VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ NHẬT NAM
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI
XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE CỦA CON
NGƯỜI TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ NHẬT NAM
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI
XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE CỦA CON
NGƯỜI TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số
: 8 38 01 04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS PHÙNG THẾ VẮC
tính mạng, sức khỏe của con người.................................................................19
CHƯƠNG 2. THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI
XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI TỪ THỰC
TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH.............................................................................25
2.1 Quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố đối với các tội xâm
phạm tính mạng, sức khỏe của con người.......................................................25
2.2 Thực trạng thực hiện quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố
đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người trên địa bàn tỉnh
Bình Định........................................................................................................32
CHƯƠNG 3. NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC
KHỎE CỦA CON NGƯỜI TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH..........56
3.1 Nâng cao chất lượng quản lý, điều hành trong công tác thực hành quyền
công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người..........56
3.2 Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với
hoạt động điều tra............................................................................................57
3.3 Chủ động đề ra yêu cầu điều tra có chất lượng, toàn diện........................59
3.4 Nâng cao nhận thức về hoạt động thực hành quyền công tố đối với các vụ
án xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người.................................................61
3.5 Xây dựng mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát
trong hoạt động điều tra.................................................................................. 63
3.6 Nắm vững quan điểm và thực hiện đúng đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước trong quá trình thực hành quyền công tố.................67
3.7 Tăng cường hướng dẫn áp dụng thực hiện BLTTHS 2015.......................69
KẾT LUẬN....................................................................................................73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tòa án
TAND
Tòa án nhân dân
THQCT
Thực hành quyền công tố
TTHS
Tố tụng hình sự
TNHS
Trách nhiệm hình sự
VAHS
Vụ án hình sự
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
Bình Định là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, nằm trong
Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung có vị trí địa lý, kinh tế đặc biệt quan
trọng trong việc giao lưu với các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á và quốc tế.
Trong tiến trình đổi mới, Bình Định đã có nhiều chuyển biến tích cực trong
phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh những thành tựu đạt được đó, là tình hình
tội phạm ngày càng phức tạp, đối tượng thực hiện hành vi phạm tội rất đa
dạng, tinh vi, liều lĩnh, gây khó khăn cho quá trình xác minh, giải quyết của
các cơ quan tiến hành tố tụng; đặc biệt là các tội phạm xâm phạm tính mạng,
sức khỏe của con người.
1
Ngoài các yếu tố lý do khách quan về tình hình tội phạm, đa số những
vụ án gặp phải vướng mắc có một phần trách nhiệm của các Kiểm sát viên,
chưa bám sát tiến độ điều tra; năng lực phân tích, tổng hợp, đánh giá chứng cứ
còn hạn chế; nhận định lỗi chưa phù hợp với diễn biến thực tế của tội phạm
dẫn đến những khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử. Vì thế, công tác
thực hành quyền công tố cần phải được nâng cao hơn nữa, để VKS phát huy
tốt vai trò, trách nhiệm của mình trong công tác đấu tranh, phòng chống tội
phạm.
Trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
ngoài việc giải quyết vụ án hình sự một cách công khai, dân chủ, công bằng,
không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm; đồng thời phải đảm bảo
công lý được thực thi. Đây cũng là đòi hỏi cấp thiết của xã hội, nhất là khi
chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Để góp phần nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố đối
với các vụ án hình sự nói chung, các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe
của con người nói riêng. Đồng thời, để tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm và
đưa ra các giải pháp từ thực tiễn hoạt động công tác thực hành quyền công tố
trên địa bàn tỉnh Bình Định, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Thực hành
Do thời điểm làm luận văn là thời kỳ giao thoa giữa việc áp dụng
BLTTHS năm 2003 và BLTTHS 2015 nên trong quá trình phân tích tác giả sẽ
so sánh, đối chiếu những điểm mới của BLTTHS 2015 so với BLTTHS năm
2003 về thực hành quyền công tố của VKSND qua các giai đoạn tố tụng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn tác giả đã đề cập, nghiên cứu một số vấn đề về thực
hành quyển công tố trong các giai đoạn tiếp nhận tố giác tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố; giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với các vụ án
xâm phạm sức khỏe con người quy định tại các điều từ Điều 123 - 140 BLHS
4
năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 (và tại các điều từ Điều 104 - 110 BLHS
năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009) theo quy định của BLTTHS năm 2003,
BLTTHS năm 2015 trên địa bàn Bình Định trong thời gian 05 năm (từ năm
2014 đến năm 2018).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, tác giả thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ
nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, chủ nghĩa duy vật lịch sử. Ngoài ra còn,
dựa trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh nhận thức về Nhà nước và pháp luật.
Các đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng
Nhà nước pháp quyền. Những vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện thông
qua các chính sách về hình sự, tố tụng hình sự. Các Nghị quyết của Đảng về
nâng cao chất lượng thực hành Quyền công tố. Nghị quyết Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02/6/2005; các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng một số phương
pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật tố tụng hình sự, khoa học điều tra
hình sự và các phương pháp, và các kỹ năng khác như: phương pháp so sánh,
đối chiếu; phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp quy nạp; phương
pháp diễn dịch; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học về tội phạm cố ý
gây thương tích, giết người để tổng hợp các tri thức khoa học luật tố tụng hình
tính mạng, sức khỏe con người
Chương 2: Thực trạng thực hành quyển công tố đối với các tội xâm
phạm tính mạng, sức khỏe con người từ thực tiễn tỉnh Bình Định
Chương 3: Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố đối với các
tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người từ thực tiễn tỉnh Bình Định.
6
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM
PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI
1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố đối với các tội phạm xâm
phạm tính mạng, sức khỏe của con người
Khi nghiên cứu chức năng của VKS chúng ta hay nhắc đến khái niệm
thực hành quyền công tố, ngoài ra còn xuất hiện khái niệm quyền công tố hay
Công tố quyền. Cho đến nay, trong các nghiên cứu có rất nhiều quan điểm về
quyền công tố; có quan điểm cho rằng: quyền công tố gắn liền với sự phát
triển của khoa học pháp lý, khi mà các khái niệm dân chủ và quyền con người
được đề cao, đòi hỏi cần phải có một cơ quan thay mặt nhà nước đứng ra bảo
vệ quyền bị xét xử bởi các cơ quan tư pháp. Quan điểm khác lại coi công tố là
một quyền độc lập, chỉ có trong xã hội dân chủ, nhằm bảo vệ quyền của các
chủ thể quan hệ pháp luật khi tham gia quá trình tố tụng tại phiên tòa và thực
hiện các quyền theo quy định của pháp luật. Quan điểm thứ ba cho rằng, khi
chúng ta tách Tòa án ra khỏi hệ thống các cơ quan hành pháp, đồng thời với
sự phát triển của hệ thống pháp luật thì chức năng công tố mới xuất hiện.
Ngoài ra không đồng ý với các quan điểm nêu trên, một số học giả cho rằng,
quyền công tố là một khái niệm pháp lý, gắn liền với bản chất của nhà nước
và xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật. Quyền công tố gắn
liền với hầu hết các kiểu nhà nước mà lịch sử ghi nhận, từ nhà nước chủ nô
dừng lại ở việc đưa ra được một số biện pháp để nâng cao chất lượng, hiệu
quả công tác kiểm sát như thực hiện công tác kiểm sát điều tra, công tác kiểm
sát xét xử các vụ án hình sự, công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam, giam, giữ
và cải tạo, kiểm sát việc thi hành án hình sự. Ngoài ra những công trình này
còn bộc lộ một số hạn chế về mặt nhận thức của một số học giả luật học làm
8
công tác nghiên cứu và thực tiễn trong, ngoài ngành kiểm sát đã có sự nhầm
lẫn giữa quyền công tố với thực hành quyền công tố trên nhiều phương diện
như đối tượng, nội dung, phạm vi. Đồng thời các công trình nghiên cứu này
luôn luôn gắn quyền công tố chỉ với VKS, coi đó là quyền năng của duy nhất
cơ quan VKS. Vì những nguyên nhân như vậy nên các học giả đã chưa giải
thích được một số vấn đề là khi một số cơ quan tiến hành tố tụng như CQ
CSĐT, TA thực hiện các biện phải như khởi tố vụ án, khởi tố bị can... cho nên
cần phải nhận thức, trong thực tiễn các cơ quan này có phải cũng thực hành
quyền công tố hay không.
Nhà nước ta đã tổ chức một hệ thống cơ quan cụ thể nhằm thực hiện
quyền lực của nhà nước trên một lĩnh vực nhất định. Hệ thống tập hợp các cơ
quan này có một vai trò vô cùng quan trọng trong công tác phối hợp giữa cơ
quan nhà nước với nhau nhằm thực hiện quyền lực nhà nước (các quyền lực
mà Nhà nước đã giao quyền). Hầu hết các nước trên thế giới thành lập cơ
quan công tố chuyên biệt để thực hành quyền công tố, với một số quyền hạn
và trách nhiệm tố tụng được pháp luật TTHS ghi nhận trong suốt quá trình
điều tra, truy tố, xét xử.
Không thể tồn tại một cơ quan nhà nước nào khác để có thể thay thế
được Viện kiểm sát trong việc sử dụng quyền công tố; Các công tác bắt tạm
giữ, tạm giam, tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố; điều tra, truy tố, xét xử có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay
không, đó chính là việc, trách nhiệm của Viện kiểm sát phải bảo đảm cho hợp
có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với bất kỳ một ai. Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã đánh dấu một bước tiến lớn
trong lĩnh vực quyền con người. Nếu như quyền con người trong Hiến pháp
1992 chỉ thể hiện tại Điều 50 thì Hiến pháp năm 2013 đã dành một chương
riêng (chương II) quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân.
10
Trong chương này, các quyền con người, trong đó có quyền được tôn trọng và
bảo vệ tính mạng, sức khỏe được quy định cụ thể và phù hợp, tương thích với
các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia. Điều 19 quy
định: “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo
hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”.
Đặc biệt, quyền này còn được bảo vệ bởi văn bản luật quan trọng là Bộ
luật hình sự. Bộ luật hình sự Việt Nam cũng cấm những hành vi trái pháp luật
xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người và đưa ra những chế tài đối
với loại hành vi này.
Tuy nhiên, để hiểu rõ khái niệm "các tội xâm phạm tính mạng sức khỏe
của con người", chúng ta cần tìm hiểu khái niệm “tính mạng” "sức khỏe".
Tính mạng chính là sự sống của con người. Theo quan niệm của Tổ chức Y tế
Thế giới thì "Sức khỏe không phải là yếu đuối, hay không có bện tất mà chính
là có một trạng thái sảng khoái về mặt thể chất, tinh thần và xã hội chứ, có đủ
điều kiện phát triển thể chất tốt, trí tuệ được nâng cao, phát triển trong một xã
hội lành mạnh". Cho nên, sức khỏe là một vấn đề cá nhân của mỗi con người.
Vì vậy, mỗi người đều được quyền tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của mình.
Trong các Giáo trình luật hình sự Việt Nam và một số tài liệu nghiên
cứu, bình luận chuyên sâu hiện nay chủ yếu đưa ra khái niệm chung về các tội
xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, ít có khái
niệm riêng về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người, có thể
điểm qua như sau:
trách nhiệm hình sự của chủ thể hoặc chưa khẳng định rõ khách thể của tội
phạm này là quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của con người được
pháp luật bảo vệ.
Từ những phân tích trên, theo tác giả, dưới góc độ khoa học pháp lý
luật hình sự, các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người là những
12
hành vi có lỗi (cố ý hoặc vô ý) gây nguy hiểm cho xã hội; những hành vi này
phải do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và phải đủ tuổi chịu trách
nhiệm hình sự thực hiện; ngoài ra những hành vi này cụ thể được quy định
trong Bộ luật hình sự; và hành vi này được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý
xâm phạm tới quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe của người khác
được Hiến pháp và pháp luật hình sự quy định.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm thực
hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con
người như sau:
“Thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức
khỏe của con người là việc Viện Kiểm Sát sử dụng tổng hợp các quyền năng
pháp lý do pháp luật quy định để thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền được tôn trọng và
bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người khác nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm
tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp
thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật”
1.2 Đặc điểm thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm
tính mạng, sức khỏe của con người
Khi thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức
khỏe của con người chúng ta cần lưu tâm đến vấn đề có hay không có yêu cầu
khởi tố, nếu rơi vào trường hợp khoản 1 Điều 134 BLHS thì cần phải có yêu
cầu khởi tố của người bị hại hoặc đại diện bị hại, cơ quan chức năng mới xử
động ngoại lực hoặc bất kỳ hình thức nào làm cho người đó yếu đi hoặc gây
ra những tổn thương ở các bộ phận trong cơ thể, gây bệnh tật, làm ảnh hưởng
đến hoạt động bình thường của người đó. Nó làm tổn hại đến khả năng suy
nghĩ, học tập, lao động, sáng tạo của nạn nhân.
14
Mặt khách quan của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của
con người
Mặt khách quan của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con
người thể hiện ở những hành vi nguy hiểm cho xã hội (hành động hoặc không
hành động) xâm phạm trực tiếp tới tính mạng, sức khỏe của con người. Trong
Chương XIV của Bộ luật hình sự, đa số các hành vi nguy hiểm cho xã hội
được thực hiện bằng hành động phạm tội như: sử dụng các công cụ, phương
tiện khác nhau để gây nên sự tác động tới con người cụ thể, gây ra những thiệt
hại hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại cho con người đó. Cá biệt cũng có
những tội phạm, hành vi nguy hiểm cho xã hội được thể hiện dưới dạng
không hành động phạm tội như: Tội không cứu giúp người đang ở trong tình
trạng nguy hiểm đến tính mạng – Điều 132 hoặc hành vi không cho con do
mình đẻ ra bú sữa gây ra cái chết cho đứa trẻ là một dạng hành vi không hành
động phạm tội trong Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ – Điều 124.
Mặt khách quan của tội phạm còn thể hiện ở hậu quả nguy hiểm cho xã
hội. Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của các tội phạm này là những thiệt hại về
thể chất như chết người; thiệt hại về sức khỏe; cách ly trẻ em khỏi sự quản lý
của gia đình hoặc người thân; truyền bệnh nguy hiểm cho người khác… Phần
lớn các tội phạm thuộc Chương XIV Bộ luật hình sự đều có cấu thành vật
chất, tức là hậu quả là yếu tố bắt buộc của cấu thành tội phạm. Để truy cứu
trách nhiệm hình sự về các tội phạm này cần phải làm rõ mối quan hệ nhân
quả giữa hành vi và hậu quả do hành vi đó gây ra.
như động cơ đê hèn (điểm q khoản 1 Điều 123 tội giết người; điểm c khoản 2
các điều 151, 152, 153 – các tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em);
để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác, để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân
(điểm g, h khoản 1 Điều 123 – tội giết người); để che giấu hoặc trốn tránh
việc bị xử lý về một tội phạm khác (điểm d khoản 2 Điều 133 tội đe dọa giết
16
người); để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân
(điểm n khoản 1 Điều 134 tội cố ý gây thương tích, v.v..); để sử dụng vào mục
đích vô nhân đạo, để đưa ra nước ngoài (điểm b khoản 1, điểm đ khoản 2
Điều 150 – tội mua bán người; điểm h, e khoản 2 các điều 151, 152, 153 – các
tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em). Đối với các tội khác, động cơ,
mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc.
1.3 Đối tượng và phạm vi thực hành quyền công tố đối với các tội
xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
1.3.1 Đối tượng thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm
tính mạng, sức khỏe của con người
Quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, sức khỏe của con người
nằm trong hệ thống các quyền cơ bản của con người được pháp luật quốc tế
và pháp luật của nhiều quốc gia ghi nhận và bảo vệ. Trong thời đại toàn cầu
hóa, việc đảm bảo quyền con người nói chung và quyền được tôn trọng và bảo
vệ tính mạng, sức khỏe nói riêng được xem là thước đo trình độ phát triển,
tính ưu việt của mọi chế độ. Tính mạng, sức khỏe vốn là tài sản vô giá của
mỗi con người, mọi hành vi xâm phạm trái luật đến tính mạng, sức khỏe của
con người đều phải bị xử lý nghiêm minh. Tuy nhiên, không phải trường hợp
nào xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe con người cũng đều bị xử lý hình sự;
để có đủ căn cứ xử lý hình sự đối với tội phạm xâm phạm tính mạng, sức
khỏe thì cần phải căn cứ vào độ tuổi của người thực hiện hành vi, thực tế diễn
biến của hành vi làm chết người: như hành vi gây chết người trong trường hợp
Trong TTHS nước ta, VKS là cơ quan duy nhất được giao chức năng
thực hành quyền công tố và thực hiện xuyên suốt ở các giai đoạn tố tụng, bởi
vì việc tiến hành các hoạt động tố tụng suy cho cùng bao giờ cũng gắn với
việc buộc tội. Tuy nhiên ở giai đoạn thi hành án thì không còn việc buộc tội
18