VIỆN HÀN LÂM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ HỮU VŨ
CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TẠI HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ HỮU VŨ
CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TẠI HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành
: Quản trị kinh doanh
Mã số
: 8.34.01.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HỒ VĂN NHÀN
bàn huyện Thăng Bình ...................................................................................................59
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn
huyện Thăng bình, Tỉnh Quảng Nam .............................................................................61
3.3. Một số kiến nghị, đề xuất ........................................................................................ 78
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AN-QP
:
An ninh - Quốc phòng
CT-XH
:
Chính trị-xã hội
CT-XH
:
Chính trị-xã hội
DNNN
:
Kinh tế - xã hội
NLTS
:
Nông, Lâm, Thủy sản
NSNN
:
Ngân sách nhà nước
NSTW
:
Ngân sách Trung ương
NSĐP
:
Ngân sách địa phương
QLHC
:
Thu nhập doanh nghiệp
TTĐB
:
Tiêu thụ đặc biệt
UBND
:
Uỷ ban nhân dân
UNT
:
Uỷ nhiệm thu
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Tổng thu NSNN trên địa bàn huyện Thăng Bình 2014 - 2017 ..................... 27
Bảng 2.2. Thu Thuế, Phí và Lệ Phí huyện Thăng Bình 2014-2017 .............................. 29
Bảng 2.3. Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ (%) giữa các cấp ngân sách .................. 30
Bảng 2.4. Cơ cấu chi ngân sách địa phương của huyện Thăng Bình giai đoạn năm
2014-2017 .............................................................................................................32
Bảng 2.5. Tỷ trọng chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển trong tổng chi NSĐP
lập đồng bộ, làm cho quá trình quản lý ngân sách các cấp đạt hiệu quả chưa tốt, chưa
đáp ứng được yêu cầu mà Luật ngân sách đặt ra.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện quản lý thu- chi, phân bổ ngân sách Nhà
nước vẫn còn nhiều hạn chế bất cập so với tình hình thực tế của địa phương, cụ thể như:
- Thu, chi ngân sách Nhà nước vẫn còn thất thoát, chưa có quan điểm xử lý rõ
ràng về các khoản chi sai quy định của Nhà nước,…dẫn đến ngân sách Nhà nước chưa
phát huy hết hiệu quả.
- Đội ngũ cán bộ quản lý ngân sách Nhà nước còn hạn chế về chuyên môn và
chậm đổi mới,…
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên, nên việc nghiên cứu đề tài “Công tác
1
quản lý Ngân sách Nhà nước tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam” là nhằm góp
phần đưa ra một số giải pháp giúp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách Nhà nước ở
huyện trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Quản lý ngân sách Nhà nước nói chung và quản lý ngân sách cấp huyện nói riêng
là một trong những nội dung đã được nhiều nhà khoa học, quản lý quan tâm và có
nhiều công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn.
Tài liệu tham khảo để phục vụ nghiên cứu như:
- Luận văn Thạc sỹ: “Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách Nhà nước huyện
Phù Cát ” của tác giả Phạm Văn Thịnh, Đại học Đà Nẵng (năm 2011).
+ Từ lý luận và thực tiễn, tác giả đã chỉ ra được những vấn đề còn tồn tại trong
công tác quản lý NSNN tại địa phương, đó là: Công tác xây dựng và lập dự toán ngân
sách hàng năm của các xã, thị trấn, các cơ quan, đơn vị dự toán còn chậm, chưa sát, dự
toán giao còn mang tính ấn định; đối với thu ngân sách việc quản lý còn lỏng, còn xảy ra
tình trạng thất thu; Chi ngân sách còn nhiều bất cập đối với chi thường xuyên cũng như
chi cho đầu tư xây dựng cơ bản, nợ đọng xây dựng cơ bản vẫn tồn tại qua các năm; Về
+ Đối với luận văn này, tác giả đã chỉ ra được những vấn đề còn tồn tại trong
công tác quản lý NSNN tại địa phương, từ đó đã đề ra những giải pháp cơ bản để hoàn
thiện công tác quản lý NSNN, cụ thể như để tăng cường hiệu lực trong công tác quản lý
nhà nước bằng pháp luật đối với quản lý NSNN cần đổi mới công cụ quản lý, đặc biệt là
đội ngũ cán bộ quản lý. Quản lý tốt nguồn thu và nhiệm vụ chi ngân sách, chi ngân sách
tiết kiệm; tăng cường phân cấp quản lý ngân sách các cấp,…
Tuy nhiên, hạn chế của đề tài là các giải pháp đó chỉ dừng ở công tác quản lý thu,
chi NSNN, quản lý cán bộ, chứ chưa làm rõ được những tồn tại trong đầu tư xây dựng
cơ bản, đặc biệt là nợ đọng trong xây dựng cơ bản ở địa phương, đây là một vấn đề
thường gây thất thoát NSNN mà hầu như các địa phương đều có, để từ đó có giải pháp
phù hợp; chưa có giải pháp để tăng nguồn thu NS, nuôi dưỡng nguồn thu NS để đảm
bảo nguồn ngân sách địa phương và tiến tới tự chủ trong việc chi tiêu NS từ đó giúp cho
công tác quản lý NSNN được hoàn thiện hơn.
- Văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện Thăng Bình lần thứ XX, nhiệm kỳ 2015- 2020.
- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Thăng Bình lần thứ XX.
- Luật tổ chức chính quyền địa phương.
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập rất nhiều đến lĩnh vực quản lý ngân
sách Nhà nước nói chung và ngân sách cấp huyện nói riêng, đánh giá thực trạng và đưa
3
ra những giải pháp trong thời gian tới. Tuy nhiên mỗi địa phương có những điều kiện và
đặc điểm khác nhau về thực trạng quản lý ngân sách Nhà nước, vì vậy cần những giải
pháp phù hợp với thực tế của từng địa phương, trong đó có huyện Thăng Bình, tỉnh
Quảng Nam.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Mục tiêu chung: Trên cơ sở làm rõ những lý luận cơ bản, đánh giá đúng thực
trạng tình hình quản lý ngân sách Nhà nước huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam từ đó
đề xuất giải pháp chủ yếu hoàn thiện quả công tác quản lý ngân sách nhà nước tại huyện
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý NSNN cấp huyện;
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý NSNN tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam;
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý Ngân sách Nhà
nước tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN
1.1. Ngân sách nhà nước và ngân sách nhà nước cấp huyện
1.1.1. Tổng quan về ngân sách nhà nước
1.1.1.1. Khái niệm ngân sách nhà nước
Có nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về NSNN ở mỗi giai đoạn lịch sử,
mỗi thời kỳ, ngoài ra khái niệm về NSNN còn phụ thuộc vào quan điểm, mục đích
nghiên cứu, nhưng xét về hình thức biểu hiện bên ngoài thì NSNN là một bảng dự toán
thu, chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoản thời gian nhất định, thường là một năm
hoặc một số năm. Xét về nội dung vật chất, NSNN bao gồm những nguồn thu, nhiệm vụ
chi cụ thể, được định lượng.
- Theo GS.TS. Dương Đăng Chinh, thì “NSNN là phạm trù kinh tế và là phạm
trù lịch sử. NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập,
phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân
phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ
sở luật định” [4].
Theo Luật NSNN năm 2015, thì “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu,
chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng,
Ngân sách nhà
nước
Ngân sách địa
phương
Ngân sách
huyện
Ngân sách xã,
phường
Sơ đồ 1.1. Hệ thống ngân sách của Việt Nam
1.1.2. Ngân sách Nhà nước cấp huyện trong hệ thống ngân sách nhà nước
1.1.2.1. Khái niệm ngân sách nhà nước cấp huyện
Ngân sách huyện (quận) là quỹ tiền tệ tập trung của huyện (quận) được hình
thành bằng các nguồn thu và đảm bảo các khoản chi trong phạm vi huyện (quận) [5].
1.1.2.2. Đặc điểm của ngân sách cấp huyện
Ngân sách huyện (quận) thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của NSNN trên
phạm vi địa bàn huyện (quận); nó là mối quan hệ giữa ngân sách với các tổ chức, cá
nhân trong quá trình phân bổ, sử dụng các nguồn lực kinh tế của huyện. Chính quyền
cấp huyện là chính quyền trung gian, nối tỉnh (thành phố) với xã, phường, thị trấn. Ngân
7
sách huyện (quận) là công cụ quan trọng của chính quyền cấp huyện trong việc ổn định
và phát triển KT-XH trên địa bàn huyện (quận). Do đó chính quyền cấp huyện không
chỉ đơn thuần thực hiện sự chỉ đạo của tỉnh (thành phố) mà còn có những định hướng
riêng phù hợp với tình hình thực tế của huyện (quận) trong khuôn khổ pháp luật. Do
vậy, cấp huyện cần có ngân sách riêng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, nó
là công cụ quan trọng của chính quyền cấp huyện trong việc ổn định và phát triển KTXH trên địa bàn. Ngân sách huyện (quận) phải cân đối theo nguyên tắc tổng số thu phải
tra quá trình phát triển kinh tế quốc dân, cũng như các ngành, các đơn vị sản xuất kinh
doanh nhằm thúc đẩy, phát hiện, khai thác tiềm năng kinh tế, kiểm tra bảo vệ tài sản
quốc gia, tài sản Nhà nước, chống thất thoát lãng phí, kiểm tra việc chấp hành pháp luật
về NSNN, kỷ luật tài chính, bảo đảm trật tự kỷ cương.
1.1.2.4. Nguyên tắc cơ bản về quản lý ngân sách Nhà nước cấp huyện
- Nguyên tắc đầy đủ, trọn vẹn.
- Nguyên tắc thống nhất trong quản lý NSNN.
- Nguyên tắc cân đối ngân sách.
- Nguyên tắc công khai hoá NSNN.
- Nguyên tắc rõ ràng, trung thực và chính xác.
1.1.2.5. Nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách huyện
- Nguồn thu ngân sách huyện: là quá trình tạo lập, hình thành ngân sách huyện,
đóng vai trò quan trọng, quyết định đến việc chi ngân sách huyện. Để đảm bảo nguồn
thu cho ngân sách, cần phải có chính sách thu hợp lý hiệu quả, tập hợp các chủ trương,
biện pháp nhằm huy động các nguồn thu vào cho ngân sách [6].
Về nguồn thu, ngân sách huyện bao gồm các loại chính sau:
Thứ nhất, các khoản thu ngân sách huyện hưởng 100% là thuế môn bài từ các
doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ sản xuất kinh doanh ngoài quốc doanh, các khoản
thu phí, lệ phí từ hoạt động do các cơ quan cấp huyện quản lý, thu sự nghiệp, tiền cho
thuê mặt đất, mặt nước, thu từ bán thanh lý tài sản do cấp huyện quản lý, thu phạt, thu
khác ngân sách huyện ...
- Thuế môn bài là một khoản thu hàng năm từ các cơ sở hoạt động sản xuất, kinh
doanh thuộc mọi thành phần kinh tế. Tất cả tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất kinh
doanh (bao gồm cả các chi nhánh, cửa hàng, nhà máy, phân xưởng ... trực thuộc đơn vị
chính) đều thuộc đối tượng nộp thuế môn bài.
- Phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các khoản phí, lệ phí, các
9
10
gián thu, chỉ thu đối với một số sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước có chính sách
định hướng tiêu dùng, thường áp dụng thuế suất cao nhằm điều tiết thu nhập của những
cá nhân tiêu dùng các hàng hóa dịch vụ đặc biệt (trừ mặt hàng bia và xổ số kiến thiết)
thu từ các DNNN; các DNNN đã cổ phần hóa, các DN có vốn đầu tư nước ngoài. Thuế
tài nguyên (kể cả tài nguyên rừng). Thu thuế đối với người có thu nhập cao.
Thứ ba, thu bổ sung từ ngân sách tỉnh: bổ sung cân đối để chi thường xuyên và
bổ sung có mục tiêu để chi cho những mục tiêu cụ thể.
Thứ tư, thu kết dư ngân sách huyện là chênh lệch giữa tổng số thu ngân sách địa
phương lớn hơn số chi ngân sách địa phương; chi ngân sách bao gồm cả những khoản
thanh toán trong thời gian chỉnh lý quyết toán, các khoản chi chuyển nguồn sang năm
sau để thực hiện những nhiệm vụ chi được cấp có thẩm quyền quyết định tiếp tục được
thực hiện trong năm sau (bao gồm cả số dư tạm ứng kinh phí hết thời gian chỉnh lý
quyết toán chưa đủ chứng từ thanh toán, được cơ quan có thẩm quyền cho phép chuyển
năm sau thanh toán).
Thứ năm, thu chuyển nguồn ngân sách huyện là khoản thu từ các khoản chi
chuyển nguồn; là việc chuyển nguồn kinh phí năm trước sang năm sau để thực hiện các
khoản chi đã được bố trí trong dự toán năm trước hoặc dự toán bổ sung nhưng đến hết
thời gian chỉnh lý chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa xong được cơ quan có thẩm
quyền cho tiếp tục thực hiện chi vào ngân sách năm sau và được hạch toán thu chuyển
nguồn ngân sách năm trước sang năm sau.
- Nhiệm vụ chi ngân sách: là quá trình sử dụng ngân sách, nó ngược hoàn toàn
với quá trình thu nhưng lại chịu sự điều phối của quá trình thu. Chi ngân sách huyện là
việc nhà nước cấp huyện phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhằm đảm bảo điều kiện
vật chất để duy trì sự hoạt động và thực hiện các chức năng của nhà nước, đáp ứng nhu
cầu đời sống kinh tế, xã hội theo các nguyên tắc nhất định. Như vậy, phạm vi chi ngân
sách huyện rất rộng, bao trùm mọi lĩnh vực đời sống, liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp
- Chi hỗ trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp cấp huyện theo quy
định của pháp luật.
- Chi hoạt động của các đơn vị sự nghiệp thuộc huyện quản lý.
- Chi hỗ trợ hoạt động thanh tra nhân dân, Ban đại diện người cao tuổi theo quy
định của pháp luật.
- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới: bổ sung cân đối chi thường xuyên ngân
sách cấp xã và chi bổ sung có mục tiêu để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và chi bổ
12
sung mục tiêu phục vụ mục tiêu xã hội theo quy định.
Chi chuyển nguồn ngân sách huyện là việc chuyển nguồn kinh phí năm trước
sang năm sau để thực hiện các khoản chi đã được bố trí trong dự toán năm trước hoặc
dự toán bổ sung nhưng đến hết thời gian chỉnh lý chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa
xong được cơ quan có thẩm quyền cho tiếp tục thực hiện chi vào ngân sách năm sau.
1.2. Quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
Quản lý NSNN huyện (quận) là quản lý toàn bộ các khoản thu, chi NSNN cấp
huyện hàng năm qua các khâu: Lập dự toán, chấp hành dự toán, quyết toán và kiểm tra,
thanh tra NSNN huyện [3].
1.2.1. Công tác lập dự toán ngân sách Nhà nước huyện
1.2.1.1.Ý nghĩa của việc lập dự toán NSNN
Lập dự toán là khâu đầu tiên của chu trình quản lý NSNN, quyết định nhiệm vụ
và quy mô thu, chi ngân sách trong một năm huyện cũng như của một đơn vị dự toán
huyện và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc triển khai thực hiện thu, chi NSNN
huyện hàng năm. Đây là cơ sở quan trọng giúp nhà nước cấp huyện quản lý tốt ngân
sách trước hết là quản lý theo dự toán được duyệt. Thông qua việc lập dự toán ngân sách
để tính khả năng và nhu cầu về kinh tế, tài chính của huyện trong từng năm, từng giai
đoạn. Dự toán ngân sách là bản dự trù các khoản thu, chi ngân sách theo các chỉ tiêu xác
Phòng Tài chính- Kế hoạch huyện chủ trì phối hợp với Chi cục thuế huyện và các
cơ quan liên quan cùng cấp trong việc tổng hợp, lập dự toán ngân sách theo lĩnh vực ở
cấp mình. Đề xuất các phương án cân đối ngân sách và các biện pháp nhằm thực hiện
chính sách tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách.
Quyết định, phân bổ, giao dự toán NSNN huyện: Sau khi nhận được quyết định
giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách của UBND tỉnh; UBND huyện trình HĐND huyện
quyết định dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phương án phân bổ dự toán ngân
sách cấp mình chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày HĐND tỉnh trực tiếp quyết định dự toán
và phân bổ ngân sách.
Căn cứ Nghị quyết của HĐND huyện, UBND huyện quyết định giao nhiệm vụ
thu, chi ngân sách chi từng cơ quan, đơn vị trực thuộc huyện và giao nhiệm vụ thu, chi
và mức bổ sung ngân sách cho từng xã, thị trấn trước ngày 31 tháng 12 hàng năm. Chậm
nhất 5 ngày sau khi HĐND quyết định dự toán ngân sách hoặc dự toán ngân sách điều
chỉnh, UBND huyện có trách nhiệm báo cáo UBND tỉnh và Sở Tài chính.
Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện kiểm tra Nghị quyết về dự toán ngân sách của
HĐND cấp xã, trong trường hợp cần thiết báo cáo UBND huyện yêu cầu HĐND cấp xã
14
điều chỉnh lại dự toán ngân sách cấp xã.
1.2.2. Chấp hành dự toán ngân sách Nhà nước huyện
- Chấp hành NSNN đúng đắn và có hiệu quả là tiền đề quan trọng bảo đảm điều
kiện để thực hiện các khoản thu, chi đã ghi trong kế hoạch nhằm phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương.
- Chấp hành NSNN là khâu quan trọng trong quá trình quản lý NSNN. Chấp
hành dự toán NSNN là khâu cốt yếu có ý nghĩa quyết định với một chu trình ngân sách.
Nếu khâu lập kế hoạch đạt kết quả tốt thì cơ bản cũng mới dừng ở trên giấy, nằm trong
khả năng và dự kiến, chúng có thể biến thành hiện thực hay không là tùy vào khâu chấp
hành ngân sách. Chấp hành ngân sách thực hiện tốt sẽ có tác động tích cực bảo đảm cân
sách hàng năm được giao và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chi của đơn vị theo đúng chế
độ tiêu chuẩn, định mức, cơ quan Tài chính và KBNN thực hiện chi trả, thanh toán các
khoản chi ngân sách theo nguyên tắc trực tiếp từ KBNN cho người hưởng lương, người
cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người nhận thầu (gọi chung là đối tượng thụ hưởng).
Chấp hành dự toán chi nhằm đảm bảo đầy đủ, kịp thời nguồn kinh phí của ngân
sách cho hoạt động của bộ máy Nhà nước về thực hiện các chương trình KT-XH đã
được hoạch định trong năm kế hoạch. Thực hiện thông báo dự toán chi thường xuyên và
cấp phát kinh phí chi đầu tư xây dựng cơ bản trên cơ sở các định mức tiêu chuẩn, đúng
kế hoạch được duyệt.
1.2.3. Quyết toán ngân sách Nhà nước huyện
Quyết toán ngân sách là tổng kết quá trình thực hiện dự toán ngân sách nhằm
đánh giá toàn bộ kết quả hoạt động của một năm ngân sách từ đó rút ra ưu, nhược điểm
và bài học kinh nghiệm cần thiết trong việc quản lý ngân sách huyện cho những năm
tiếp sau đó.
Quyết toán NSNN huyện nhằm đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của
UBND huyện và các cơ quan tham mưu điều hành ngân sách trong năm so với dự toán
được Tỉnh và HĐND huyện giao.
Sau khi kết thúc công tác khóa sổ kế toán cuối ngày 31 tháng 12, số liệu trên sổ
sách kế toán của đơn vị phải bảo đảm cân đối và khớp đúng với chứng từ thu, chi ngân
sách của đơn vị và số liệu của cơ quan Tài chính, KBNN về tổng số và chi tiết; trên cơ
sở đó đơn vị dự toán tiến hành lập báo cáo quyết toán năm. Trong trường hợp có điều
chỉnh hay chỉnh lý quyết toán ngân sách, thì thời gian đến hết ngày 31 tháng 01 năm
sau:[6]
Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện có trách nhiệm chỉ đạo công tác kế toán ngân
16
sách thuộc phạm vi quản lý, tổng hợp và lập báo cáo quyết toán thu ngân sách nhà nước
trên địa bàn, chi ngân sách địa phương do huyện quản lý theo Luật.
Nhà nước có thẩm quyền để có biện pháp khắc phục, phát huy các nhân tố tích cực, góp
phần nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý Nhà nước, bảo vệ lợi ích hợp pháp của
Nhà nước, của các cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế và các cá nhân. Đây là nhân tố có tác
động và ảnh hưởng lớn đến kết quả và hiệu quả của công tác quản lý ngân sách.
Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về lĩnh vực tài
chính của các cơ quan, đơn vị dự toán ngân sách huyện và UBND các xã, thị trấn được
Phòng Tài chính – Kế hoạch thực hiện thông qua việc kiểm tra báo cáo quyết toán ngân
sách hàng năm theo quy định tại Thông tư số 01/2007/TT-BTC ngày 02/01/2007 của Bộ
Tài chính hướng dẫn xét duyệt, thẩm định và thông báo quyết toán năm đối với các cơ
quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức được ngân sách hỗ trợ và ngân sách các cấp
hoặc do Thanh tra Nhà nước tổ chức thanh tra theo chuyên đề hàng năm hoặc thanh tra
đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm. Nếu phát hiện sai phạm thì lập biên bản các hành vi vi
phạm hành chính, xử lý theo thẩm quyền, hoặc kiến nghị các cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tài chính đồng thời kiến nghị các cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các văn bản qui phạm
pháp luật phù hợp với quy định của pháp luật và yêu cầu quản lý Nhà nước về lĩnh vực
tài chính.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra tài chính phải tuân thủ theo pháp luật, đảm bảo
chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời, không làm cản trở đến
hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra, kiểm tra.
Nội dung thanh tra, kiểm tra là kiểm soát kế toán và kiểm tra tuân thủ các chế độ chính
sách, cụ thể:
- Kiểm tra nội dung chi, chứng từ chi đúng quy định, kiểm tra tính hợp pháp, hợp
lệ của chứng từ và kiểm tra việc lưu trữ chứng từ đầy đủ các hồ sơ gốc có liên quan để
tiện việc kiểm tra, đối chiếu, kế thừa thông tin; thực hiện kiểm tra chứng từ theo trình tự
thời gian, sau đó kiểm tra chứng từ chi phục vụ cho một nội dung công việc nào đó từ
lúc tạm ứng, đến lúc hoàn thành công việc và thanh toán.
- Kiểm tra biểu mẫu, sổ kế toán về số lượng và số liệu đúng theo các văn bản quy