ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
–––––––––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN HOÀI NAM
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TẠI HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
–––––––––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN HOÀI NAM
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TẠI HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS BÙI HUY NHƯỢNG
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu của các nhà khoa
học, các thầy, cô giáo trong Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại
học Thái Nguyên.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của các
đồng chí tại các địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng
nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện mọi mặt để tôi hoàn thành nghiên cứu này.
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Hoài Nam
iii
MỤC LỤC
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CN-TTCN
Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp
DNNN
Doanh nghiệp Nhà nước
Luật NSNN
UBND
Ủy ban nhân dân
TNDN
Thu nhập doanh nghiệp
VAT
Thuế Giá trị Gia tăng
XDCB
Xây dựng cơ bản
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Biểu đồ:
Hình:
Hình 1.1: Hệ thống Ngân sách nhà nước................Error: Reference source not found
Hình 3.1: Quy trình lập và giao dự toán ngân sách huyện.................Error: Reference
source not found
triển toàn diện của Đảng, cấp ngân sách huyện đang ngày càng thể hiện rõ chức
năng, vai trò, nhiệm vụ của mình trên địa bàn, địa phương.
Mặt khác ngân sách huyện có vai trò cung cấp phương tiện vật chất cho sự tồn
tại và hoạt động của chính quyền huyện và cấp chính quyền cơ sở đồng thời là một
công cụ để chính quyền huyện thực hiện quản lý toàn diện các hoạt động kinh tế xã
hội trên địa bàn huyện. Tuy nhiên do ngân sách huyện là một cấp ngân sách trung
gian ở giữa ngân sách tỉnh với ngân sách cấp xã nên đôi khi ngân sách huyện chưa
thể hiện được vai trò của mình đối với địa phương.
Do vậy để chính quyền huyện thực thi được hiệu quả những nhiệm vụ kinh tế
xã hội mà nhà nước giao cho thực hiện chiến lược phát triển kinh tế nhà nước, kinh
tế địa phương trên các lĩnh vực đặc biệt là nông nghiệp nông thôn tại địa bàn thì cần
có một ngân sách huyện đủ mạnh và phù hợp là một đòi hỏi thiết thực, là một mục
2
tiêu phấn đấu đối với cấp huyện. Vì thế hơn bao giờ hết hoàn thiện trong đổi mới
công tác quản lý ngân sách huyện là một nhiệm vụ luôn được quan tâm do vậy
trong bối cảnh đó việc nghiên cứu “Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách Nhà
nước tại Huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc” là thực sự cần thiết về cả mặt lý luận
cũng như thực tiễn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung: Trên cơ sở làm rõ những lý luận cơ bản, đánh giá đúng thực
trạng tình hình quản lý ngân sách tại Huyện Tam Đảo từ đó đề xuất giải pháp chủ
yếu hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh
Phúc, góp phần phát triển kinh tế xã hội của huyện Tam Đảo.
* Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý ngân sách cấp huyện.
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý ngân sách huyện tại huyện Tam Đảo.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân
sách huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
dụng nhạy bén công cụ NSNN trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô.
Ở Việt Nam chúng ta cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau về NSNN tuy
nhiên theo luật Ngân sách Nhà nước Việt Nam thì: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ
các khoản thu- chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực các chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nước”.
Như vậy, Ngân sách nhà nước phản ánh các mối quan hệ kinh tế giữa một bên
là Nhà nước với một bên là các chủ thể khác trong xã hội. Các quan hệ kinh tế này
phát sinh trong quá trình Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia
phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của mình. Các quan hệ đó biểu hiện
thông qua các nội dung thu- chi của Ngân sách nhà nước, phù hợp với các điều kiện
kinh tế xã hội và nhiệm vụ của Nhà nước trong mỗi thời kì tương ứng.
1.1.1.2. Bản chất của Ngân sách Nhà nước
NSNN không thể tách rời Nhà nước. Là hệ thống các mối quan hệ thu, chi
giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng
các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện chức năng quản lý, điều hành
KT-XH thông qua dự toán, quyết toán các nguồn thu, nhiệm vụ chi bằng tiền trong
thời gian nhất định thường là 1 năm.
1.1.1.3. Chức năng của Ngân sách Nhà nước
Ngân sách Nhà nước là một bộ phận rất quan trọng đóng vai trò chủ đạo trong
hệ thống tài chính quốc gia. Vì vậy, NSNN cũng có hai chức năng là chức năng
phân phối, chức năng điều chỉnh và kiểm soát.
4
- Chức năng phân phối: Bất cứ Nhà nước nào muốn tồn tại đòi hỏi phải có
nguồn lực tài chính để đáp ứng các khoản chi tiêu cho hoạt động của mình, muốn
vậy Nhà nước phải huy động vốn trong, ngoài nước. Nguồn huy động trong nước
chủ yếu là nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và các nguồn thu hợp pháp khác. Nguồn
huy động từ nước ngoài gồm viện trợ, vay nợ, chênh lệch xuất, nhập khẩu. Vốn huy
nghiệp đầu tư mạnh vào những nơi, những lĩnh vực cần thiết, ngược lại chính sách
thuế khắt khe sẽ làm giảm bớt luồng di chuyển vốn đến nơi cần hạn chế sản xuất
kinh doanh. Đồng thời, các khoản chi đầu tư vốn vào các tập đoàn kinh tế lớn và
xây dựng kết cấu hạ tầng của NSNN chi phối, hướng dẫn, điều chỉnh các hoạt động
kinh tế tài chính trong nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Nền kinh tế thị trường vốn có những khuyết tật của nó làm giảm hiệu quả sản
xuất và tiêu dùng. Thông qua thu, chi NSNN, Nhà nước can thiệp để khắc phục
những khuyết tật đó. Bằng công cụ thuế, NSNN góp phần hướng dẫn đầu tư, định
hướng sản xuất, hạn chế độc quyền. Chi tiêu NSNN đầu tư vào những công trình
kết cấu hạ tầng, các lĩnh vực dịch vụ công ích mà các thành phần kinh tế khác
không đầu tư và vào những ngành mũi nhọn, và có quy mô vốn lớn khai thác được
tiềm năng lợi thế của đất nước.
- NSNN có vai trò điều tiết thị trường, giá cả và chống lạm phát Nền kinh tế
hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường có đặc điểm nổi bật là sự cạnh tranh giữa
các nhà doanh nghiệp nhằm đạt được lợi thế trên thị trường. Hai yếu tố cơ bản của
thị trưòng là cung - cầu và giá cả thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối hoạt
động của thị trường. Sự mất cân đối giữa cung và cầu gây biến động giá cả trên thị
trường. Để đảm bảo lợi ích người sản xuất và người tiêu dùng. Nhà nước sử dụng
NSNN để can thiệp vào thị trường thông qua chính sách tăng hay giảm thuế và điều
chỉnh các khoản chi của NSNN dưới hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các
quỹ dự trữ Nhà nước về hàng hoá và dự trữ tài chính. Trong quá trình điều chỉnh thị
trường, NSNN còn tác động đến sự hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường vốn,
thông qua các chính sách huy động và đầu tư vốn linh hoạt để điều tiết cung, cầu
tiền, kiểm soát lạm phát.
Những vai trò tích cực nói trên của NSNN chỉ có thể có được nếu sử dụng
đúng đắn các chức năng của nó trong thực tiễn, ngược lại nó có thể cản trở sự phát
6
triển KT-XH, làm tăng các khuyết tật của kinh tế thị trường. Vì vậy, Nhà nước đề ra
xã, thành phố
trực thuộc tỉnh
Hình 1.1: Hệ thống Ngân sách nhà nước
Ngân sách,
xã, phường,
thị trấn
7
Ngân sách Trung ương: phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo ngành, tập trung các
nguồn lực cơ bản để đảm bảo thực hiện các mục tiêu trọng yếu trên phạm vi cả
nước và giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống Ngân sách nhà nước.
Ngân sách địa phương: Phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo lãnh thổ, bảo đảm
thực hiện các nhiệm vụ tổ chức quản lý toàn diện kinh tế, xã hội của chính quyền
cấp tỉnh, thành phố.
Ngân sách cấp huyện: Phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo lãnh thổ bảo đảm thực hiện
các nhiệm vụ tổ chức quản lý toàn diện kinh tế xã hội của chính quyền cấp huyện.
Ngân sách cấp xã: Nhằm đảm bảo điều kiện tài chính để chính quyền xã chủ
động khai thác các thế mạnh đất đai, lao động phát triển kinh tế, xã hội đặc biệt là
xây dựng, phát triển nông thôn mới, thực hiện các chính sách xã hội giữ gìn an ninh
trật tự địa phương.
1.1.2.2. Phân cấp quản lý Ngân sách
- Sự cần thiết phải phân cấp quản lý NSNN
Phân cấp quản lý KT-XH giữa trung ương và các cấp chính quyền địa phương
thì phải có sự chuyển giao nguồn tài chính giữa cấp trên và cấp dưới nhằm đảm bảo
điều kiện vật chất để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính và phân cấp quản lý
NSNN để khai thác, phát huy thế mạnh riêng về điều kiện tự nhiên và các nguồn lực
của mỗi cấp chính quyền Nhà nước. Phân cấp quản lý NSNN là xác định phạm vi,
sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp xã. Phân cấp ngân sách phải
được xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cấp chính quyền trong việc lập,
chấp hành và quyết toán ngân sách; kiểm tra báo cáo quyết toán ngân sách; thẩm
quyền quy định các chế độ, chính sách thu, chi, thời hạn lập, xét duyệt, báo cáo
HĐND cùng cấp và báo cáo cấp trên. Giải quyết tốt các mối quan hệ trong việc
quản lý, sử dụng NSNN chính là nội dung phân cấp NSNN.
1.1.3. Ngân sách Nhà nước cấp huyện trong hệ thống NSNN
1.1.3.1. Khái niệm và đặc điểm NSNN cấp huyện
Theo Bộ Tài chính, thì “Ngân sách huyện là quỹ tiền tệ tập trung của huyện được
hình thành bằng các nguồn thu và đảm bảo các khoản chi trong phạm vi huyện”.
Ngân sách huyện thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của NSNN trên phạm
vi địa bàn huyện; đó là mối quan hệ giữa ngân sách với các tổ chức, cá nhân trong
quá trình phân bổ, sử dụng các nguồn lực kinh tế của huyện. Chính quyền cấp
huyện là chính quyền trung gian, nối tỉnh với xã, phường, thị trấn. Ngân sách huyện
9
là công cụ quan trọng của chính quyền cấp huyện trong việc ổn định và phát triển
KT-XH trên địa bàn huyện. Do đó chính quyền cấp huyện không chỉ đơn thuần thực
hiện sự chỉ đạo của tỉnh mà còn có những định hướng riêng phù hợp với tình hình
thực tế của huyện trong khuôn khổ pháp luật. Do vậy, cấp huyện cần có ngân sách
riêng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, nó là công cụ quan trọng của
chính quyền cấp huyện trong việc ổn định và phát triển KT-XH trên địa bàn.
Ngân sách Nhà nước huyện phải cân đối theo nguyên tắc tổng số thu phải bằng
hoặc lớn hơn tổng chi; ngân sách huyện không có bội chi ngân sách. Vì vậy, trong
công tác lập dự toán hàng năm nếu thu không đủ bù chi thường xuyên thì ngân sách
tỉnh bổ sung cân đối. Khi xem xét ngân sách huyện không thể tách rời khỏi NSNN
cấp trên cũng không được coi ngân sách huyện là một yếu tố thụ động trong hệ
thống ngân sách mà phải ngân sách huyện phải gắn liền với hệ thống ngân sách.
1.1.3.2. Vai trò của NSNN cấp huyện
Để thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế- tài chính của cấp trên thì Huyện
cần phải sử dụng các công cụ sẵn có của mình để điều tiết, định hướng. Một trong
những công cụ đắc lực là Ngân sách. Các Huyện phải căn cứ vào thế mạnh của địa
phương mình để định hướng phát triển, hình thành cơ cấu kinh tế, kích thích phát
triển. Đồng thời các Huyện phải cung cấp kinh phí, vốn đầu tư, hỗ trợ về cơ sở hạ
tầng và tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động.
Huyện phải xây dựng cho mình một tiềm lực kinh tế riêng. Đó là các doanh
nghiệp Nhà nước do cấp Huyện quản lý. Loại hình doanh nghiệp này đóng vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế Huyện và cũng giúp huyện chủ động trong việc xây dựng
và phát triển kinh tế.
c/ NSNN cấp Huyện - Phương tiện bù đắp khiếm quyết thị trường đảm bảo
công bằng xã hội và các vấn đề môi trường.
Đây là vai trò không thể thiếu đối với Ngân sách mỗi quốc gia. Nó có tác dụng
xoa dịu nền kinh tế thị trường. Như chúng ta đã biết, kinh tế thị trường là chạy theo
lợi nhuận. Do vậy mà để lại một loạt các hậu quả như: Thất nghiệp, phân cấp giàu
nghèo, các vấn đề xã hội, đời sống của nhân dân không được quan tâm, môi trường
bị ô nhiễm … Những điều đó tạo ra cho nền kinh tế- xã hội một vực thẳm phía
trước. Cấp Huyện theo dõi các báo cáo tổng hợp từ cấp xã, phường phải có biện
pháp quản lý giải quyết cụ thể.
11
Ngoài việc quan tâm đến đời sống vật chất của người lao động, Huyện phải
thường xuyên quan tâm đến đời sống văn hóa, tinh thần của quần chúng nhân dân,
xây dựng và cải tạo các khu vui chơi, giải trí lành mạnh tiến bộ phục vụ cho nhân
dân; các dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế phải giảm được chi phí cho người
dân giúp cho đời sống của nhân dân ngày càng được đảm bảo và nâng cao.
1.1.3.3. Nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách Nhà nước cấp huyện
Thu ngân sách huyện là quá trình tạo lập, hình thành ngân sách huyện, đóng
vai trò quan trọng, quyết định đến việc chi ngân sách huyện. Để đảm bảo nguồn thu
Thu tiền sử dụng đất khi cấp đất ở cho hộ dân cư trên địa bàn huyện : là số tiền
mà người sử dụng đất (hộ gia đình, cá nhân..) phải nộp để sử dụng thửa đất đó, có
nhiều trường hợp được miễn tiền sử dụng đất.
Thu khác thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh (trừ các
DNNN đã cổ phần hoá).
Lệ phí trước bạ: là một loại lệ phí mà người có tài sản phải nộp khi đăng ký
quyền sở hữu (trừ trước bạ nhà, đất).
Tiền cho thuê và bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước, tiền thu về thanh lý tài sản
của các cơ quan, đơn vị cấp huyện quản lý.
Thu đóng góp tự nguyện, đóng góp ngân sách theo quy định để đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng do cấp huyện quản lý.
Các khoản thu khác của ngân sách huyện theo quy định của pháp luật: thu từ
bán tài sản thanh lý tài sản, tài sản tịch thu của nhà nước, thu phạt, thu hồi các
khoản chi năm trước, các khoản thu khác còn lại ...
Thứ ba, thu bổ sung từ ngân sách tỉnh: bổ sung cân đối để chi thường xuyên
và bổ sung có mục tiêu để chi cho những mục tiêu cụ thể.
Thứ tư, thu kết dư ngân sách huyện: là chênh lệch giữa tổng số thu ngân sách
địa phương lớn hơn tổng số chi ngân sách địa phương; chi ngân sách bao gồm cả
những khoản thanh toán trong thời gian chỉnh lý quyết toán, các khoản chi chuyển
nguồn sang năm sau để thực hiện những nhiệm vụ chi được cấp có thẩm quyền
quyết định tiếp tục được thực hiện trong năm sau (bao gồm cả số dư tạm ứng kinh
phí hết thời gian chỉnh lý quyết toán chưa đủ chứng từ thanh toán, được cơ quan có
thẩm quyền cho phép chuyển năm sau thanh toán). Căn cứ nghị quyết phê chuẩn
quyết toán của HĐND cấp huyện để xử lý kết dư ngân sách huyện, cơ quan tài
chính có văn bản gửi KBNN đồng cấp để làm thủ tục hạch toán vào thu ngân sách
năm sau theo chế độ quy định.
13
Thứ năm, thu chuyển nguồn ngân sách huyện: Là khoản thu từ các khoản chi
14
Chi cho công tác an ninh và trật tự, an toàn xã hội địa phương: Tổ chức hội
nghị, tập huấn nghiệp vụ và triển khai các nhiệm vụ an ninh trật tự trên địa bàn
huyện; Các nhiệm vụ khác về công tác an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo qui định
của Chính phủ.
Chi phục vụ quản lý Nhà nước của các cơ quan Nhà nước, cơ quan Đảng cộng
sản Việt Nam, cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ
Chí Minh, Hội cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội
Nông dân Việt Nam do huyện quản lý.
Chi hỗ trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp cấp huyện theo quy
định của pháp luật.
Chi hoạt động của các đơn vị sự nghiệp thuộc huyện quản lý. Chi hỗ trợ hoạt
động thanh tra nhân dân, Ban đại diện người cao tuổi theo qui định của pháp luật.
Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Ba là, chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới: bổ sung cân đối chi thường xuyên
ngân sách cấp xã và chi bổ sung có mục tiêu để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và
chi bổ sung mục tiêu phục vụ mục tiêu xã hội theo quy định.
Bốn là, chi chuyển nguồn ngân sách huyện: là việc chuyển nguồn kinh phí
năm trước sang năm sau để thực hiện các khoản chi đã được bố trí trong dự toán
năm trước hoặc dự toán bổ sung nhưng đến hết thời gian chỉnh lý chưa thực hiện
hoặc thực hiện chưa xong được cơ quan có thẩm quyền cho tiếp tục thực hiện chi
vào ngân sách năm sau.
1.2. Nội dung công tác quản lý NSNN cấp huyện
Ngân sách Nhà nước cấp huyện thuộc về chính quyền cấp huyện, nó thể hiện
tiềm lực tài chính của chính quyền cấp huyện. Tiềm lực đó phải được tương xứng
với nền kinh tế của huyện, phải đủ lớn mạnh để có thể đáp ứng được các nhiệm vụ
chi phục vụ việc ổn định chính trị, phát triển KT-XH của huyện. Vậy làm cách nào
có thể tạo dựng ngân sách huyện đủ lớn, mạnh để đáp ứng các yêu cầu trên. Vì vậy,
phải không ngừng nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách huyện.
Quản lý NSNN huyện là quản lý toàn bộ các khoản thu, chi NSNN cấp huyện
trên cơ sở đó Bộ Tài chính hướng dẫn về yêu cầu, nội dung, thời hạn lập và thông
báo số kiểm tra đối với các ngành, địa phương để lập dự toán từ cơ sở.
Đối với năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách, cơ quan tài chính chủ trì phối
hợp với cơ quan thuế tổ chức làm việc với UBND các xã, thị trấn, các cơ quan, đơn
vị dự toán ngân sách huyện về dự toán ngân sách; cơ quan tài chính có quyền yêu
16
cầu bố trí lại những khoản thu, chi trong dự toán chưa đúng chế độ, tiêu chuẩn, chưa
hợp lý, chưa tiết kiệm, chưa phù hợp với khả năng ngân sách và định hướng phát
triển KT-XH của huyện. Đối với các năm tiếp theo của thời kỳ ổn định, cơ quan tài
chính chỉ làm việc khi UBND các xã, thị trấn khi có đề nghị; trong quá trình làm
việc nếu có ý kiến khác nhau giữa cơ quan tài chính với các cơ quan cùng cấp và
chính quyền cấp dưới, cơ quan tài chính phải báo cáo UBND huyện quyết định.
Cơ quan tài chính chủ trì phối hợp với cơ quan thuế và các cơ quan liên quan
cùng cấp trong việc tổng hợp, lập dự toán ngân sách theo lĩnh vực ở cấp mình. Đề
xuất các phương án cân đối ngân sách và các biện pháp nhằm thực hiện chính sách
tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách.
Quyết định, phân bổ, giao dự toán NSNN huyện : Sau khi nhận được quyết
định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách của UBND tỉnh; UBND huyện trình HĐND
cùng cấp quyết định dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phương án phân bổ
dự toán ngân sách cấp mình chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày HĐND tỉnh trực tiếp
quyết định dự toán và phân bổ ngân sách.
Căn cứ Nghị quyết của HĐND huyện, UBND huyện quyết định giao nhiệm vụ
thu, chi ngân sách chi từng cơ quan, đơn vị trực thuộc huyện và giao nhiệm vụ thu,
chi và mức bổ sung ngân sách cho từng xã, thị trấn trước ngày 31 tháng 12 hàng
năm. Chậm nhất 5 ngày sau khi HĐND quyết định dự toán ngân sách hoặc dự toán
ngân sách điều chỉnh, UBND huyện có trách nhiệm báo cáo UBND tỉnh và Sở Tài
chính. Phòng Tài chính – Kế hoạch kiểm tra Nghị quyết về dự toán ngân sách của
HĐND cấp xã, trong trường hợp cần thiết báo cáo UBND huyện yêu cầu HĐND
dưỡng nguồn thu sao cho đạt và vượt tỷ lệ theo dự toán được HĐND huyện phê
chuẩn. Các cơ quan thu xây dựng dự toán theo quý, năm; đồng thời lập bộ thu, tính
mục thu và ra thông báo thu. Quản lý, đôn đốc các đối tượng nộp tiền theo đúng chế
độ quy định và nộp đầy đủ, kịp thời các khoản thu vào ngân sách hoặc tài khoản
tiền gửi qua xác nhận của KBNN.
Tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp ngân sách : kê khai đầy đủ các khoản nộp
theo đúng chế độ và chấp hành nghiêm thông báo nộp ngân sách của cơ quan thu;
có quyền khiếu nại về việc cơ quan thuế ra thông báo thu và xử lý thu không đúng
chế độ quy định. Đối với công tác chấp hành dự toán chi ngân sách : Căn cứ vào dự
toán chi ngân sách hàng năm được giao và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chi của đơn
vị theo đúng chế độ tiêu chuẩn, định mức, cơ quan Tài chính và KBNN thực hiện