HC VIN CHNH TR - HNH CHNH QUC GIA H CH MINH
NGUYN TH THU THANH
mở rộng tín dụng của các chi nhánh
ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn
tại huyện điện bàn, tỉnh quảng nam
Chuyờn ngnh
: Qun lý kinh t
Mó s
: 60 34 01
LUN VN THC S KINH DOANH V QUN Lí
Ngi hng dn khoa hc: GS.TS TRN TH MINH CHU
H NI - 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riêng tôi. Các số liệu, kết quả trong luận văn là
trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Hà Nội, ngày
tháng
QUẢNG NAM
2.1. Thực trạng tín dụng của các Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn tại huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
2.2. Thực trạng mở rộng tín dụng của các Chi nhánh Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại huyện Điện Bàn, tỉnh
Quảng Nam
2.3. Đánh giá chung về hoạt động tín dụng và mở rộng tín dụng tại
các Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
trên địa bàn huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
38
38
47
55
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG
CỦA CÁC CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TẠI HUYỆN ĐIỆN BÀN,
TỈNH QUẢNG NAM
3.1. Phương hướng mở rộng tín dụng của các Chi nhánh Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại huyện Điện Bàn, tỉnh
Quảng Nam
3.2. Giải pháp mở rộng tín dụng của các Chi nhánh Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn tại huyện Điện Bàn
3.3. Một số giải pháp điều kiện nhằm hỗ trợ cho công tác tín dụng
trên địa bàn
Doanh nghiệp tư nhân
DNTN
Hợp tác xã
HTX
Khu công nghiệp
KCN
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
NHNo&PTNT
Ngân hàng thương mại
NHTM
Tổ chức TD
TCTD
Tín dụng
TD
Trách nhiệm hữu hạn
Số bảng,
biểu, hình vẽ
Hình 2.1
Tên bảng, biểu
Sơ đồ tổ chức của các chi nhánh
NHNo&PTNT tại huyện Điện Bàn
Trang
40
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm kiên trì đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nước ta đã thu
được nhiều thành tựu quan trọng, trong đó tốc độ tăng trưởng cao là thành
tích nổi bật. Đóng góp vào những thành tựu chung đó có hoạt động TD của
các NHTM. Trong tổng vốn đầu tư xã hội hàng năm, TD của các NHTM
chiếm một phần không nhỏ. Sự tăng trưởng liên tục của TD ngân hàng là một
trong những yếu tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
hiện đại hóa cơ sở sản xuất kinh doanh, cải thiện chất lượng sống cho dân cư
cả nước cũng như ở từng địa phương.
Điện Bàn là huyện đồng bằng của tỉnh Quảng Nam, nơi có nhiều điều
kiện thuận lợi về vị trí địa lý, về cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, về tiềm năng và
lợi thế so sánh cho phát triển kinh tế xã hội trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là
công nghiệp. Nhận rõ thế mạnh của mình, Nghị quyết của Đại hội đảng bộ
huyện lần thứ XII đã khẳng định định hướng phát triển của huyện trong 5 năm
tới là: tập trung mọi nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực về vốn cho phát triển
nông nghiệp, nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng dần tỷ
nhánh NHNo&PTNT đóng trên huyện Điện Bàn.
Để giữ vững thị phần của mình, cũng như để tăng hiệu quả hoạt động,
các chi nhánh NHNo&PTNT đóng tại Điện Bàn phải nỗ lực tìm các giải pháp
thích ứng, trong đó giải pháp mở rộng TD vừa có tính cấp bách, vừa có tính
khả thi. Song, mở rộng TD không phải muốn là được. Cần tìm các hình thức,
phương tiện, chính sách hợp lý để mở rộng cho vay khách hàng đã có và thu
hút thêm các khách hàng mới. Các chi nhánh NHNo&PTNT tại Điện Bàn
chưa sẵn sàng để làm việc này. Chính vì vậy đề tài “Mở rộng tín dụng của các
chi nhánh NHNo&PTNT tại huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” được chọn
làm đối tượng nghiên cứu trong luận văn với hy vọng sẽ đóng góp vào việc
tìm ra những giải pháp hữu hiệu mở rộng hoạt động TD tại huyện Điện Bàn
trong thời gian tới.
3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu trong luận văn là đề xuất hệ thống giải pháp có căn
cứ lý luận và thực tiễn nhằm mở rộng TD của các chi nhánh NHNo&PTNT
tại huyện Điện Bàn
Phù hợp với mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về TD và mở rộng TD của NHTM.
- Phân tích thực trạng tín dụng và mở rộng TD của các chi nhánh
NHNo&PTNT tại huyện Điện Bàn nhằm làm rõ những việc đã làm được và
chưa làm được trong mở rộng TD tại các Chi nhánh NHNo&PTNT đóng trên
địa bàn huyện Điện Bàn - Tỉnh Quảng Nam;
- Đề xuất giải pháp nhằm mở rộng hơn nữa TD của các chi nhánh NHNo
&PTNT tại huyện Điện Bàn
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu trong luận văn là nội dung, điều kiện, nhân tố
TRƯỜNG
1.1. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH
TẾ
THỊ TRƯỜNG
1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng thương mại
Tín dụng là một phạm trù kinh tế đã tồn tại qua nhiều hình thái kinh tếxã hội. Hiểu theo nghĩa hẹp thì TD là sự vay mượn, trong đó có hai chủ thể là
người đi vay và người cho vay thỏa thuận với nhau về một khoản nợ với thời
hạn nợ và mức lãi cụ thể. Hiểu theo nghĩa rộng thì TD là sự vận động của các
dòng vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu.
Thuật ngữ “tín dụng” xuất phát từ chữ La tinh “Creditium”, có nghĩa là
lòng tin, sự tín nhiệm. Trong tiếng Anh gọi là “Credit”. Theo nghĩa đen, từ
này muốn nói đến niềm tin của người cho vay đối với người đi vay khi đem
tiền bạc, tài sản ra cho vay và tin rằng người đi vay sẽ hoàn trả đúng hạn.
Niềm tin đó chính là cơ sở quan trọng cho quan hệ TD được hình thành. Phải
có lòng tin vào người đi vay, tin vào khả năng hoàn trả nợ, thì người có tiền
mới sẵn sàng bỏ tiền cho người khác vay. Nói cách khác, để quan hệ TD hình
thành và tồn tại đòi hỏi phải tạo lập được niềm tin.
Nhất quán với các cách hiểu nêu trên, có thể đưa ra khái niệm tổng quát
về TD như sau: Tín dụng là một quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có
hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định.
Từ khái niệm trên cho thấy, trong quan hệ TD, người cho vay không
mất quyền sở hữu vốn, họ chỉ nhượng lại quyền sử dụng vốn cho người đi vay
trong một thời gian nhất định. Vì người đi vay không có quyền sở hữu số vốn
6
ấy nên phải hoàn trả lại đủ vốn cho người cho vay khi đến hạn theo thỏa
thuận. Sự hoàn trả này không chỉ là nguyên tắc giao dịch trong TD mà còn
được luật pháp bảo hộ. Ngoài hoàn vốn cho người cho vay, người vay còn
có hiệu quả tới sản xuất, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý.
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh bình đẳng là yếu tố thúc đẩy sự
phát triển của các DN và thành phần kinh tế. Cung ứng vốn dưới hình thức
TD của NHTM tạo được mặt bằng cạnh tranh bình đẳng. Bởi vì, khác với bao
cấp vốn, thông thường các NHTM cung cấp TD theo lãi suất thị trường, do đó
các DN có chi phí vốn giống nhau. Chỉ các DN làm ăn hiệu quả, có tỷ suất lợi
nhuận cao hơn lãi vay mới có thể tiếp cận được TD. Với chức năng loại trừ
đó, TD của NHTM gạt bỏ các DN, các ngành yếu kém, tăng mức độ hiệu quả
cho nền kinh tế và góp phần hình thành cơ cấu kinh tế hiệu quả.
Hơn nữa, với sự tài trợ vốn từ các NHTM, hoạt động kinh doanh của
các chủ thể trong nền kinh tế dịch chuyển từ nơi có tỷ suất sinh lời thấp tới
lĩnh vực kinh doanh có tỷ suất sinh lời cao hơn, từ đó hình thành nên cơ cấu
kinh tế hợp lý.
- Tín dụng ngân hàng góp phần ổn định thị trường tiền tệ, ổn định giá cả.
Trong khi thực hiện chức năng thứ nhất là tập trung và phân phối lại
vốn tiền tệ, TD đã góp phần làm giảm khối lượng tiền lưu hành trong nền
kinh tế, đặc biệt là tiền mặt trong tay các tầng lớp dân cư, làm giảm áp lực
lạm phát, nhờ vậy góp phần ổn định giá trị tiền quốc gia.
Mặt khác, do cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho
các DN hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh … TD NHTM hỗ trợ sản
xuất phát triển, tạo điều kiện cho sản phẩm hàng hóa, dịch vụ làm ra ngày
càng nhiều, đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Chính nhờ tác
động đó mà TD góp phần ổn định xã hội.
- TD ngân hàng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và
cải thiện mức sống của người dân.
8
Một mặt, do TD có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản xuất
hàng hóa và dịch vụ ngày càng gia tăng có thể thỏa mãn ngày càng tốt hơn
TD là một trong những hoạt động truyền thống đem lại doanh thu và lợi
nhuận cho NHTM. Với phương châm “đi vay để cho vay”, NHTM đứng ở giữa
để hưởng lợi nhờ chênh lệch lãi suất vay và cho vay. Cho đến nay, lợi nhuận từ
hoạt động TD vẫn chiếm đại bộ phận trong tổng lợi nhuận của NHTM.
Đồng thời, thông qua huy động TD, NHTM có điều kiện mở rộng các
dịch vụ ngân hàng gắn kết và bổ sung cho TD như quản lý tài sản cho khách
hàng, thanh toán, buôn bán ngoại tệ. Các hoạt động trung gian liên kết, thanh
toán cho các tổ chức kinh tế, cá nhân về tiền hàng cũng như dịch vụ phát sinh
trong quá trình sản xuất kinh doanh, giúp các DN và người sản xuất giải
phóng vốn ứ đọng, lưu thông hàng hóa, giảm thiểu chi phí lưu thông… là
những hoạt động có xu hướng mang lại nhiều lợi nhuận cho NHTM. Hoạt
động TD nếu hiệu quả sẽ không chỉ gián tiếp tạo ra lợi nhuận cho người sử
dụng vốn mà còn đem lại lợi nhuận cho chính ngân hàng, tạo ra thu nhập từ
những khoản tiền còn nhàn rỗi trong nền kinh tế.
Do dịch vụ TD và các dịch vụ ngân hàng khác có sự liên hoàn và bổ trợ
cho nhau, nên khi các NHTM mở rộng, chiếm lĩnh được thị phần TD trên địa
bàn hoạt động sẽ là điều kiện thuận lợi để khách hàng sử dụng ngày càng
nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng như dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ thanh
toán quốc tế, dịch vụ bảo hiểm … đây là điều kiện để NHTM phát triển hoạt
động kinh doanh, tăng lợi nhuận cho ngân hàng.
Thông qua hình thức TD đồng tài trợ, các NHTM có điều kiện giao lưu,
học hỏi lẫn nhau để nâng cao trình độ kỹ năng thẩm định các dự án, phương
án vay vốn, khả năng tư vấn cho khách hàng.
Tuy nhiên trong hoạt động TD, các NHTM luôn đối diện với nhiều rủi
ro, nếu không có khả năng quản trị rủi ro tốt thì hoạt động cho vay đối với
khách hàng cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ đối với NHTM.
10
1.1.2.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với khách hàng
thủ cạnh tranh trên thị thường.
1.1.3. Các hình thức tín dụng ngân hàng thương mại
TD ngân hàng là một trong những kênh cung ứng vốn quan trọng và
chủ yếu cho nền kinh tế, đây là hình thức thể hiện quan hệ giữa ngân hàng với
tổ chức, cá nhân thông qua hoạt động huy động vốn của ngân hàng từ nền
kinh tế và cấp TD cho khách hàng theo những điều kiện và nguyên tắc nhất
định. NHTM thường cấp TD cho các tổ chức, cá nhân dưới rất nhiều hình
thức như: cho vay, bảo lãnh, bao thanh toán, cho thuê tài chính, chiết khấu
thương phiếu và chứng từ có giá. Trong đó có thể nói, cho vay là hình thức
cấp TD quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất, tạo nên nguồn thu chủ yếu cho
các TCTD.
1.1.3.1. Cho vay
Cho vay là một hình thức TD, theo đó, ngân hàng cam kết giao cho
người vay một khoản tiền và người vay cam kết sẽ hoàn trả sau một thời hạn
nhất định. Giá trị hoàn trả lớn hơn giá trị khoản vay, phần chênh lệch là lãi
tiền vay, lãi vay tỷ lệ với số tiền và thời hạn cho vay.
- Các nguyên tắc cho vay:
+ Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích .
TD cung ứng cho nền kinh tế phải hướng đến mục tiêu và yêu cầu phát
triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn. Đối với từng chủ thể trong nền kinh
tế, TD ngân hàng cũng phải đáp ứng những mục đích cụ thể, tạo điều kiện
khơi dậy tiềm năng của các chủ thể, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh
phát triển trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Để thực hiện nguyên tắc
này, khách hàng buộc phải sử dụng vốn vay theo đúng mục đích đã cam kết
với ngân hàng trong hợp đồng TD.
+ Tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi .
12
Đây là nguyên tắc quan trọng trong hoạt động cho vay của các TCTD,
vay mua máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng, cho vay tiêu dùng …
+ Căn cứ vào lĩnh vực vay vốn có: cho vay ngành nông, lâm, ngư
nghiệp; cho vay ngành thương mại-dịch vụ; cho vay ngành công nghiệp …
+ Căn cứ phương thức cho vay có:
• Cho vay từng lần: Áp dụng đối với trường hợp khách hàng có nhu
cầu vay vốn không thường xuyên, khi phát sinh nhu cầu vay vốn, ngân hàng
hướng dẫn khách hàng lập các thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng
TD. Theo hợp đồng TD đã ký kết, khách hàng có thể rút vốn một hay nhiều
lần phù hợp với tiến độ sử dụng vốn của phương án vay vốn.
• Cho vay theo hạn mức TD: Áp dụng đối với trường hợp khách hàng
có nhu cầu vay vốn thường xuyên, có hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định.
Trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (thường
là 1 năm) ngân hàng và khách hàng thỏa thuận một hạn mức TD duy trì trong
thời kỳ tương ứng. Trong hạn mức TD được ngân hàng phê duyệt, khách hàng
có thể rút vốn và trả nợ nhiều lần nhưng tổng dư nợ tại từng thời điểm không
vượt quá hạn mức TD đã ký kết.
• Cho vay theo dự án đầu tư: TCTD cho khách hàng vay vốn để thực
hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án
phục vụ đời sống. Vay vốn theo phương thức này chủ yếu là các khoản vay có
thời hạn trên 12 tháng, nguồn trả nợ cho các dự án đầu tư chủ yếu là lợi nhuận
và khấu hao hàng năm của dự án.
• Cho vay hợp vốn: Một nhóm TCTD cùng cho vay đối với một dự án,
phương án vay vốn của khách hàng. Trong đó, một TCTD làm đầu mối dàn
xếp, phối hợp với các TCTD khác để triển khai các quy trình thủ tục trực tiếp
làm việc với khách hàng trong quá trình cho vay, thu nợ, thu phí … Việc cho
vay hợp vốn thực hiện theo quy chế đồng tài trợ do Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước ban hành trong từng thời kỳ.
14
15
thật sự ổn định, vững chắc để tạo niềm tin cho các NHTM đầu tư vốn mà
không có biện pháp phòng ngừa rủi ro bằng tài sản đảm bảo.
Để được cho vay không có đảm bảo, người vay vốn phải đáp ứng được
các điều kiện như: có tín nhiệm với TCTD trong việc sử dụng vốn vay đúng
mục đích, trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi; có dự án đầu tư hoặc phương
án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi, có khả năng hoàn trả nợ, hoặc có dự
án, phương án phục vụ đời sống khả thi phù hợp với quy định của pháp luật;
có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ; cam kết thực hiện biện
pháp đảm bảo bằng tài sản theo yêu cầu của TCTD nếu sử dụng vốn vay
không đúng cam kết trong hợp đồng TD, cam kết trả nợ trước hạn nếu không
thực hiện các biện pháp bảo đảm bằng tài sản.
+ Cho vay có đảm bảo
Đây là hình thức được áp dụng phổ biến ở Việt Nam, giúp NHTM hạn
chế được rủi ro trong hoạt động TD, là biện pháp phòng ngừa trong trường
hợp khách hàng không trả được nợ từ dự án, phương án vay vốn.
Theo quy định hiện hành của Chính Phủ ban hành về giao dịch đảm
bảo tiền vay, các hình thức đảm bảo tiền vay gồm cầm cố, thế chấp, bảo lãnh,
đảm bảo của bên thứ ba, ký quỹ. Một số điều kiện để ngân hàng cho vay có
đảm bảo bằng tài sản:
• Phải có vốn chủ sở hữu hoặc vốn tự có tham gia vào quá trình sản
xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống, với mức vốn tự có tham gia trực tiếp vào
phương án tối thiểu bằng 20% nhu cầu vốn thực hiện phương án;
• Có tình hình tài chính lành mạnh;
• Có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp;
• Có dự án đầu tư, phương án sản xuất-kinh doanh khả thi, có hiệu quả.
1.1.3.2. Bảo lãnh ngân hàng
Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của TCTD với bên có
quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách
17
- Tiền mua tài sản thuê được bên cho thuê chuyển trả trực tiếp cho bên
cung cấp tài sản.
Các hình thức cho thuê tài chính: Cho thuê tài chính có sự tham gia
của các bên; cho thuê có sự tham gia của ba bên; cho thuê hợp tác; bán và tái
thuê; cho thuê giáp lưng; cho thuê trả góp.
1.1.3.4. Chiết khấu chứng từ có giá
Chiết khấu chứng từ có giá là một hình thức TD ngắn hạn của NHTM.
Trong nghiệp vụ này ngân hàng sẽ đứng ra trả tiền trước cho các hối phiếu hoặc
chứng từ có giá khác chưa đến hạn thanh toán theo yêu cầu của người thụ hưởng
bằng cách khấu trừ ngay một số tiền nhất định gọi là tiền chiết khấu, tính theo giá
trị chứng từ, thời hạn chiết khấu, lãi suất và các tỷ lệ chiết khấu khác, số còn lại
thanh toán cho người thụ hưởng, người thụ hưởng muốn nhận được số tiền này thì
bắt buộc phải làm thủ tục chuyển nhượng quyền hưởng lợi cho ngân hàng chiết
khấu đối với các chứng từ xin chiết khấu.
Hình thức chiết khấu chứng từ sẽ giúp cho người sở hữu chứng từ có
tiền để đáp ứng các nhu cầu thanh toán, nhất là khôi phục năng lực thanh
toán, duy trì được mối quan hệ tài chính, nhờ đó mà họ tiến hành sản xuất
kinh doanh bình thường. Với nghiệp vụ chiết khấu qua NHTM làm cho các
chứng từ có giá chưa đến hạn thanh toán có thể lưu thông từ tay người này
sang tay người khác, biến các công cụ này từ chỗ là các giấy nợ thương mại
trở thành các phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán.
Đối với các ngân hàng thương mại: Chiết khấu là nghiệp vụ TD có đảm
bảo bằng các tài sản có tính thanh khoản cao vì vậy vừa tạo ra tài sản có sinh lời
cho ngân hàng, vừa tạo ra một lực lượng dự trữ để sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu
thanh toán. Khả năng thanh toán của ngân hàng luôn được đảm bảo vì vậy các
ngân hàng thường có xu hướng mở rộng nghiệp vụ chiết khấu.
1.1.3.5. Bao thanh toán
nên những DN có tham vọng phát triển, mở rộng sản xuất bằng vốn của ngân
hàng buộc phải nỗ lực kinh doanh có hiệu quả, quản lý tài chính minh bạch và
19
sau khi được giải ngân họ phải chịu sự giám sát của ngân hàng. Những điều
kiện như vậy giúp các DN đẩy mạnh đổi mới quản trị DN, tái cấu trúc ngành
nghề, nhờ đó hoạt động có hiệu quả hơn.
1.2.1.2. Mở rộng tín dụng cũng có lợi cho bản thân
ngân hàng thương mại
Cho đến nay, TD vẫn là hoạt động chủ yếu của các NHTM. Quy mô,
chất lượng hoạt động TD mang lại cho NHTM không chỉ doanh thu, lợi
nhuận, vị thế trên thị trường, mà còn điều kiện thuận lợi để triển khai các hoạt
động dịch vụ khác. Chính vì thế, mở rộng TD luôn là mối quan tâm hàng đầu
của các NHTM.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, TD NHTM ở nước ta trong những
năm gần đây đã thực sự chuyển mình và có những bước tăng trưởng rõ rệt. Tốc độ
tăng trưởng TD toàn ngành tương đối cao, các NHTM ngày càng tỏ ra là một
trong những tác nhân dẫn vốn hiệu quả. Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng TD là
nguy cơ rủi ro TD rất lớn mà NHTM phải đối mặt. Vì thế, mở rộng TD phải đi đôi
với nâng cao chất lượng TD để giảm thiểu rủi ro mới có thể tối đa hóa lợi nhuận.
Tình thế đó buộc các NHTM phải tìm kiếm và mở rộng thị trường một cách thận
trọng, đa dạng hóa đối tượng khách hàng để tránh bỏ trứng vào một giỏ. Ở khía
cạnh này việc mở rộng TD góp phần phân tán rủi ro, sử dụng hiệu quả hơn vốn
kinh doanh của mình.
Hơn nữa, việc mở rộng TD với nhiều đối tượng khách hàng sẽ tạo điều kiện
cho ngân hàng xây dựng hình ảnh trong các khách hàng, khuyến khích họ sử dụng
các dịch vụ ngân hàng như: tư vấn, thanh toán, đầu tư … Việc tạo được nhiều mối
quan hệ lâu dài với khách hàng là điều kiện để ngân hàng thiết lập được danh sách
khách hàng truyền thống. Với ưu thế đó, ngân hàng vừa có thể giảm được chi phí