MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ
ĐẶT VẤN ĐỀ...................................................................................................4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU...........................................................4
1.1. Đặc điểm về rối loạn cảm xúc................................................................4
1.1.1. Khái niệm về rối loạn cảm xúc...........................................................4
1.1.2. Bệnh sinh của rối loạn cảm xúc..........................................................4
1.1.3. Đặc điểm lâm sàng của rối loạn cảm xúc............................................4
1.2. Hành vi phạm tội ở đối tượng rối loạn cảm xúc.....................................4
1.2.1. Khái niệm hành vi phạm tội và tội phạm............................................4
1.2.2. Tình hình nghiên cứu phạm tội ở đối tượng rối loạn cảm xúc.............4
1.2.3. Đặc điểm hành vi phạm tội trong rối loạn cảm xúc.............................4
1.3. Một số yếu tố liên quan, thúc đẩy hành vi phạm tội ở đối tượng rối
loạn cảm xúc.........................................................................................4
1.3.1. Giới tính và tuổi................................................................................4
1.3.2. Tiền sử phạm tội và sang chấn tâm lý.................................................4
1.3.3. Lạm dụng chất và tác động của môi trường........................................4
1.3.4. Rối loạn nhân cách ranh giới..............................................................4
1.3.5. Rối loạn kiểm soát xung động............................................................4
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.................4
2.1. Đối tượng nghiên cứu.............................................................................4
2.1.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu......................................4
2.1.2. Tiêu chuẩn chọn đối tượng.................................................................4
2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ.............................................................................4
4.2. Đặc điểm lâm sàng rối loạn cảm xúc nhóm đối tượng nghiên cứu........4
4.2.1. Nhân cách tiền bệnh lý ở các đối tượng nghiên cứu............................4
4.2.2. Phân loại các rối loạn cảm xúc ở nhóm đối tượng nghiên cứu.............4
4.2.3. Đặc điểm lâm sàng nhóm đối tượng có giai đoạn trầm cảm................4
4.2.4. Đặc điểm lâm sàng của giai đoạn hưng cảm.......................................4
4.3. Đặc điểm hành vi phạm tội của đối tượng rối loạn cảm xúc..................4
4.3.1. Các hành vi phạm tội gặp trong nhóm nghiên cứu..............................4
4.3.2. Địa điểm xảy ra vụ án........................................................................4
4.3.3. Phân bố hành vi phạm tội theo nhóm bệnh.........................................4
4.3.4. Số lần phạm tội.................................................................................4
4.3.5. Thời điểm mắc bệnh của các đối tượng có hành vi phạm tội...............4
4.3.6. Phân bố thời gian khi mắc bệnh và thời điểm phạm tội ở đối tượng
rối loạn cảm xúc...............................................................................4
4.3.7. Phương tiện gây án............................................................................4
4.3.8. Số phương tiện gây án.......................................................................4
4.3.9. Hậu quả của hành vi phạm tội............................................................4
4.3.10. Số người thiệt hại trong các vụ án....................................................4
4.3.11. Quan hệ giữa người bị hại đối tượng gây án.....................................4
4.3.12. Năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của đối tượng..................4
4.3.13. Cơ quan trưng cầu giám định...........................................................4
4.4. Các yếu tố liên quan thúc đẩy hành vi phạm tội....................................4
4.4.1. Các yếu tố bệnh lý và ngoại lai..........................................................4
4.4.2. Các giai đoạn bệnh khác nhau trong thời gian phạm tội......................4
4.4.3. Mối liên quan giữa người bị hại với các hình thức phạm tội................4
4.4.4. Mối liên quan giữa giới tính và hình thức phạm tội.............................4
4.4.5. Mối liên quan giữa lứa tuổi và hành vi phạm tội.................................4
4.4.6. Mối liên quan giữa rối loạn loạn thần với các hình thức phạm tội ở
đối tượng rối loạn cảm xúc................................................................4
Diagnostic and Statiscal manual of Mental disorders.
4th Edition (Số tay thống kê và chẩn đoán rối loạn tâm thần
lần thứ 4)
4
DSM-5
Diagnostic and Statiscal manual of Mental disorders.
5th Edition (Số tay thống kê và chẩn đoán rối loạn tâm thần
lần thứ 5)
5
HPA
(Trục hạ đồi tiền yên thượng thận)
6
ICD- 10
International Classification of Disseases and related
Health problems. 10th Edition (Bảng phân loại bệnh quốc tế
lần thứ 10)
8
GABA
Rối loạn cảm xúc (Affective disorders)
14
RLTT
Rối loạn tâm thần (Mental disorders)
15
SSRI
Selective Serotonin Reuptake Inhibitor
(Ức chế tái hấp thu chọn lọc Serotonin)
16
TC
Triệu chứng
17
WHO
World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)
DANH MỤC BẢNG
Bảng
Các trạng thái rối loạn cảm xúc ở đối tượng nghiên cứu........................4
3.8.
Thái độ tiếp xúc của đối tượng rối loạn trầm cảm..................................4
3.9.
Các triệu chứng chủ yếu ở đối tượng rối loạn trầm cảm.........................4
3.10. Các triệu chứng phổ biến ở đối tượng rối loạn trầm cảm........................4
3.11. Các rối loạn cảm xúc ở đối tượng rối loạn trầm cảm..............................4
3.12. Các rối loạn cảm giác, tri giác ở đối tượng rối loạn trầm cảm.....................4
3.13. Các triệu chứng ảo giác ở đối tượng rối loạn trầm cảm..........................4
3.14. Các rối loạn hình thức tư duy ở đối tượng rối loạn trầm cảm......................4
3.15. Các rối loạn nội dung tư duy ở đối tượng rối loạn trầm cảm..................4
3.16. Các rối loạn hoạt động ở đối tượng rối loạn trầm cảm............................4
3.17. Các rối loạn cơ thể ở đối tượng rối loạn trầm cảm..................................4
3.18. Các rối loạn lo âu ở đối tượng rối loạn trầm cảm....................................4
3.19. Kết quả khảo sát mức độ lo âu theo test ZUNG ở đối tượng rối loạn
trầm cảm..................................................................................................4
3.20. Các rối loạn giấc ngủ ở đối tượng rối loạn trầm cảm..............................4
3.21. Các rối loạn trí nhớ ở đối tượng rối loạn trầm cảm.................................4
3.22. Các rối loạn chú ý ở đối tượng rối loạn trầm cảm...................................4
3.23. Kết quả khảo sát test Beck ở đối tượng rối loạn trầm cảm.....................4
3.24. Thái độ tiếp xúc ở đối tượng rối loạn hưng cảm.....................................4
Bảng
3.43. Mối liên quan giữa lứa tuổi với các hình thức phạm tội ở đối tượng rối
loạn cảm xúc............................................................................................4
3.44. Mối liên quan giữa rối loạn loạn thần với các hình thức phạm tội ở đối
tượng rối loạn cảm xúc............................................................................4
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
3.1.
Giới tính của đối tượng nghiên cứu........................................................4
3.2.
Tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên cứu......................................4
3.3.
Môi trường sống của đối tượng nghiên cứu............................................4
3.4.
Phân loại bệnh theo ICD-10 (1992) ở đối tượng nghiên cứu..................4
3.5.
Rối loạn cảm xúc hay còn gọi là rối loạn khí sắc, là một nhóm rối loạn
tâm thần thường gặp nhất, bao gồm trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, loạn khí
sắc, khí sắc chu kì...
Rối loạn trầm cảm chiếm tỷ lệ từ 15-25% dân số, hay gặp ở những
người trung niên (35-60 tuổi), nữ nhiều gấp 3 lần nam. Còn tỷ lệ của rối loạn
cảm xúc lưỡng cực là khoảng 1% dân số, nam với nữ là như nhau và thường
khởi phát ở lứa tuổi trẻ (20-25 tuổi). [1].
Bệnh cảnh lâm sàng của rối loạn cảm xúc rất đa dạng, không đồng
nhất, kéo dài, tùy thuộc là rối loạn cảm xúc lưỡng cực hoặc rối loạn trầm cảm.
Với rối loạn cảm xúc lưỡng cực thì bệnh nhân có thể có giai đoạn hưng cảm
hoặc giai đoạn trầm cảm, còn với rối loạn trầm cảm thì bệnh nhân sẽ chỉ có
các giai đoạn trầm cảm [1].
Các triệu chứng lâm sàng của các rối loạn cảm xúc chịu ảnh hưởng sâu
sắc của các sang chấn tâm lý từ môi trường sống, chịu tác động mạnh mẽ của
lạm dụng rượu, ma túy và các chất kích thích khác [2].
Hành vi phạm tội là hành vi thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm.
Hành vi phạm tội, đặc biệt là hành vi bạo lực ở các đối tượng rối loạn cảm
xúc đã làm cho xã hội phải quan tâm và gây ra một sự kỳ thị rất lớn đối với
các đối tượng rối loạn cảm xúc.
Kaplan H. I. và cộng sự (1997) cho rằng hành vi phạm tội ở những
người bị rối loạn cảm xúc là phổ biến hơn so với người bình thường và so với
những người bị các loại rối loạn tâm thần khác [3].
Theo Sadock B.J. và cộng sự (2015), hành vi phạm tội của rối loạn cảm
xúc có thể gặp ở cả giai đoạn trầm cảm và giai đoạn hưng cảm. Tác giả cho
rằng các yếu tố thúc đẩy hành vi phạm tội của đối tượng rối loạn cảm xúc là
lạm dụng rượu, ma túy và các yếu tố tác động từ môi trường xung quanh [4].
2
1.1. Đặc điểm về rối loạn cảm xúc
1.1.1. Khái niệm về rối loạn cảm xúc
Rối loạn cảm xúc là một nhóm bệnh, bao gồm giai đoạn trầm cảm, giai
đoạn hưng cảm, rối loạn trầm cảm tái diễn, rối loạn cảm xúc lưỡng cực, loạn
khí sắc và khí sắc chu kỳ. Ngoài ra, cả hai hệ thống phân loại bệnh của Tổ
chức Y tế Thế giới (ICD-10, năm 1992, phiên bản sửa đổi và bổ sung năm
2016) và Hội tâm thần học Hoa Kỳ (DSM- IV năm 1994) đều có mục rối loạn
cảm xúc do một bệnh thực tổn hoặc một chất [5].
DSM-5 (2013) căn cứ vào sự có mặt hay không của cơn hưng cảm, tách
các rối loạn cảm xúc thành hai nhóm: trầm cảm và các rối loạn liên quan, rối
loạn lưỡng cực và các rối loạn liên quan. Cụ thể các rối loạn đó như sau:
- Rối loạn trầm cảm và loạn khí sắc
- Rối loạn lưỡng cực 1, rối loạn lưỡng cực 2 và khí sắc chu kỳ
- Rối loạn cảm xúc do một chất
- Rối loạn cảm xúc do một bệnh cơ thể [1].
1.1.2. Bệnh sinh của rối loạn cảm xúc
1.1.2.1. Rối loạn trầm cảm
* Vai trò của gen di truyền
Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã thấy rằng khi một cặp sinh đôi
cùng trứng một người bị trầm cảm, thì người kia cũng có nguy cơ bị trầm cảm
rất cao. Theo Kaplan H. I. và cộng sự (1997) thì tỷ lệ này là 76%, còn theo
Gelder M. và cộng sự (2011) thì tỷ lệ này dao động từ 72-80% tùy thuộc vào
từng nghiên cứu. Còn với các cặp sinh đôi khác trứng hay anh chị em ruột thì
tỷ lệ nguy cơ bị rối loạn trầm cảm là rất thấp (khoảng 19% và 18%) [3], [6].
4
Nhiều tác giả đã cho rằng yếu tố gen di truyền tuy quan trọng, nhưng
không phải là tất cả mà còn chịu sự tác động của môi trường thuận lợi hay
không. Mặc dù có bộ gen di truyền là hoàn toàn giống nhau, nhưng tỷ lệ cùng
cảm. Gen BDNF chi phối việc sản xuất ra protein BDNF, là chất cung cấp
dinh dưỡng cho các tế bào thần kinh của não. Người ta còn nhận thấy gen
BDNF có vai trò trong các hành vi tự sát ở bệnh nhân trầm cảm [12].
Một số nghiên cứu cho rằng yếu tố môi trường và thuốc chống trầm
cảm có ảnh hưởng rõ rệt đến gen BDNF và sự vận chuyển serotonin ở não, vì
thế chúng có vai trò quan trọng trong khởi phát của rối loạn trầm cảm chủ yếu
và trong quá trình điều trị rối loạn này [13].
Caspi A. và cộng sự (2003) đã tìm thấy mối tương tác giữa gen và môi
trường (GxE), qua đó có thể giải thích lý do tại sao yếu tố sang chấn tâm lý có
thể gây ra trầm cảm chủ yếu ở một số người, nhưng không gây ra bệnh ở
những người khác [14]. Điều này còn tùy thuộc vào một biến thể allen của
gen vận chuyển serotonin (5-HTTLPR)[15], [16], [17].
Một nghiên cứu tiến hành năm 2008 cho thấy có mối tương tác giữa
BDNF và quá trình vận chuyển serotonin. Biến thể của BDNF là Val66Met
được cho là nguyên nhân gây giảm đáp ứng của serotonin nên có tác dụng bảo
vệ con người khỏi bị trầm cảm [18].
Tuy nhiên, những phát hiện khi nghiên cứu tương tác gen – môi trường
cho thấy rằng các mô hình gen BDNF hiện tại của trầm cảm là quá đơn giản
[14], [19].
Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy có nhiều gen chi phối một số rối loạn
tâm thần, bao gồm cả trầm cảm, rối loạn lưỡng cực cũng như các rối loạn cảm
xúc khác [20].
Người bị rối loạn cảm xúc thường có sự rối loạn trong nhịp sinh học của
họ. Nghiên cứu về di truyền phân tử gần đây đã cho thấy các gen điều tiết
đồng hồ sinh học liên quan đến rối loạn cảm xúc. Các gen cốt lõi của đồng hồ
sinh học là CRY1, CRY2 cũng như TTC1, liên quan chặt chẽ đến trầm cảm.
6
Sự liên quan giữa CRY2 với trầm cảm xuất hiện vào mùa đông. Các nghiên
nghiên cứu chỉ có thể đo lường được chất chuyển hóa của chúng và có thể
được tìm thấy trong máu, nước tiểu và dịch não tủy. Bằng cách đo chất
chuyển hóa, các nhà nghiên cứu có thể đạt được một sự hiểu biết về những
thay đổi hoạt động của các chất dẫn truyền thần kinh trong não bộ [24].
Năm 2011, Gelder M. và cộng sự cho rằng các nhà nghiên cứu chưa
hiểu sự thay đổi nồng độ của các chất dẫn truyền thần kinh gây trầm cảm hay
ngược lại, trầm cảm gây ra thay đổi nồng độ các chất dẫn truyền thần kinh.
Các nhà nghiên cứu tin rằng hành vi của chúng ta có thể ảnh hưởng đến các
chất dẫn truyền thần kinh trong não và ngược lại, các chất này có thể ảnh
hưởng đến hành vi của chúng ta [6].
Nghiên cứu trên các bệnh nhân trầm cảm ở Úc cho thấy điểm trầm cảm
tăng trên trắc nghiệm Beck liên quan đến hiện tượng giảm tryptophan huyết
tương và giảm hấp thu Fructose. Tryptophan tham gia sinh tổng hợp serotonin
(5-hydroxytryptamine). Còn hiện tượng kém hấp thu fructose được nhận thấy
ở những bệnh nhân trầm cảm có rối loạn chuyển hóa tryptophan. [25].
Các nhà nghiên cứu đã thống nhất rằng hầu hết các thuốc chống trầm
cảm làm tăng nồng độ chất dẫn truyền thần kinh serotonin ở khe synap.
Chúng cũng làm tăng nồng độ của hai chất dẫn truyền thần kinh khác là
noradrenaline và dopamine. Vì thế, người ta đưa ra giả thuyết về vai trò của
monoamine, cho rằng sự thiếu hụt một số chất dẫn truyền thần kinh là nguyên
nhân gây ra trầm cảm. Những người ủng hộ giả thuyết này khuyên nên lựa
chọn các thuốc chống trầm cảm dựa trên cơ chế tác động của chúng đến các
triệu chứng nổi bật nhất. Ví dụ như các bệnh nhân lo lắng nhiều nên được
điều trị với SSRIs hoặc ức chế tái hấp thu noradrenaline, còn những bệnh
nhân với sự mất năng lượng và mất các hứng thú trong cuộc sống thì được
điều trị bằng các loại thuốc ức chế tái hấp thu noradrenaline và các loại thuốc
chống trầm cảm mới [26].
8
Năm 2011, Gelder M. cho rằng trong trầm cảm nồng độ các hormone
có liên quan chặt chẽ đến những thay đổi hóa học trong não. Hệ thống nội tiết
được kết nối với não bộ thông qua vùng dưới đồi, chúng kiểm soát nhiều hoạt
động của cơ thể như giấc ngủ, sự ngon miệng và ham muốn tình dục. Vùng
dưới đồi cũng điều chỉnh hoạt động của tuyến yên, còn tuyến yên kiểm soát
sự tiết hormon của các tuyến khác. Vùng dưới đồi sử dụng một số chất dẫn
truyền thần kinh có liên quan với trầm cảm, các chất dẫn truyền thần kinh này
cũng tham gia quản lý hệ thống nội tiết. Serotonin, noradrenaline và
dopamine đều có một vai trò nhất định trong việc kiểm soát chức năng của
các tuyến nội tiết. Trầm cảm có thể là triệu chứng của một rối loạn tồn tại
trong các cơ quan sản xuất hormone. Các thay đổi này có liên quan tới biến
đổi di truyền do stress [6].
* Các bất thường về cấu trúc não
+ Nhân Raphe: các nhân raphe là một nhóm các nhân nhỏ ở phía trên
thân não, nằm tại đường giữa của não. Chúng là khu vực duy nhất sản sinh ra
serotonin trong não. Có một số bằng chứng cho thấy có những bất thường
bệnh lý thần kinh trong các nhân raphe ở trầm cảm [35].
+ Vùng mái bụng (Ventral tegmental area - VTA): vùng mái bụng
phóng thích chất dẫn truyền thần kinh dopamine đến nhân accumbens. Thuốc
gây nghiện thường làm tăng tác dụng của dopamine trong hệ thống này, trong
khi các loại thuốc chống phóng thích dopamine gây ra mất quan tâm thích
thú, hay gặp ở người bị trầm cảm [36].
+ Nhân suprachiasmatic : là trung tâm điều khiển “đồng hồ sinh học”
của cơ thể. Nhân suprachiasmatic kiểm soát chu kỳ thức ngủ cũng như một số
nhịp điệu sinh học khác, như thay đổi nhiệt độ cơ thể. Rối loạn chu kỳ này là
một triệu chứng rất quan trọng của trầm cảm, đặc biệt là trầm cảm u sầu [16].
+ Nhân accumbens: tiếp xúc lâu dài với các yếu tố gây stress làm giảm
phóng thích dopamin trong nhân accumbens [36].
11
* Các giả thuyết tâm lý
+ Giả thuyết nhận thức: các nhà lý thuyết nhận thức hành vi cho rằng
trầm cảm là hậu quả của quá trình nhận thức không thích nghi được với thế
giới xung quanh.
+ Giả thuyết xã hội học: mọi người hoạt động với nhau trong các nhóm,
bao gồm bối cảnh văn hóa trong đó mọi người sống, cũng như những yếu tố
stress xã hội mà con người gặp phải như là một phần của cuộc sống. Các khía
cạnh xã hội học của trầm cảm chịu ảnh hưởng và cũng ảnh hưởng đến các
khía cạnh sinh học và tâm lý khác của cuộc sống con người.
+ Giả thuyết về môi trường: thiên tai như sự tàn phá của cơn bão, sóng
thần, động đất, cũng như các thảm họa khác do chính con người tạo ra như
chiến tranh, bắt cóc, tra tấn, hãm hiếp… có thể đóng góp vào sự nhạy cảm của
một người dễ bị tổn thương gây ra trầm cảm [10].
1.1.2.3. Rối loạn cảm xúc lưỡng cực
* Giả thuyết về gen di truyền
Theo Kaplan H. I. và cộng sự (1994), các nghiên cứu trên các cặp sinh
đôi cho thấy giai đoạn hưng cảm của rối loạn cảm xúc lưỡng cực có tỷ lệ phù
hợp cao ở các cặp sinh đôi cùng trứng (từ 46-92%) (một người bị rối loạn cảm
xúc lưỡng cực thì người kia cũng bị bệnh), tỷ lệ này ở các cặp sinh đôi khác
trứng thấp hơn nhiều (23%). Nếu bố hoặc mẹ bị rối loạn cảm xúc lưỡng cực
thì nguy cơ bị bệnh của con cái là 15-25%. Các thành viên cùng huyết thống
mức độ 1 của các bệnh nhân có rối loạn lưỡng cực I có tỷ lệ cao rối loạn
lưỡng cực I (4% - 24%), còn tỷ lệ rối loạn lưỡng cực II thì thấp hơn (1% 5%) [3].
Mortensen P.B. và cộng sự (2003) thấy các thành viên cùng huyết thống
mức độ 1 của các bệnh nhân có rối loạn lưỡng cực có nguy cơ bị bệnh gấp
13,63 lần so với dân số chung [39].
13
Ngoài ra, nhiều tác giả cũng nhận thấy có bằng chứng về mối liên hệ ở các gia
đình có bệnh nhân rối loạn cảm xúc lưỡng cực có loạn thần với vị trí 22q12
[43], [48]. Nhiễm sắc thể 11 cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và họ
đã tìm ra mối liên hệ không đồng nhất giữa nhiễm sắc thể này với bệnh sinh
của rối loạn lưỡng cực [49], [50].
Bên cạnh đó, một số tác giả đã chứng minh có mối liên hệ giữa khu vực
11p15.5 và Xp11.3 của nhiễm sắc thể giới tính X với bệnh rối loạn cảm xúc
lưỡng cực [50].
Khi nghiên cứu về vai trò của gen di truyền trong bệnh sinh của rối
loạn lưỡng cực, người ta phát hiện ra rất nhiều gen liên quan đến hệ thống
serotonin, dopamine và norepinephrine (noradrenaline). Tuy nhiên, với tất cả
các gen này đều không phát hiện được mối liên quan rõ ràng đến bệnh sinh
của rối loạn lưỡng cực khi kiểm tra đa hình thái trên gen của bệnh nhân [51]
Tuy nhiên, đã có bằng chứng cho thấy gen điều khiển catechol-omethyl transferase (một enzyme chuyển hóa monoamines) có liên quan đến
rối loạn cảm xúc lưỡng cực [52], [53].
Đối với rối loạn trầm cảm, người ta đã nhận thấy vai trò của yếu tố dinh
dưỡng thần kinh có nguồn gốc từ não. Nhưng nhiều nghiên cứu gần đây đã
cho thấy Val66Met có tác động nhỏ nhưng có ý nghĩa trên rối loạn lưỡng cực
[54]. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đều cho rằng yếu tố BDNF-LCPR có liên
quan với rối loạn lưỡng cực theo một cơ chế phức tạp [55].
Ngoài ra, nhiều tác giả nhận thấy G72/G30 (chất hoạt hóa acid Damino oxidase), có liên quan đến rối loạn cảm xúc lưỡng cực. Người ta đã
chứng minh rằng DAOA/G30 ảnh hưởng rõ ràng đến các giai đoạn của rối
loạn cảm xúc lưỡng cực [56], [57].
Một số nhà nghiên cứu đã chứng tỏ gen Neuregulin (NRG1) và gen
DISC1có ảnh hưởng đến rối loạn cảm xúc lưỡng cực [58], [42].
14
* Giả thuyết về chất dẫn truyền thần kinh
+ Nguyên nhân tâm lý và môi trường: đến nay, hầu hết các tác giả đều
thống nhất rằng bệnh sinh của rối loạn cảm xúc là do rối loạn về gen di truyền
dưới sự tác động của môi trường thuận lợi. Nhiều bằng chứng cho thấy các
yếu tố môi trường đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của rối loạn
lưỡng cực và các yếu tố tâm lý xã hội cá nhân có thể tương tác với các
khuynh hướng di truyền [28]. Người ta nhận thấy những đứa trẻ mất người
nuôi dưỡng trước 1 tuổi có nguy cơ bị rối loạn lưỡng cực tăng gấp 4,05 lần
[39].
+ Những bất thường trong cấu trúc và chức năng của một số khu vực
não có thể là nền tảng của rối loạn lưỡng cực. Nghiên cứu phân tích tổng hợp
về MRI cấu trúc trong rối loạn lưỡng cực cho thấy một sự gia tăng thể tích
của các não thất bên, cầu não và gia tăng tỷ lệ chất trắng [59].
+ Có thể trong rối loạn lưỡng cực, các giai đoạn đầu xảy ra là hậu quả
của stress, nhưng bệnh sẽ dễ tái phát. Bệnh nhân có hệ dưới đồi – tiền yên –
thượng thận tăng hoạt động, nồng độ cortisol toàn thân cao. Hơn nữa, các
bệnh nhân có mức độ nhạy cảm tăng, chẳng hạn như người thân mức độ một,
đã được chứng minh là đã tăng mức cortisol cơ sở. Như vậy, sự bất thường
của trục hệ dưới đồi – tiền yên – thượng thận dường như là một thuộc tính cơ
bản gây ra tổn thương cho các rối loạn cảm xúc
1.1.3. Đặc điểm lâm sàng của rối loạn cảm xúc
1.1.3.1. Đặc điểm lâm sàng của rối loạn trầm cảm điển hình
* Các triệu chứng chủ yếu
+ Khí sắc giảm: đây là triệu chứng quan trọng, gặp ở hầu hết các bệnh
nhân trầm cảm. Triệu chứng này được bệnh nhân và những người xung quanh
nhận thấy rõ ràng. Tuy nhiên, khoảng 50 % bệnh nhân không công nhận mình
có triệu chứng khí sắc giảm [61].
16
Triệu chứng khí sắc giảm phải tồn tại hầu hết thời gian trong ngày, diễn
còn quan tâm gì tới bạn bè, lãng quên hay không làm các hoạt động mà những
việc này trước đó đã từng là nguồn gốc của sự hứng thú [1].
Sadock B.J. và cộng sự (2015) cho rằng mất hứng thú và sở thích có
liên quan chặt chẽ với ý nghĩ về cái chết, sự liên quan này mang tính tỷ lệ
thuận, người bệnh thấy cuộc sống rất vô nghĩa và muốn kết thúc cuộc đời của
họ [4].
Kaplan H.I. và cộng sự (1994) cho rằng triệu này rất hay gặp nhưng tần
số ít hơn triệu chứng khí sắc giảm [61]. Dan J.S. và cộng sự cho rằng triệu
chứng này có tầm quan trọng chỉ sau triệu chứng giảm khí sắc [65].
* Các triệu chứng phổ biến
+ Giảm sút năng lượng và mệt mỏi: gần như mỗi ngày bệnh nhân than
phiền rằng họ cảm thấy luôn mệt mỏi, kiệt sức và mất hết năng lượng
[62]. Bệnh nhân có thể thấy mệt mỏi dù không có tham gia vào bất kỳ hoạt
động thể lực nào. Công việc hàng ngày đối với họ ngày càng trở nên khó
khăn. Bệnh nhân thấy rằng công việc hàng ngày trước đây họ vẫn làm, bây
giờ trở thành gánh nặng [1].
Cảm giác mệt mỏi thường tăng lên vào buổi sáng và giảm đi một chút
vào buổi chiều. Tuy nhiên, một số bệnh nhân lại có triệu chứng mệt mỏi và có
cảm giác mất năng lượng về buổi chiều. Khi trầm cảm nặng lên thì bệnh nhân
sẽ có cảm giác mệt mỏi, mất năng lượng suốt ngày [61]. Triệu chứng mệt mỏi
về buổi chiều hay đi kèm với triệu chứng ngủ nhiều và ăn nhiều. Khi triệu
chứng giảm sút năng lượng xuất hiện rõ ràng thì bệnh nhân hầu như không thể
làm được việc gì [2].
Theo ICD-10 (2016) triệu chứng này được coi là một triệu chứng
chính cùng với hai triệu chứng chính khác là khí sắc giảm và mất hứng thú,
sở thích. Tuy nhiên, DSM-IV (1994) thì chỉ cho là một trong các triệu
chứng phổ biến [66].