa ra
các giải pháp để thực hiện có hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công
chức theo chức danh.
Cuốn sách “Quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức công” của Trường Đại
học Kinh tế quốc dân do PGS.TS Trần Thị Thu và PGS.TS Vũ Hoàng Ngân chủ
biên đã đưa ra nhiều nội dung trong quản lý đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực

3


trong tổ chức công như: xác định nhu cầu đào tạo, chuẩn bị đào tạo, chương trình
đào tạo, xây dựng chương trình đào tạo và tổ chức thực hiện chương trình, đánh
giá hiệu quả đào tạo.
Tác giả Nguyễn Ngọc Vân đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Cơ sở
khoa học của việc đào tạo, bồi dưỡng công chức theo nhu cầu công việc” đã
đánh giá về nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà
nước góp phần quan trọng trong việc nâng cao trình độ cán bộ, công chức đáp
ứng được yêu cầu nhiệm vụ của từng đối tượng trong thời gian qua.
Cuốn sách “Đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý - Kinh nghiệm từ thực tiễn

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về công tác tổ chức thực thi chính sách đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức.
- Đánh giá thực trạng công tác tổ chức thực thi chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức trong Cơ quan Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương.
- Đề xuất những giải pháp tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ trong Cơ quan Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương trong những
năm tiếp theo.
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp tổ chức thực thi chính sách đào tao, bồi dưỡng công chức trong
Cơ quan Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Công tác thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức ở các cơ quan
Đảng Trung ương.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Các ban, đơn vị thuộc Cơ quan Đảng ủy Khối các cơ quan
Trung ương và các cơ quan ban Đảng Trung ương (Văn phòng Trung ương; Ủy
ban Kiểm tra Trung ương; Ban Tổ chức Trung ương; Ban Tuyên giáo Trung

5


ương; Ban Nội Chính Trung ương; Ban Kinh tế Trung ương; Ban Đối ngoại
Trung ương; Ban Dân vận Trung ương…)
Thời gian nghiên cứu: từ 03 năm trở lại đây.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối, quan điểm về quản lý

sách công nói chung. Từ đó giúp nhà nghiên cứu nắm vững kiến thức, rèn luyện
kỹ năng và có thêm nhiều kinh nghiệm trong những nghiên cứu tiếp theo và
trong quá trình công tác của bản thân.
7. Cơ cấu của luận văn
Luận văn này ngoài Phần Mở đầu, Kết luận, nội dung chính chia làm 3
chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công
chức
Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức
tại Cơ quan Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương
Chương 3. Giải pháp thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức
tại Cơ quan Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương

7


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC
1.1. Khái niệm
1.1.1. Chính sách công
Chính sách công có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển xã hội
và quản lý phát triển xã hội. Chính sách công được dùng để định hướng phát
triển, là động lực thúc đẩy các quá trình phát triển trong xã hội; đồng thời phát
huy các mặt tích cực, hạn chế các mặt tiêu cực trong xã hội, nâng cao chất lượng
phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội. Chính sách công có vai trò quan
trọng trong việc tạo lập sự cân đối hài hòa, bền vững trong tiến trình phát triển
kinh tế - xã hội của một quốc gia.
Muốn hiểu thế nào là chính sách công, trước hết ta cần hiểu về chính sách
nói chung. Theo từ điền giải thích thuật ngữ hành chính: “Chính sách là sách

rằng Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do Chính phủ tiến hành,
B.Guy Peter đưa ra định nghĩa: “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của
Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công
dân”.
PGS.TS Lê Chi Mai cho rằng chính sách công có những đặc trưng cơ bản
nhất như: chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước; chính sách công không
chỉ là các quyết định (thể hiện trên văn bản) mà còn là những hành động, hành vi
thực tiễn (chính sách công không chỉ thể hiện dự định của nhà hoạch định chính
sách về một vấn đề nào đó mà còn bao gồm hành vi thực hiện các dự định nói
trên); chính sách công tập trung giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong đời
sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định, chính sách công được đề ra và thực
hiện nhằm giải quyết một số vấn đề liên quan lẫn nhau trong đời sống xã hội;
chính sách công bao gồm nhiều quyết định chính sách có liên quan lẫn nhau,
khái niệm quyết định ở đây không hoàn toàn đồng nhất với các quyết định hành
chính, càng không thể coi đó chỉ là các văn bản quy phạm pháp luật của nhà

9


nước. Khái niệm quyết định ở đây mang ý nghĩa rộng hơn, nó có thể được coi
như một sự lựa chọn hành động của nhà nước.
Khái niệm chính sách công còn được định nghĩa một các ngắn gọn như
sau: “Chính sách công là những đường hướng ứng xử cơ bản của nhà nước với
những vấn đề chính sách phát sinh trong đời sống cộng đồng bằng nhiều hình
thức khác nhau nhằm thúc đẩy phát triển xã hội và quản lý xã hội” (Võ Khánh
Vinh, chương trình đào tạo thạc sĩ chính sách công năm 2013 Học viện Khoa
học xã hội). Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, PGS.TS Đỗ Phú Hải - Học
viện Khoa học xã hội đã đưa ra định nghĩa một cách chung nhất về chính sách
công như sau: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên
quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ

quan đến chính sách.
- Ban hành chính sách: trước khi ban hành chính sách thì chính sách cần
được phê duyệt; nguyên tắc ban hành chính sách là tự do, công bằng, dân chủ…
thông tin tuyên truyền về chính sách để đảm bảo chính sách được minh bạch và
đến với tất cả các đối tượng liên quan. Khi ban hành chính sách thường các cơ
quan ban hành sẽ kèm theo hướng dẫn thực hiện đối với các chính sách mới.
- Đánh giá chính sách: Sau khi thực hiện chính sách cần được đánh giá để
kiểm tra kết quả thực hiện chính sách, đánh giá những vấn đề chưa được giải
quyết tận gốc để xoay vòng chính sách cho tới khi vấn đề được giải quyết.
Trong các khâu của chu trình chính sách công thì việc tổ chức thực hiện
chính sách công là khâu quan trọng nhất, quyết định trực tiếp đến hiệu quả của
chính sách công.
Tổ chức thực hiện chính sách công chính là hiện thực hóa các vấn đề đã
được xác định trong khâu hoạch định chính sách hay xác định vấn đề đã được
xây dựng thành văn bản ban hành.
Tổ chức thực hiện chính sách công là áp dụng các quyết định để giải quyết
vấn đề lên một đối tượng nhất định đã được xác định trước. Song song với việc

11


áp dụng các quyết định là tuyên truyền chính sách đến các đối tượng có liên
quan. Quá trình thực hiện chính sách có sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật
để thực hiện chính sách như đưa ra quy trình thực hiện, hướng dẫn…
1.1.3. Khái niệm công chức
Công chức là một khái niệm được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên
thế giới để chỉ những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên
trong các cơ quan nhà nước, do ngân sách nhà nước trả lương. Nhưng do đặc thù
của từng quốc gia nên quan niệm công chức ở các nước không hoàn toàn đồng
nhất. Có nước chỉ giới hạn công chức trong phạm vi những người tham gia hoạt

chức vụ, chức danh trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong các cơ quan,
đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân
mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo,
quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà
nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp
công lập thì lương được bảo đảm từ quy lương của đơn vị sự nghiệp công lập
theo quy định của pháp luật” [34, tr.1]
1.1.4. Khái niệm công chức làm công tác đảng
Hướng dẫn thực hiện Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Nghị định số
06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ quy định căn cứ xác
định công chức: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm
vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách Nhà
nước hoặc được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy
định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị và chia thành 7
nhóm: Công chức trong các cơ quan Đảng; công chức trong Văn phòng Chủ
tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước; Công chức trong Bộ, cơ
quan ngang Bộ, tổ chức khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập;

13


công chức trong cơ quan hành chính cấp tỉnh, cấp huyện; công chức trong hệ
thống Tòa án nhân dân; công chức trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân; công
chức trong các cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội”[13, tr.2]
Cán bộ, công chức làm công tác đảng chuyên trách tại Cơ quan Đảng ủy
Khối các cơ quan Trung ương được hiểu như sau: người giữ chức vụ, chức danh
đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu và người làm việc trong Văn phòng, Cơ

lĩnh vực tiếp cận với nhau để hình thành nên các lĩnh vực mới…thì mặc dù
không đổi nghề nhưng mỗi công chức cần được trang bị thêm những kiến thức,
kỹ năng của một số lĩnh vực mới để có thể làm việc hiệu quả hơn. Ví dụ đối với
công chức làm công tác Đoàn chuyên trách, trước khi được tuyển dụng, mặc dù
đã được đào tạo các chuyên ngành nhưng khi vào làm việc vẫn phải bồi dưỡng
thêm các kiến thức về Đoàn Thanh niên và công tác Đoàn.
Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng công chức còn có nội hàm khác với đào tạo
thuần túy.Đào tạo công chức là các hoạt động học tập cung cấp những kiến thức,
kỹ năng nhằm giúp công chức có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng, nhiệm
vụ vị trí việc làm của mình. Đó là quá trình truyền thụ khối kiến thức mới một
cách có hệ thống để người công chức thông qua đó trở thành người có văn bằng
mới hoặc cao hơn trình độ trước đó, “đào tạo là các hoạt động học tập để nâng
cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện có hiệu quả hơn chức
năng và nhiệm vụ của mình”. Có thể thấy đào tạo là hoạt động làm cho công
chức trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định gắn với vị trí
việc làm, khung năng lực của tổ chức. Quá trình đào tạo được tiến hành trong
khoảng thời gian dài và được hiểu là quá trình chuẩn bị cho nguồn nhân lực phát
triển trong tương lai. Đặc trưng của đào tạo là phải gắn liền với những thay đổi
của môi trường, đáp ứng đòi hỏi của công việc và môi trường trong hiện tại và
tương lai.
Bồi dưỡng công chức là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức,
kỹ năng làm việc trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Có nhiều hình thức bồi

15


dưỡng như: bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch là trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt
động công vụ cho ngạch công chức; bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo,
quản lý là trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc cho từng vị trí lãnh
đạo, quản lý; bồi dưỡng theo vị trí việc làm là trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ

Trong điều kiện hiện nay, hoạt động đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công
chức đóng vai trò quan trọng để nâng cao năng lực thực thi công vụ và nâng cao
chất lượng đội ngũ công chức. Muốn vậy, cần xác định rõ vai trò trong đào tạo,
bồi dưỡng đội ngũ công chức, cụ thể:
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả thực thi công vụ. Trong quá trình làm việc,
cùng với sự thay đổi ngày càng mạnh mẽ về yêu cầu chất lượng công việc; sự
phát triển của khoa học, công nghệ,... đòi hỏi mỗi công chức phải hoàn thiện bản
thân, nâng cao lý luận chính trị, cập nhật tri thức mới và kỹ năng để thực hiện tốt
nhiệm vụ được giao.
Thứ hai, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. “Mục đích của đào tạo,
phát triển nguồn nhân lực là nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và
nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp người lao động hiểu rõ,
nắm vững hơn về công việc, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách
tự giác với thái độ tốt hơn” [38]. Trong nền hành chính công vụ, nguồn nhân lực
chính là công cụ để thực hiện các mục tiêu chức năng hành chính, do vậy năng
lực, chất lượng của đội ngũ công chức là một trong những điều kiện quan trọng,
cần thiết để xây dựng nền hành chính hiệu lực, hiệu quả và phục vụ nhân dân
ngày càng tốt hơn.
Thứ ba, quy hoạch, phát triển đội ngũ công chức, nhằm đáp ứng những
thay đổi bên ngoài nền công vụ và sự đòi hỏi phát triển của tổ chức và cá nhân
công chức bên trong nền công vụ. Thông qua đào tạo, bồi dưỡng giúp cho tổ
chức quy hoạch được nguồn cán bộ quản lý, đảm bảo nguồn nhân lực có số
lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý.

17


Thứ tư, đánh giá nhân lực. Công chức được đào tạo, bồi dưỡng biết tiếp
thu và vận dụng những kiến thức, kỹ năng được học vào công việc, làm cho chất
lượng công việc được nâng lên, mang lại hiệu quả chung cho tổ chức và cá nhân.

dưỡng công chức phải là việc làm thường xuyên và không ngừng đổi mới. Tuy
nhiên, đào tạo, bồi dưỡng công chức không thể diễn ra ồ ạt mà cần căn cứ theo
yêu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị để việc cử công chức đi học không làm
ảnh hưởng đến việc thực thi nhiệm vụ của tổ chức. Do đó, cơ quan quản lý, sử
dụng công chức hàng năm phải xây dựng kế hoạch với số lượng công chức cụ
thể cử đi đào tạo, bồi dưỡng trong từng năm để công chức chủ động bố trí sắp
xếp thời gian cũng như đề đạt nguyện vọng đi đào tạo, bồi dưỡng phù hợp.
1.2.2. Xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng (phối hợp thực hiện)
Đào tạo, bồi dưỡngcông chức làm công tác đảng tại Cơ quan Đảng ủy
Khối các cơ quan Trung ương ngoài đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức trong
chương trình đào tạo, bồi dưỡng công chức chung thì cũng cần xây dựng những
nội dung chương trình phù hợp với đặc thù của cơ quan công tác.
Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thức XII của Đảng đã
chỉ rõ: “Công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng cần
được đổi mới mạnh mẽ. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến
thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc
biệt là cấp Trung ương. Tiếp tục đổi mới hệ thống chương trình đào tạo, bồi
dưỡng lý luận chính trị theo hướng nâng cao chất lượng, chú trọng tính hiệu quả
và phù hợp với từng đối tượng” [17, tr.135].
Việc xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho công chức làm công
tác đảng tại Cơ quan Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương cần có sự phối hợp
của tất cả các ban, đơn vị trong Cơ quan Đảng ủy Khối để làm rõ chức năng,
nhiệm vụ của từng vị trí việc làm, từ đó mới đưa ra được chương trình hoặc phối
hợp với các đơn vị đào tạo bồi dưỡng xây dựng được chương trình cho phù hợp
với yêu cầu của từng nhóm đối tượng công chức cụ thể.

19


1.2.3. Xây dựng đội ngũ giảng viên để đào tạo, bồi dưỡng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status