Quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ THANH SƠN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số
: 8340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM SỸ AN

HÀ NỘI, năm 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Quản lý kinh tế “Quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng” là hoàn toàn trung thực và
không trùng lắp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.

Tác giả luận văn


CNH-HĐH

Công nghiệp hóa-hiện đại hóa

DVTM

Dịch vụ thương mại

DN

Doanh nghiệp

DNVVN

Doanh nghiệp vừa và nhỏ

ĐKKD

Đăng ký kinh doanh

GTGT

Giá trị gia tăng

GDP

Tổng sản phẩm trong nước

KHCN


Bảng 2.3. Cơ cấu ngành kinh tế quận Ngũ Hành Sơn từ năm 2013 -2017 ...............28
Bảng 2.4. Số DN của quận Ngũ Hành Sơn thực tế đang hoạt động, giai đoạn
2013 - 2017 ...............................................................................................................30
Bảng 2.5. Số lượng và tốc độ phát triển bình quân của các DN quận Ngũ Hành
Sơn đang hoạt động sản xuất kinh doanh theo khu vực kinh tế và loại hình doanh
nghiệp, giai đoạn 2013 -2017 ....................................................................................31
Bảng 2.6. Số lượng DN quận Ngũ Hành Sơn chia theo ngành kinh tế, giai đoạn
2013 – 2017 ...............................................................................................................32
Bảng 2.7. Số lao động và số lao bình quân một DNVVN quận Ngũ Hành Sơn
giai đoạn 2013-2017 ..................................................................................................33
Bảng 2.8. DNVVN quận Ngũ Hành Sơn phân theo quy mô lao động, giai đoạn
2013-2017..................................................................................................................34
Bảng 2.9. Lao động của các DNVVN quận Ngũ Hành Sơn chia theo khu vực,
loại hình và ngành kinh tế, giai đoạn 2013-2017 ......................................................34
Bảng 2.10. DN quận Ngũ Hành Sơn phân theo quy mô nguồn vốn thời điểm
31/12, giai đoạn 2013-2017.......................................................................................37
Bảng 2.11. Quy mô nguồn vốn DN quận Ngũ Hành Sơn chia theo loại hình và
ngành kinh tế, giai đoạn 2013-2017 ..........................................................................38
Bảng 2.12. Một số chỉ tiêu cơ bản của DN quận Ngũ Hành Sơn, giai đoạn 20132017 ...........................................................................................................................40
Bảng 2.13. Kết quả sản xuất kinh doanh của DN quận Ngũ Hành Sơn, giai đoạn
2013-2017..................................................................................................................41
Bảng 2.14. Doanh nghiệp hoạt động tính đến tháng 4/2018 .....................................49
Bảng 3.1. Chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 – 2020 của Quận ...............61
Bảng 3.2. Cơ cấu phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 – 2020 của quận .................62


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về doanh nghiệp ..............................19
Hình 1.2. Sơ đồ cơ quan quản lý nhà nước theo “ vòng đời” doanh nghiệp ............20


được thực hiện theo quy định của luật và các văn bản hướng dẫn thi hành, quy định
quản lý doanh nghiệp của cơ quan cấp trên. Trên thực tế, ở thành phố Đà Nẵng hiện
nay, việc cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cũng như việc quản lý doanh
nghiệp sau thành lập được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau, do đó việc quản lý
nhà nước đối với doanh nghiệp khó được thống nhất, đặc biệt là ở các cấp quận, huyện
còn chưa rõ chức năng, nhiệm vụ, dẫn đến công tác quản lý nhà nước đối với doanh
1


nghiệp chưa đạt hiệu quả cao. Xuất phát từ những bất cập trên, em xin chọn đề tài
“Quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn quận
Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Phát triển kinh tế luôn là hướng đi hàng đầu để xây dựng một quốc gia phồn
thịnh. Trong đó trọng tâm của vấn đề phát triển kinh tế đó chính là thúc đẩy sự phát
triển của các doanh nghiệp trong nước. Nhận thấy được điều này Đảng và Nhà
nước ta luôn chú trọng xây dựng một môi trường kinh doanh cởi mở cho doanh
nghiệp đặc biệt là vấn đề quản lý doanh nghiệp- bước khởi đầu để doanh nghiệp gia
nhập vào hoạt động kinh tế trong nước cũng như quốc tế. Bởi vậy, vấn đề quản lý
doanh nghiệp đã được Chính phủ chú trọng cải cách cũng như được rất nhiều các
học giả, nhà nghiên cứu lựa chọn nghiên cứu, đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về
vấn đề này trong các giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước, điển hình như: như
công trình “Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp Nhà nước trong điều kiện hội
nhập của Việt Nam” Nhà xuất bản Đại học Kinh tế năm 2010 [5]; “Một số khía cạnh
của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở
Việt Nam” Nhà xuất bản Đại học Quốc gia năm 2012 [6]; “Quản lý kinh tế của cơ
quan Nhà nước đối với doanh nghiệp Nhà nước” Nhà xuất bản Đại học Quốc gia năm
2014 [4]. Ngoài ra, có Luận án tiến sỹ luật học năm 2013 của Lê Văn Hưng với đề tài
là “Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật tổ chức, hoạt động và quản lý nhà nước
đối với doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay (từ thực tiễn của Thành phố Hồ

quận Ngũ Hành Sơn trong những năm tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động quản lý nhà nước đối với doanh
nghiệp trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu sự quản lý của nhà nước ở cấp Quận đối với các
doanh nghiệp.
- Về mặt không gian: Các doanh nghiệp trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn
- Về thời gian: Nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn 2013 – 2017. Bởi vì giai
đoạn này sát với thời điểm hiện nay, các số liệu báo cáo theo năm đã được hoàn chỉnh.
Giải pháp đến năm 2020
3


5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
- Cách tiếp cận duy vật lịch sử: Đặt trong bối cảnh nghiên cứu trong điều kiện
lịch sử cụ thể của Quận. Các xu hướng đã được nghiên cứu trong quá khứ được sử
dụng cho việc nghiên cứu định hướng trong tương lai.
- Cách tiếp cận duy vật biện chứng: Công tác quản lý trong trạng thái luôn phát
triển và nghiên cứu nó trong mối quan hệ với các yếu tố khác, từ đó tìm ra mối quan
hệ nguyên nhân - kết quả trong các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp sử dụng để tìm hiểu hoạt động quản
lý nhà nước về doanh nghiệp cũng như những rào cản đã cản trở tình hình hoạt động
của doanh nghiệp trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
-Phương pháp phân tích thực chứng.
-Phương pháp phân tích chuẩn tắc.
-Phương pháp điều tra khảo sát chuyên gia.

1.1. Khái quát về doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp
Doanh nghiệp là thuật ngữ có nguồn gốc từ lĩnh vực kinh tế học. Theo đó,
doanh nghiệp như một phương tiện để thực hiện ý tưởng kinh doanh. Muốn kinh
doanh, thương nhân phải chọn cho mình một trong số những loại hình doanh nghiệp
mà pháp luật quy định.
Theo định nghĩa của Viện Thống kê và Nghiên cứu kinh tế, doanh nghiệp là
một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất của cải và dịch vụ để bán.
Theo Luật Công ty Việt Nam ban hành năm 1999, doanh nghiệp là các đơn vị kinh
doanh được thành lập với mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh, đó
là việc thực hiện một hay một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản
xuất đến tiêu thụ hay thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Luật Doanh nghiệp Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 2014 đã đưa ra
khái niệm về doanh nghiệp “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ
sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh
doanh”. Khái niệm doanh nghiệp theo đó được hiểu theo nghĩa khá rộng rãi, đầy đủ và
chặt chẽ.
Như vậy, doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế, có tư cách pháp nhân
hoặc không, thực hiện các hoạt động kinh doanh theo qui định của pháp luật, nhằm đạt
được những mục tiêu nhất định.
1.1.2. Vai trò của doanh nghiệp
- Doanh nghiệp là yếu tố quan trọng, quyết định đến chuyển dịch các cơ cấu lớn
của nền kinh tế quốc dân như: Cơ cấu nhiều thành phần kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế,
cơ cấu kinh tế giữa các vùng, địa phương. Doanh nghiệp phát triển, đặc biệt là DN
ngành công nghiệp tăng nhanh là nhân tố đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu của
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế, giữ vững ổn định
và tạo thế mạnh hơn về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập.
6



7


- DN đã đóng góp vào nguồn thu ngân sách nhà nước. Thống kê cho thấy hiện
nay đóng góp vào ngân sách nhà nước của Doanh nghiệp ngày càng tăng lên. So với
đóng góp vào ngân sách trung ương thì đóng góp của DN vào nguồn thu ngân sách địa
phương còn lớn hơn nhiều. Ngoài đóng góp vào nguồn thu ngân sách, các DN còn có sự
đóng góp đáng kể vào việc xây dựng các công trình văn hóa, trường học, thể dục thể
thao, đường xá, cầu cống, nhà tình nghĩa và các công trình phúc lợi khác.
1.1.3. Phân loại doanh nghiệp
* Theo ngành nghề kinh doanh
Việc nghiên cứu các loại hình doanh nghiệp theo ngành nghề kinh doanh có ý
nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu cấu trúc vốn của doanh nghiệp, nó ảnh hưởng
đến rủi ro kinh doanh của từng loại hình doanh nghiệp kinh doanh khác nhau nên ảnh
hưởng đến chi phí sử dụng vốn. Trong nền kinh tế, có thể phân thành 6 loại hình
doanh nghiệp cơ bản: Doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp, nông
nghiệp – thủy sản, thương mại – dịch vụ, giao thông vận tải, xây dựng và các doanh
nghiệp khác (như tài chính, bảo hiểm…).
Mỗi ngành kinh doanh có những đặc điểm kinh tế – kỹ thuật riêng có ảnh
hưởng không nhỏ đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Những doanh nghiệp hoạt động trong ngành thương mại, dịch vụ thì vốn lưu
động chiếm tỷ trọng cao hơn, tốc độ chu chuyển của vốn lưu động cũng nhanh hơn so
với các ngành nông nghiệp, công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng. Ở các ngành
này, vốn cố định thường chiếm tỷ lệ cao hơn vốn lưu động, thời gian thu hồi vốn cũng
chậm hơn.
Những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sản phẩm có chu kì sản xuất ngắn
thì nhu cầu vốn lưu động giữa các thời kì trong năm thường không có biến động lớn,
doanh nghiệp cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng, nhờ đó có thể dễ dàng bảo
đảm cân đối giữa thu và chi bằng tiền, cũng như đảm bảo nguồn vốn cho nhu cầu kinh
doanh.

Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ,
thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp
Nhà Nước. Công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập,
tổng công ty nhà nước.
Công ty nhà nước được thành lập chủ yếu ở những ngành, lĩnh vực cung cấp
sản phẩm, dịch vụ thiết yếu cho xã hội; ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát
9


triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế, đòi hỏi đầu tư lớn;
ngành, lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh cao; hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội
đặc biệt khó khăn mà các thành phần kinh tế khác không đầu tư.
 Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
+ Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
+ Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh
nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
+ Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác,
trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết.
+ Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không
hạn chế số lượng tối đa.
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng
theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
Công ty cổ phần phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc
(Tổng giám đốc); đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có Ban kiểm
soát.
Lợi thế của công ty cổ phần là:
+ Chế độ trách nhiệm của công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn, các cổ đông
chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn

của Nhà nước và thông qua một hệ thống các chính sách kinh tế với các công cụ kinh
tế lên hệ thống các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu
quả nhất các nguồn lực phát triển kinh tế, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
1.2.2. Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
Trong nền kinh tế nói chung, nhu cầu bản thân các doanh nghiệp đòi hỏi phải có
sự quản lý của Nhà nước. Quá trình sản xuất kinh doanh làm nảy sinh mối quan hệ
giữa các doanh nghiệp với nhau. Các doanh nghiệp đều có lợi ích riêng của mình và họ
luôn tìm mọi cách để tối đa hoá lợi ích đó. Để đạt được mục đích của mình các doanh
nghiệp có thể vi phạm đến lợi ích của người khác. Từ đó tất yếu nảy sinh ra hiện tượng:
lợi ích của cá nhân hay bộ phận này tăng lên làm thiệt hại đến lợi ích của cá nhân khác
xét trên phạm vi tổng thể nền kinh tế quốc dân. Biểu hiện về mặt xã hội của xu hướng
11


này là các hoạt động kinh tế chồng chéo cản trở nhau, sự phân bổ nguồn lực không hợp
lý, các vấn đề chính trị xã hội phát sinh. Bởi vậy phải có một người đứng ra làm trung
gian giải quyết, cân bằng mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau.
- Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đóng vai trò quyết định nền
kinh tế, góp phần tạo ra tích luỹ, sự phát triển của doanh nghiệp thể hiện sự phát triển
của quan hệ sản xuất, doanh nghiệp đầu tư nguồn vốn, lao động, áp dụng khoa học
công nghệ để tạo ra năng suất chất lượng sản phẩm ngày càng cao, giá thành hạ đáp
ứng cho nhu cầu của xã hội.
- DN để sản xuất kinh doanh có hiệu quả, các doanh nhân phải giải quyết hàng
loạt các vấn đề, trong đó có những vấn đề mà từng doanh nhân riêng biệt không đủ khả
năng giải quyết. Nhà nước bằng hoạt động của mình, giúp các doanh nhân giải quyết các
vấn đề sản xuất kinh doanh tầm vĩ mô, tìm ra những nhu cầu của họ để đáp ứng.
- Trong quá trình sản xuất kinh doanh làm nảy sinh mối quan hệ giữa các DN
với nhau; đôi khi để đạt được mục đích của mình họ đã vi phạm đến lợi ích của người
khác. Từ đó tất yếu nảy sinh ra hiện tượng: lợi ích của cá nhân hay bộ phận này tăng
lên làm thiệt hại đến lợi ích của cá nhân khác xét trên phạm vi tổng thể nền kinh tế

lý của nhiều cơ quan Nhà nước, thì khi doanh nghiệp vi phạm pháp luật thuộc lĩnh vực
nào sẽ do cơ quan quản lý lĩnh vực, chuyên ngành đó chịu trách nhiệm xử lý. Chấm
dứt tình trạng chồng chéo trong quản lý nhà nước đổi với doanh nghiệp của các cơ
quan Nhà nước, đảm bảo khi doanh nghiệp vi phạm pháp luật thì luôn có một cơ quan
Nhà nước có trách nhiệm xử lý. Mỗi sở, ban ngành thành phố có chức năng, nhiệm vụ
hướng dẫn DN thực hiện các quy định pháp luật trong các lĩnh vực đó; xây dựng quy
phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước của mình để doanh nghiệp vừa thuận
lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa đảm bảo trật tự an toàn xã hội và không
xâm phạm lợi ích của bên thứ ba; kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật của
doanh nghiệp thuộc lĩnh vực mình quản lý.
Ba là, quản lý nhà nước đối với DN không tách rời với các hoạt động giám sát
doanh nghiệp của các chủ thể khác, Nhà nước khuyến khích mọi thành phần kinh tế
trong xã hội, chủ sở hữu doanh nghiệp cùng tham gia quản lý, giám sát hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhà nước chỉ quản lý bằng pháp luật, chỉ làm
những việc thuộc chức năng quản lý hành chính nhà nước.

13


1.2.4. Phương hướng can thiệp của Nhà nước vào quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp
1.2.4.1. Xét theo mục đích can thiệp
Có 3 hướng lớn sau đây:
- Can thiệp để ngăn chặn, hạn chế các tác hại xuất phát từ hoạt động của các
doanh nhân và doanh nghiệp.
- Can thiệp để giúp đỡ các doanh nhân và doanh nghiệp sao cho họ có thể thành
đạt trong sản xuất kinh doanh, nhờ đó mà quốc gia cũng hùng mạnh theo, theo tinh
thần “dân giàu, nước mạnh”.
- Can thiệp để bảo vệ lợi ích của công dân, của cộng đồng.
1.2.4.2. Xét theo nội dung hoạt động của doanh nghiệp

nước cần phải ngăn chặn các hành vi trộm cắp tài nguyên; các hành vi khai thác một
cách lãng phí các nguồn tài nguyên, các hành vi sử dụng tài nguyên vào các hoạt động
sản xuất kinh doanh không đem lại hiệu quả cao; các hành vi lạm dụng, phá hoại, trốn
phí khi sử dụng các công sản, nhằm bảo toàn chúng.
+Trong việc gây ô nhiễm môi trường, Nhà nước phải quan tâm đến các hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có liên quan đến việc làm ô nhiễm môi
trường. Chẳng hạn, việc lựa chọn nguyên liệu đưa vào sản xuất sao cho ít gây nhiễm;
việc áp dụng các phương pháp tiêu huỷ chất thải; việc bố trí địa thế doanh nghiệp sao
cho ít ảnh hưởng đến dân cư và các loại sản xuất xung quanh…
+ Trong phân bố địa điểm sản xuất chung của doanh nghiệp cũng như phân bố
các bộ phận trong nội bộ doanh nghiệp. Trên thực tế, một số địa điểm được các doanh
nghiệp lựa chọn đem lại lợi thế cho doanh nghiệp, nhưng lại gây ra bất lợi chung cho
xã hội. Trên giác độ từng doanh nghiệp, việc bố trí nơi làm việc có thể gây ra ảnh
hưởng xấu tới sức khoẻ người lao động.
- Nhà nước quản lý vấn đề thống nhất hoá sản phẩm, tiêu chuẩn hoá sản phẩm
và bản quyền kiểu dáng sản phẩm, vấn đề này có ý nghĩa trên nhiều mặt. Đối với
người tiêu dùng, đây là cơ sở để bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng. Đối với người
sáng chế, đây là cơ sở để chống mọi hành vi ăn cắp bản quyền sở hữu trí tuệ. Đối với
xã hội nói chung, đây là biện pháp để đảm bảo cho quá trình chuyên môn hoá được
duy trì và phát triển.
- Nhà nước định hướng sự lựa chọn đối tác quan hệ của các doanh nhân, đặc
biệt là các quan hệ với người nước ngoài để ngăn ngừa được các tác động ngoại xâm
15


về mọi phương diện: văn hoá, chính trị, an ninh, dịch bệnh… núp dưới con người và
hàng hoá nhập khẩu, ngăn ngừa mọi sự rò rỉ chất xám kết tinh trong hàng hoá, thông
tin kinh tế kỹ thuật…ra nước ngoài.
- Nhà nước can thiệp vào các hoạt động tự bảo vệ của các doanh nghiệp nhằm
giúp họ chống lại mọi đe doạ về tài sản và tính mạng, cũng như các bất trắc, rủi ro trong

sung và nằm trong hầu hết các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động kinh
doanh. Đến nay, chỉ tính riêng hệ thống quy định về ngành, nghề kinh doanh phải có
giấy phép bao gồm khoảng hơn 40 Luật, Pháp lệnh và khoảng nhiều Nghị định hướng
dẫn thi hành.
- Các quy định về thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính đối với
doanh nghiệp như: Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, Luật Thanh tra và các Nghị
định hướng dẫn thi hành theo từng lĩnh vực cụ thể…
Luật Doanh nghiệp và các luật khác liên quan cùng với các văn bản hướng dẫn
thi hành đã góp phần quan trọng trong việc thiết lập một khung pháp lý mới trong
quản lý nhà nước đối với doanh nghiêp tư nhân. Có thể thấy rằng, hệ thống văn bản
pháp luật về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp đã được xây dựng tương đối hoàn
chỉnh và đồng bộ, nhất là giai đoạn từ năm 2006 đến nay. Việc nhà nước có trách
nhiệm không ngừng hoàn thiện các quy phạm pháp luật kinh doanh sao cho cởi mở,
minh bạch và có thể dự báo sẽ vừa có tác dụng định hướng và quản lý thống nhất
doanh nghiệp, vừa tạo lòng tin và thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
1.2.5.2. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với Doanh nghiệp
Bên cạnh công cụ chủ yếu là hệ thống pháp luật, bộ máy quản lý nhà nước dần
thích nghi với những yêu cầu đổi mới mục tiêu và nội dung quản lý nhà nước đối với
Doanh nghiệp cả về cơ cấu tổ chức lẫn chức năng nhiệm vụ.
Cơ chế vận hành của các cơ quan quản lý nhà nước đã có nhiều thay đổi đáng
ghi nhận, từng bước nỗ lực tự hoàn thiện theo yêu cầu của đối tượng quản lý và sự
phát triển của khu vực Doanh nghiệp thay vì thụ động điều chỉnh hành vi của doanh
nghiệp theo năng lực hạn chế của mình như trước kia.
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung và
Doanh nghiệp sau đăng ký thành lập nói riêng hình thành tương đối rõ, trong đó:
- Quốc hội ban hành và sửa đổi các luật liên quan đến hoạt động của Doanh
nghiệp
17


bản Luật,
Pháp lệnh,
Nghị định,
Nghị quyết,
Chỉ thị,
Quyết định

Các Bộ

UBND cấp tỉnh
Ban hành Quyết
định, Thông tư

Các Sở

UBND cấp
quận, huyện

Cơ bản thực hiện
quản lý gián tiếp

Kiểm tra, giám sát
trực tiếp theo địa bàn,
lĩnh vực kinh doanh

Doanh nghiệp

Ngoài cách tiếp cận hệ thống bộ máy quản lý nhà nước theo phân cấp về hành
chính, đứng trên góc độ hệ thống các cơ quan nhà nước liên quan trực tiếp đến “vòng
đời” của doanh nghiệp (từ khi đăng ký thành lập doanh nghiệp đến khi giải thể, phá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status