VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ THÁI TRUNG
KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM
TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số : 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM MẠNH HÙNG
Hà Nội, 2015
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Tính c p thi t c a t i ấ ế ủ đề à 1
2. Tình hình nghiên c uứ 3
3. M c ích, nhi m v v ph m vi nghiên c uụ đ ệ ụ à ạ ứ 4
4. Ph ng pháp lu n v các ph ng pháp nghiên c uươ ậ à ươ ứ 5
5. Nh ng i m m i óng góp c a lu n v nữ đ ể ớ đ ủ ậ ă 6
6. Ý ngh a lý lu n v th c ti nĩ ậ à ự ễ 6
7. K t c u c a lu n v nế ấ ủ ậ ă 7
Chương 1: 8
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC
VỤ ÁN XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHOẺ CỦA CON NGƯỜI 8
1.1. Nh n th c chung v các t i xâm ph m tính m ng, s c kho c a conậ ứ ề ộ ạ ạ ứ ẻ ủ
ng i theo quy nh c a B lu t hình s hi n h nhườ đị ủ ộ ậ ự ệ à 8
1.2. Khái ni m ki m sát i u tra các v án xâm ph m tính m ng, s c ệ ể đ ề ụ ạ ạ ứ
kho c a con ng iẻ ủ ườ 11
1.2.1. Khái ni m ki m sát i u traệ ể đ ề 11
1.2.2. Khái ni m ki m sát i u tra các v án xâm ph m tính m ng, ệ ể đ ề ụ ạ ạ
s c kho c a con ng iứ ẻ ủ ườ 15
Ti u k t Ch ng 2ể ế ươ 56
Chương 3: 57
DỰ BÁO TÌNH HÌNH, CÁC QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM 57
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN
XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHOẺ CỦA CON NGƯỜI 57
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH YÊN BÁI 57
3.1. D báo tình hình v các y u t nh h ng n công tác ki m sát ự ề ế ố ả ưở đế ể
i u tra các v án xâm ph m tính m ng, s c kho c a con ng i t nh đ ề ụ ạ ạ ứ ẻ ủ ườ ở ỉ
Yên Bái trong th i gian t iờ ớ 57
3.2. Các quan i m ch o c a ng v công tác ki m sát i u tra các đ ể ỉ đạ ủ Đả ề ể đ ề
v án xâm ph m tính m ng, s c kho c a con ng i trên a b n t nh ụ ạ ạ ứ ẻ ủ ườ đị à ỉ
Yên Bái 58
3.3. M t s gi i pháp nh m nâng cao hi u qu công tác ki m sát i u ộ ố ả ằ ệ ả ể đ ề
tra các v án xâm ph m tính m ng, s c kho c a con ng i trên a ụ ạ ạ ứ ẻ ủ ườ đị
b n t nh Yên Báià ỉ 60
K T LU NẾ Ậ 69
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 26/7/1960 Ngành Kiểm sát nhân dân được thành lập. Trong hơn
50 năm xây dựng và phát triển, Ngành Kiểm sát đã có nhiều chuyển biến tích
cực trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên nhằm
đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của ngành, góp phần tích cực bảo vệ pháp chế xã
hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân
dân, bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể, của công dân; bảo vệ tài sản,
tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm của con người; bảo đảm xử
lý nghiêm minh mọi hành vi xâm phạm lợi ích của nhà nước, của tập thể,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, công cuộc đổi
mới của đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên nhiều mặt về kinh
tế, chính trị, văn hóa xã hội, đời sống của nhân dân ngày càng nâng cao, đất
vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Hoàn thiện chính
sách, pháp luật về hình sự, dân sự, thủ tục tố tụng tư pháp. Đổi mới
hệ thống tổ chức toà án theo thẩm quyền xét xử, mở rộng thẩm
quyền xét xử đối với các khiếu kiện hành chính; Viện kiểm sát
được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức Toà án, bảo đảm các
điều kiện để thực hiện có hiệu quả chức năng thực hành quyền công
tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
Quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của
Nhà nước, được sự chỉ đạo, lãnh đạo của Tỉnh uỷ Yên Bái và của Viện kiểm
sát nhân dân Tối cao, trong những năm qua ngành Kiểm sát nhân dân tỉnh
Yên Bái đã có nhiều cố gắng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao
trong đó có công tác kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm tính mạng, sức
khoẻ và đã đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ, số vụ án bị phát hiện và
xử lý ngày càng tăng, số vụ án trả điều tra bổ sung rất ít và đang có xu hướng
giảm, không có vụ án xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con người Viện
kiểm sát truy tố, tòa án tuyên không phạm tội; những kết quả trên đã góp
2
phần tuyên truyền pháp luật cũng như đấu tranh và phòng ngừa tội phạm, góp
phần quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,
bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, so với yêu cầu cải cách tư pháp,
công tác kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con
người ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái vẫn còn những tồn tại, thiếu sót
cần được khắc phục, trong đó có nguyên nhân từ nhận thức và hiệu quả áp
dụng pháp luật và kiểm sát hoạt động điều tra, điều này dẫn đến vẫn còn tồn
tại tình trạng tổng hợp, đánh giá chứng cứ chưa thực sự khách quan, còn tình
trạng bỏ lọt tội phạm v.v
Những yếu kém, tồn tại trên có nhiều nguyên nhân chủ quan. Trong đó
chủ yếu là do năng lực trình độ chuyên môn, bản lĩnh nghề nghiệp, vận dụng
các quy định của pháp luật hình sự nói chung cũng như các quy định và
quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự” của tác giả Huỳnh
Quốc Hùng, tạp chí Kiểm sát số 10/2009;”Những vướng mắc trong việc thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát trong kiểm sát điều tra vụ án hình
sự” của Đinh Xuân Thảo, tạp chí Kiểm sát số 16/2009; “Nâng cao trách
nhiệm của Viện kiểm sát và kiểm sát viên trong công tác thực hành quyền
công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, không
bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội “ của tác giả Hoàng Nghĩa Mai,
tạp chí kiểm sát số 3/2008.
. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu chức năng kiểm sát
điều tra các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con người trên địa bàn
tỉnh Yên Bái gắn với yêu cầu cải cách tư pháp.
Với vai trò ý nghĩa của việc kiểm sát điều tra, cũng như tình hình nghiên
cứu nêu trên lý giải cho tác giả chọn việc nghiên cứu "Kiểm sát điều tra các vụ
án xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con người từ thực tiễn tỉnh Yên Bái
" làm luận văn cao học luật.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
4
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở nghiên pháp luật về
hoạt động KSĐT nói chung và thực tiễn áp dụng đối với các tội xâm phạm
tính mạng, sức khỏe của con người trên địa bàn tỉnh Yên Bái nói riêng và đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động KSĐT các vụ án
xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Nghiên cứu những quy định cụ thể về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền
hạn của VKS trong hoạt động KSĐT nói chung và KSĐT các vụ án xâm
phạm tính mạng, sức khỏe của con người.
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn hoạt động KSĐT các vụ án xâm
phạm tính mạng, sức khỏe của con người trên địa bàn tỉnh Yên Bái, đồng thời
VKSND trong hoạt động KSĐT các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe của
con người trên địa bàn tỉnh Yên Bái.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hoạt động của
VKSND khi KSĐT các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người,
góp phần xây dựng, hoàn thiện các tri thức của khoa học Luật hình sự, Luật tố
tụng hình sự và khoa học điều tra hình sự.
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích
dành cho không chỉ các nhà lập pháp mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán
bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên
thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật. Kết quả nghiên
cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu
cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các CQĐT, VKS, Tòa án và cơ
quan thi hành án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được khách quan, có
căn cứ và đúng pháp luật.
6
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về công tác kiểm sát điều tra các vụ
án xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con người.
Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án xâm
phạm tính mạng, sức khoẻ của con người trên địa bàn tỉnh Yên Bái.
Chương 3: Dự báo, các quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả công tác kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của
con người trên địa bàn tỉnh Yên Bái.
7
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ
ÁN XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHOẺ CỦA CON NGƯỜI
8
+ Tội lây truyền HIV cho người khác (Điều 117)
+ Tội cố ý truyền HIV cho người khác (Điều 118)
Dấu hiệu pháp lý của nhóm tội này là:
Khách thể của tội phạm: Khách thể của nhóm tội này là quyền sống,
quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người, đây cũng là một
trong những khách thể quan trọng nhất được luật hình sự bảo vệ.
Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan thể hiện ra bên ngoài
rất đa dạng, phong phú, nhưng có điểm chung là đều có thể trực tiếp hoặc gián
tiếp gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến tính mạng của con người. Hành vi
khách quan của nhóm tội này có thể là hành động hoặc không hành động.
Chủ thể của tội phạm: Hầu hết chủ thể của nhóm tội này là những người
có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định. Chỉ có hai tội là
Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 97) và Tội bức tử (Điều
100) là cần có những đặc điểm đặc biệt thì mới cấu thành tội phạm. Chủ thể
của Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ phải là những người được
giao nhiệm vụ, quyền hạn và tại thời điểm phạm tội người đó đang thi hành
công vụ. Chủ thể của tội bức tử và nạn nhân phải có mối quan hệ lệ thuộc;
hay nói cách khác, nạn nhân là người bị lệ thuộc về các mặt vật chất và tinh
thần như: lệ thuộc về kinh tế; bị ràng buộc bởi quan hệ hôn nhân, huyết thống,
nuôi dưỡng, quan hệ công tác, thầy trò hoặc quan hệ tôn giáo
Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi là biểu hiện quan trọng nhất trong mặt
chủ quan của tội phạm. Nhóm tội xâm phạm tính mạng sức khoẻ có thể có lỗi
cố ý (các tội tại các điều 93, 94, 95, 96, 100, 101, 102, 103 BLHS ) hoặc lỗi
vô ý (các tội tại các Điều 98, 99 BLHS).
Hình phạt: Có nhiều mức hình phạt khác nhau cho nhóm tội xâm phạm tính
mạng. Khoảng cách giữa mức hình phạt thấp nhất là cảnh cáo và cao nhất là tử
hình. Ngoài hình phạt chính thì có một số tội có quy định về hình phạt bổ sung là
cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.
Từ những phân tích trên đây có thể rút ra khái niệm các tội xâm phạm
Tội hành hạ người khác (Điều 110 BLHS) là yêu cầu chủ thể đặc biệt. Tội
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong khi
thi hành công vụ đòi hỏi người phạm tội là người đang thi hành công vụ;
10
Tội hành hạ người khác đòi hỏi nạn nhân phải có quan hệ lệ thuộc với
người phạm tội.
Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của nhóm tội này có thể là lỗi cố ý hoặc
lỗi vô ý. Ngoài yếu tố lỗi thì một số tội có yếu tố động cơ phạm tội là dấu
hiệu định khung tăng nặng như Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khoẻ của người khác được quy định tại Điều 104 BLHS; hoặc động cơ
phạm tội là dấu hiệu bắt buộc của Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng quy
định tại Điều 106 BLHS.
Hình phạt: Ngoài hình phạt chính thì có một số tội có quy định về hình
phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm làm những nghề hoặc công việc
nhất định.
Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu các tội xâm phạm sức khỏe của
con người là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm
hình sự thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến quyền được tôn trọng
và bảo vệ sức khoẻ của con người.
1.2. Khái niệm kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm tính mạng, sức
khoẻ của con người
1.2.1. Khái niệm kiểm sát điều tra
Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học thuộc Viện ngôn ngữ
- Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia xuất bản năm 2000, thì
“kiểm sát” có nghĩa là kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của Nhà
nước. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2002 do Hội đồng
Quốc gia chỉ đạo biên soạn, thì “kiểm sát” là hoạt động của VKSND nhằm
kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước.
Như vậy, khái niệm kiểm sát hiểu theo nghĩa thông thường gồm hai hoạt
quy định "Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ,
12
cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân.
Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự có quyền kiểm
sát trong phạm vi do luật định". Cơ quan Viện kiểm sát ra đời thay thế cho mô
hình Viện công tố, ngoài chức năng thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát còn
có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ,
các cơ quan khác thuộc Chính phủ, cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân. Sự ra đời của mô hình Viện
kiểm sát thay thế cho mô hình Viện công tố ở nước ta gắn liền với yêu cầu của
nhiệm vụ bảo đảm pháp chế thống nhất- điều kiện nền tảng cho việc xây dựng
nhà nước kiểu mới.
Từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân
dân năm 1960 đến nay, Nhà nước ta đã ban hành 06 đạo luật về tổ chức và hoạt
động của Viện kiểm sát nhân dân vào các năm 1960, năm 1981, năm 1989, năm
1992, năm 2002 và năm 2014:
Các văn bản luật trên vừa là cơ sở pháp lý thể hiện tư tưởng chủ đạo của
Đảng và Nhà nước trong tổ chức và hoạt động của VKSND nhằm đảm bảo pháp
chế xã hội chủ nghĩa được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất; đồng thời vừa là
kết quả đúc rút từ thực tiễn hoạt động của VKSND qua các thời kỳ cách mạng.
Các đạo luật trên đều gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải
phóng đất nước; gắn liền với sự nghiệp bảo vệ, xây dựng tổ quốc, bảo vệ pháp chế
xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền làm chủ của tập thể, của nhân dân, bảo vệ tài sản
xã hội chủ nghĩa, tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì VKS được giao hai chức năng
chính là chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Đây là hai chức năng hoàn toàn độc lập của VKS. Xét về khía cạnh thực tiễn, hai
chức năng này của VKS có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Để hiểu rõ hơn chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều
+ Kiến nghị với cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng
ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.
Nội dung của kiểm sát điều tra là việc VKS được trao quyền hạn và thực
hiện nhiệm vụ nhằm phát hiện kịp thời và loại trừ, khắc phục các vi phạm của
14
CQĐT với mục đích đảm bảo cho tất cả các hoạt động điều tra phải được tuân
thủ theo những quy định của pháp luật TTHS, để pháp luật được chấp hành
nghiêm chỉnh, thống nhất, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm kiểm sát điều tra như sau:
Kiểm sát điều tra là việc VKS tiến hành các hoạt động kiểm tra và giám sát việc
tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật TTHS phát sinh
trong giai đoạn điều tra, nhằm đảm bảo cho quá trình điều tra vụ án được thực
hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Từ khái niệm trên, có thể thấy mục đích của kiểm sát điều tra là nhằm đảm
bảo pháp luật được tuân thủ một cách nghiêm chỉnh và thống nhất trong suốt cả
quá trình điều tra vụ án hình sự.
Đối tượng của kiểm sát điều tra: Là việc chấp hành pháp luật của Cơ quan
điều tra, là hành vi liên quan đến hoạt động điều tra của các cán bộ, Điều tra viên
được giao nhiệm vụ tiến hành các hoạt động điều tra, là các quyết định tố tụng
của Cơ quan điều tra trong giai đoạn điều tra, là việc tuân thủ các quy định của
pháp luật trong suốt cả quá trình điều tra.
Phạm vi của kiểm sát điều tra: Kiểm sát điều tra chỉ có trong lĩnh vực
TTHS.
1.2.2. Khái niệm kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm tính mạng, sức
khoẻ của con người
Đối với các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con người , trước
khi ra quyết định khởi tố vụ án, Cơ quan điều tra cần xác định vụ việc có dấu
hiệu tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con người hay không dựa
trên các kênh thông tin trong đó có các tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị
khởi tố vụ án xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con người . Đối với các tin
người là: Hoạt động của VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Cơ quan
điều tra phát sinh trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tính mạng,
sức khoẻ của con người , nhằm đảm bảo cho quá trình điều tra vụ án xâm
16
phạm tính mạng, sức khoẻ của con người được thực hiện theo đúng quy định
của pháp luật.
1.3. Nội dung công tác kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm tính
mạng, sức khoẻ của con người
Giai đoạn điều tra là giai đoạn đầu tiên của quá trình TTHS, có vai trò rất
quan trọng trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Trong giai đoạn điều tra,
CQĐT phải áp dụng các biện pháp điều tra hợp pháp để xác định sự thật của
vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác
định hành vi phạm tội và những chứng cứ xác định vô tội, đồng thời điều tra
làm rõ những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ của bị can. Các
biện pháp đó không những có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình giải quyết vụ án
mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Do vậy các biện pháp điều tra của CQĐT cần được đặt dưới sự kiểm tra, giám
sát chặt chẽ của VKS để đảm bảo quá trình điều tra vụ án đúng theo quy định
của pháp luật.
1.3.1. Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị
khởi tố.
Một trong những nguồn thông tin về tội phạm đó là các tố giác, tin báo
của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân. Thông tin về tội
phạm là một dữ kiện không thể thiếu được cho việc phát hiện, khám phá tội
phạm, do đó nguồn tố giác và tin báo về tội phạm đóng góp một phần rất quan
trọng trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm của Nhà nước.
Thông tin trong các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con người có
những đặc điểm riêng. Các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con
người có thể xảy ra bất kỳ lúc nào, bất kỳ nơi đâu, có thể xuất phát từ những
mâu thuẫn nhỏ rồi các bên to tiếng với nhau, sau đó dẫn đến xô sát; cũng có
18
- Kiểm sát việc tiếp nhận thông tin về tội phạm của CQĐT và các cơ
quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
- Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi
tố của CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra.
Khi có thông tin về vụ xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con người,
VKS kiểm sát về tính hợp pháp của các biện pháp mà CQĐT áp dụng trong
quá trình kiểm tra, xác minh, giải quyết, đồng thời kiểm sát về thời hạn kiểm
tra, xác minh tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố.
Nếu phát hiện vi phạm trong việc giải quyết các tố giác và tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố trong vụ án xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của
con người, VKS phải yêu cầu CQĐT khắc phục ngay trong quá trình xác
minh tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố nếu có, nhằm bảo đảm các
hoạt động của CQĐT tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật. Trên cơ
sở kết quả của quá trình kiểm tra, xác minh các tố giác, tin báo về tội phạm xâm
phạm tính mạng, sức khoẻ của con người đã thụ lý, CQĐT sẽ đánh giá và xác
định có dấu hiệu của tội phạm hay không để từ đó giải quyết bằng việc ra quyết
định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Với
chức năng của mình, VKS tiếp tục kiểm sát việc khởi tố của CQĐT.
1.3.2. Kiểm sát việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can.
Quan hệ pháp luật TTHS giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với
người có hành vi phạm tội nói chung phát sinh từ khi có Quyết định khởi tố
vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can; đây là những văn bản có tính pháp
lý quan trọng có ý nghĩa mở đầu cho cả quá trình TTHS. Sau khi có quyết
định khởi tố vụ án, khởi tố bị can các cơ quan có thẩm quyền chính thức bắt
đầu các hoạt động điều tra nhằm làm rõ tội phạm, người phạm tội, làm rõ các
tình tiết của vụ án, của hành vi phạm tội cũng như mục đích, động cơ của
người phạm tội…
19
xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con người với hậu quả thiệt hại xảy ra
đối với các tội cần phải xác định về hậu quả. VKS phải xem xét quyết định
khởi tố của CQĐT có dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật không,
có đúng với hành vi phạm tội mà bị can đã thực hiện hay không, ngoài hành
vi phạm các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con người đã bị khởi tố,
có còn hành vi nào chưa được khởi tố hay không… Chỉ khi xác định chắc
chắn việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can là có căn cứ thì VKS mới ra quyết định
phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; trường hợp nếu xét chưa đầy đủ căn cứ
vững chắc thì VKS phải yêu cầu CQĐT bổ sung hoặc tự mình bổ sung đầy đủ
mới quyết định phê chuẩn; kiên quyết không phê chuẩn nếu thấy chưa đủ các
căn cứ xác định tội phạm và người phạm tội.
1.3.3. Kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn
trong vụ án xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con người
Biện pháp ngăn chặc là biện pháp cưỡng chế trong TTHS được áp dụng
đối với bị can, bị cáo, người đang thực hiện hành vi phạm tội quả tang hoặc
đối với người đang chuẩn bị phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc
biệt nghiêm trọng hoặc đối với người bị tình nghi phạm tội nhằm ngăn chặn
những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội,
trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố,
xét xử và thi hành án.
Theo quy định của BLTTHS thì trong quá trình điều tra các vụ án hình
sự nói chung và các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con người nói
riêng, cơ quan tiến hành tố tụngtrong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp
dụng hoặc thay thế một trong những biện pháp ngăn chặn sau: Bắt, tạm giữ,
tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để
bảo đảm. Các biện pháp trên nhằm bảo đảm cho việc đấu tranh phòng, chống
tội phạm có hiệu quả.
1.3.3.1. Kiểm sát hoạt động bắt người
21
Theo quy định tại các Điều 80, 81, 82 BLTTHS thì có các trường hợp