BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO, VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
………………….
LÊ NGỌC THÀNH LONG
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY
NGOẠI KHÓA MÔN BÓNG CHUYỀN CHO HỌC SINH
TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Tp. Hồ Chí Minh, năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO, VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
………………….
LÊ NGỌC THÀNH LONG
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY
NGOẠI KHÓA MÔN BÓNG CHUYỀN CHO HỌC SINH
nghiên cứu hoàn thành luận văn này.
Xin cảm ơn quý thầy cô đã dành những thời gian quý báu đọc và góp ý
giúp tôi hoàn thiện luận văn.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các cá nhân và tập thể:
- Ban giám hiệu trường Đại học TDTT thành phố Hồ Chí Minh.
- Khoa sau đại học - Trường Đại học TDTT thành phố Hồ Chí Minh.
- Trường THPT Nguyễn Trãi, tỉnh Đồng Nai.
- Gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp
Đã quan tâm động viên và tạo mọi điều kiện về tinh thần cũng như vật
chất để tôi hoàn thành tốt chương trình học tập.
Học viên
Lê Ngọc Thành Long
DANH MỤC CÁC CHỮ, ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG VIẾT TẮT
VIẾT TẮT
THUẬT NGỮ TIẾNG VIỆT
GDĐT
Giáo dục và đào tạo
GDTC
Giáo dục thể chất
GV
g
Gram
m
Mét
s
Giây
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng
TÊN BẢNG
1.1 Thực trạng giáo viên môn Thể dục trường THPT Nguyễn Trãi
Bảng phân phối chương trình giảng dạy môn thể dục cho học sinh
3.1
THPT thông Nguyễn Trãi Tỉnh Đồng Nai
Thực trạng kết quả học tập môn thể dục của học sinh trường thpt nguyễn
3.2
trãi tỉnh đồng nai năm học 2012-2013
So sánh thực trạng thể lực của học sinh khối 10 trường THPT
3.3 Nguyễn Trãi Tỉnh Đồng Nai (năm học 2013 - 2014) với mức trung
bình của người việt nam lứa tuổi 16
So sánh thực trạng thể lực của học sinh khối 11 trường THPT
3.4 Nguyễn Trãi Tỉnh Đồng Nai (năm học 2013 - 2014) với mức trung
bình của người việt nam lứa tuổi 17
So sánh thực trạng thể lực của học sinh khối 12 trường THPT Nguyễn
3.15
Trãi với nữ thanh niên Việt Nam năm 2001
Kết quả so sánh Chạy 30 xuất phát cao của nữ học sinh trường THPT
3.16
Nguyễn Trãi với nữ thanh niên Việt Nam năm 2001
Kết quả so sánh chạy con thoi 4x10m của nữ học sinh trường THPT
3.17
Nguyễn Trãi với nữ thanh niên Việt Nam năm 2001
Kết quả so sánh chạy tùy sức 5 phút của nữ học sinh trường THPT
3.18
Nguyễn Trãi với nữ thanh niên Việt Nam năm 2001
Trang
39
Sau 49
54
Sau 55
Sau 55
Sau 55
Sau 55
56
57
58
59
61
62
63
64
ngoài giờ chính khoá đối với học sinh trường THPT Nguyễn Trãi Tỉnh
Đồng Nai
Kết quả phỏng vấn về ưu tiên sử dụng môn thể thao cho tập luyện
ngoài giờ chính khoá đối với học sinh trường THPT Nguyễn Trãi Tỉnh
Đồng Nai
Kết quả điều tra về nhu cầu tập luyện môn thể thao ngoài giờ chính
khoá của học sinh THPT Nguyễn Trãi Tỉnh Đồng Nai
Kết quả khảo sát về công tác giáo dục thể chất và nhu cầu tập luyện
ngoại khoá của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi Tỉnh Đồng Nai
Thực trạng về cơ sở vật chất phục vụ công tác GDTC tại trường
THPT Nguyễn Trãi Tỉnh Đồng Nai
Kết quả điều tra về trình độ học vấn của đội ngũ giáo viên đang dạy môn
thể dục tại trường THPT Nguyễn Trãi Tỉnh Đồng Nai
Kết quả phỏng vấn về việc lựa chọn nội dung tập luyện ngoại khóa
Bóng chuyền cho học sinh trường THPT Nguyễn Trãi tỉnh Đồng Nai
Bảng phân phối thời gian chung của chương trình tập luyện ngoại khóa
môn Bóng chuyền tại trường THPT Nguyễn Trãi tỉnh Đồng Nai
Tiến trình giảng dạy ngoại khóa môn Bóng chuyền cho học sinh
trường THPT Nguyễn Trãi tỉnh Đồng Nai
Kết quả kiểm tra thể lực học sinh trường THPT Nguyễn Trãi trước
thực nghiệm
So sánh kết quả kiểm tra thể lực của nhóm học sinh khối 10 trước và
sau thực nghiệm
So sánh kết quả kiểm tra thể lực của nhóm học sinh khối 11 trước và
sau thực nghiệm
Kết quả so sánh nhịp độ phát triển thể lực của nam học sinh khối 10
trường THPT Nguyễn Trãi với trường THPT Nguyễn Việt Hồng
Kết quả so sánh nhịp độ phát triển thể lực của nữ học sinh khối 10
trường THPT Nguyễn Trãi với trường THPT Nguyễn Việt Hồng
Kết quả so sánh nhịp độ phát triển thể lực của nam học sinh khối 11
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu
TÊN BIỂU ĐỒ
đồ
3.1 So sánh lực bóp tay thuận giữa nam học sinh trường THPT Nguyễn
Trãi với nam thanh niên Việt Nam ( năm 2001)
3.2 So sánh nằm ngửa gập bụng giữa nam học sinh trường THPT
Nguyễn Trãi với nam thanh niên Việt Nam ( năm 2001)
3.3 So sánh bật xa tại chỗ giữa nam học sinh trường THPT Nguyễn
Trãi với nam thanh niên Việt Nam ( năm 2001)
3.4
3.5
3.6
3.7
3.8
So sánh chạy 30m xuất phát cao giữa nam học sinh trường THPT
Nguyễn Trãi với nam thanh niên Việt Nam ( năm 2001)
So sánh chạy con thoi 4x10m giữa nam học sinh trường THPT
Nguyễn Trãi với nam thanh niên Việt Nam ( năm 2001)
So sánh chạy tùy sức 5 phút giữa nam học sinh trường THPT
Nguyễn Trãi với nam thanh niên Việt Nam ( năm 2001)
So sánh lực bóp tay thuận giữa nữ học sinh trường THPT Nguyễn
Trãi với nữ thanh niên Việt Nam ( năm 2001)
So sánh nằm ngửa gập bụng giữa nữ học sinh trường THPT Nguyễn
Trãi với nữ thanh niên Việt Nam ( năm 2001)
Trang
57
58
THPT Nguyễn Trãi và trường THPT Nguyễn Việt Hồng
69
71
Sau 94
4.2
So sánh nhịp độ phát triển thể lực của Nữ học sinh khối 10 trường
THPT Nguyễn Trãi và trường THPT Nguyễn Việt Hồng
Sau 94
4.3
So sánh nhịp độ phát triển thể lực của Nam học sinh khối 11 trường
THPT Nguyễn Trãi và trường THPT Nguyễn Việt Hồng
Sau 94
4.4
So sánh nhịp độ phát triển thể lực của Nữ học sinh khối 11 trường
THPT Nguyễn Trãi và trường THPT Nguyễn Việt Hồng
Sau 94
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Giáo án mẫu
và bồi dưỡng nhân tố con người, góp phần không nhỏ nâng cao thể lực, giáo
dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hoá
và phát huy tinh thần dân tộc của con người Việt Nam, tăng cường và giữ vững
an ninh quốc phòng cho đất nước.
Chỉ thị 36 CT/TW của Ban Bí thư trung ương Đảng về công tác TDTT
trong giai đoạn mới đã có nhận định. Công tác thể dục thể thao đã có tiến bộ,
phong trào thể dục thể thao từng bước được mở rộng với nhiều hình thức, làm
cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của thế hệ trẻ, của học
sinh, sinh viên và thu hút đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia tập luyện nhiều
môn thể thao dân tộc được khôi phục và phát triển; một số môn thể thao đạt
thành tích đáng khích lệ; cơ sở vật chất, kỹ thuật thể dục thể thao ở một số địa
phương và ngành đã được chú ý đầu tư nâng cấp, xây dựng mới. Để đạt được
những tiến bộ đó là do sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, của các ban ngành
đoàn thể, do sự cố gắng của đội ngũ cán bộ, huấn luyện viên, vận động viên và
2
sự tham gia của nhân dân trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới của
Đảng.[1]
Tuy nhiên, thể dục thể thao của nước ta vẫn còn ở trình độ thấp. Số người
thường xuyên tham gia tập luyện thể dục thể thao còn rất ít, đặc biệt là thanh
thiếu niên chưa tích cực tham gia tập luyện. Hiệu quả giáo dục thể chất trong
trường học còn chưa đáp ứng được nhu cầu, lực lượng vận động viên trẻ kế cận
mỏng. Đội ngũ cán bộ thể dục thể thao rất thiếu và yếu về nhiều mặt, cơ sở vật
chất và khoa học kỹ thuật của thể dục thể thao vừa thiếu, vừa lạc hậu, ngay cả
các thành phố lớn, các địa bàn dân cư, các trường học… Nhiều sân bãi, cơ sở
tập luyện bị lấn chiếm, sử dụng vào việc khác. Nguyên nhân của những mặt
hạn chế, yếu kém kể trên chủ yếu là do nhiều cấp uỷ đảng chính quyền chưa
quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đầu tư thích đáng cho công tác thể dục thể thao;
khóa và nâng cao chất lượng công tác giảng dạy chính khóa là một trong những
nhiệm vụ quan trong của GDTC để phát triển các tố chất thể lực và năng lực
vận đông của học sinh
Công tác GDTC đã được các cấp lãnh đạo từ Bộ, sở, phòng giáo dục và
đào tạo, các lãnh đạo nhà trường hết sức quan tâm, thể hiện thường xuyên đổi
mới về sách giáo khoa nâng cao trang thiết bị cơ sở vật chất, dụng cụ, sân tập
và cả đội ngũ giáo viên. Nhiều trường đã được đầu tư cải tạo và xây dựng nhiều
công trình TDTT mới phục vụ tốt cho công tác giảng dạy nội khoá và hoạt động
ngoại khoá cho học sinh…
Nhưng thực tế công tác GDTC và thể thao học đường ở nhiều trường còn
bộc lộ nhiều hạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu mục tiêu giáo dục đào tạo
đã đề ra. Về thực trạng công tác GDTC hiện nay Bộ giáo dục và đào tạo đã
nhận định, chất lượng GDTC còn thấp, giờ dạy còn đơn điệu, thiếu sinh động,
có nội dung lặp đi lặp lại kéo dài cả năm học.
Ở phần quy định chủ yếu là đội hình đội ngũ, điền kinh, thể dục phát triển
chung, thể dục nhịp điệu được giảng dạy từ lớp 6 đến lớp 12 nên có nhiều bài
4
học lặp đi, lặp lại làm giờ học Thể dục trở nên nhàm chán, không phát huy được
niềm say mê và tính tích cực của học sinh
Ở phần thể thao tự chọn thời lượng còn quá ít (20 tiết/70 tiết học trong cả
năm học) nên không đáp ứng được việc truyền đạt kiến thức và kỹ năng vận
động cho các em. Từ đó, học sinh không thích học môn Thể dục, dẫn đến tình
trạng nhiều học sinh trở nên thừa cân, béo phì, và có thể lực kém do thiếu vận
động, đặc biệt là ở các thành phố lớn. Qua nhiều khảo sát ở các trường phổ
thông, phần lớn học sinh thích học các môn thể thao tự chọn: Bơi lội, Bóng đá,
Bóng bàn, Bóng chuyền, Bóng rổ, Vovinam, Cầu lông, Taekwondo .... và các
phong trào rèn luyện ngoại khóa hoạt động hết sức sôi nổi, thu hút nhiều học
Nhằm xây dựng chương trình giảng dạy ngoại khóa môn Bóng chuyền để
phát triển thể chất cho học sinh của trường THPT Nguyễn Trãi tỉnh Đồng Nai.
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Đánh giá thực trạng việc thực hiện giáo dục thể chất và thực trạng thể
lực của học sinh của trường THPT Nguyễn Trãi trước khi tham gia tập luyện
ngoại khóa.
2. Xây dựng chương trình giảng dạy ngoại khóa môn Bóng chuyền cho
học sinh phù hợp với điều kiện của trường THPT Nguyễn Trãi - tỉnh Đồng Nai.
3. Đánh giá hiệu quả của chương trình giảng dạy ngoại khóa môn Bóng
chuyền với sự phát triển thể lực của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi - tỉnh
Đồng Nai
6
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ TDTT TRƯỜNG HỌC
Đối với lĩnh vực TDTT trong đời sống xã hội, Đảng ta và Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã sớm định hướng về quan điểm và mục tiêu phát triển. Sinh thời,
Bác rất quan tâm đến hoạt động TDTT. Sự thật lịch sử đã chứng minh, Bác Hồ
là người đã khai sinh ra Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời Bác cũng là người
khai sinh, người sáng lập nên TDTT cách mạng của nước ta. Ngay từ năm 1941,
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và mặt trận Việt Minh đã nêu những định
hướng lớn đầu tiên về quan điểm, chính sách TDTT của chính quyền cách
mạng. “Chương trình Việt Minh” công bố tháng 10 - 1941 (được bổ chính tháng
3 - 1944) đề cập một hệ thống chính sách của nước Việt Nam mới, trong đó có
hai nội dung về TDTT: Một là, “khuyến khích và giúp đỡ nền thể dục quốc dân,
làm cho nòi giống ngày thêm mạnh”; hai là, “trẻ em được Chính phủ đặc biệt
săn sóc về thể dục, trí dục và đức dục” [25]. Sau Cách mạng tháng Tám năm
niên phải tích cực rèn luyện thể chất “Phải giữ vững đạo đức cách mạng. Phải
xung phong trong mọi công tác. Phải học tập chính trị, văn hoá, nghề nghiệp để
tiến bộ mãi. Phải rèn luyện thân thể cho khoẻ mạnh. Khoẻ mạnh thì mới đủ sức
tham gia một cách dẻo dai, bền bỉ những công việc ích nước lợi dân” [26]
Một trong những yếu tố cơ bản cấu thành chất lượng cao của nguồn nhân
lực là sức khoẻ của mỗi con người. Hồ Chí Minh rất coi trọng sức khoẻ của
nguồn nhân lực này. Để giữ gìn và tăng cường sức khoẻ cho họ, Hồ Chí Minh
khuyên bảo họ tích cực tập TDTT. Người viết “muốn lao động sản xuất tốt,
công tác và học tập tốt thì cần có sức khoẻ. Muốn giữ sức khoẻ thì nên thường
xuyên tập TDTT”. [26]
Thực hiện theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, các nghị quyết Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VI, thứ VII và thứ VIII, IX và X của Đảng đã xác định
những quan điểm cơ bản và chủ trương lớn để chỉ đạo công tác TDTT trong sự
nghiệp đổi mới. Các quan điểm của Đảng về phát triển TDTT là những định
9
hướng cơ bản để xác định vị trí và mối quan hệ của toàn bộ sự nghiệp TDTT
đối với các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội...các mối quan hệ nội tại của TDTT.
Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX trình
bày tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, về thể dục thể thao đã
nêu rõ: “Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người
Việt Nam, tăng cường tuổi thọ, cải thiện chất lượng giống nòi. Tăng cường thể
lực của thanh niên. Phát triển mạnh thể dục thể thao, kết hợp tốt thể thao phong
trào và thể thao thành tích cao, dân tộc và hiện đại. Có chính sách và cơ chế phù
hợp để phát hiện, bồi dưỡng và phát triển tài năng, đưa thể thao nước ta đạt vị
trí cao của khu vực, từng bước tiếp cận với châu lục và thế giới” [12].
Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển thể dục thể thao 5 năm 2006-2010,
Nghị quyết Đại hội Đảng X tiếp tục khẳng định: “Đẩy mạnh các hoạt động thể
đảm bảo,…nên đã đề ra một số giải pháp cho công tác GDTC ở tất cả các trường
các cấp, điều đó được thể hiện trong Chỉ thị 36 của Ban chấp hành Trung ương
Đảng: “Hiệu quả giáo dục thể chất trong các nhà trường còn thấp, hai ngành
giáo dục – đào tạo và thể chất thể thao phối hợp chỉ đạo cải tiến chương trình
giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên thể dục thể thao
cho trường học các cấp, tạo điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện
chế độ GDTC ở tất cả các trường học” [1].
Thông tư liên tịch số 34/2005/TTLT-BGDĐT-UBTDTT của Bộ Giáo
dục và Đào tạo, Ủy ban Thể dục thể thao về việc Hướng dẫn phối hợp quản lý
và chỉ đạo công tác thể dục thể thao trường học giai đoạn 2006 – 2010 cũng đã
nêu rõ quan điểm về TDTT: “1. Thể dục thể thao trường học là bộ phận đặc
biệt quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe và thể lực, bồi dưỡng phẩm chất
đạo đức, ý chí, giáo dục nhân cách cho học sinh, sinh viên góp phần đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thể dục thể thao trường học
là môi trường thuận lợi và giàu tiềm năng để phát hiện và bồi dưỡng tài năng
thể thao cho đất nước. [4]
11
2. Phát triển giáo dục Thể dục thể thao trường học theo hướng đổi mới
và nâng cao chất lượng giờ học thể dục nội khóa, đa dạng hóa các hình thức
hoạt động ngoại khóa, đồng thời tổ chức chặt chẽ việc kiểm tra tiêu chuẩn rèn
luyện thân thể đối với người học.” [4]
Sau 7 năm thực hiện chỉ thị số 17-CT/TW về phát triển TDTT đến năm
2010 được Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá IX) ký ban hành ngày
23/10/2002. TDTT nước ta đã có những bước tiến bộ rõ nét, nhiều nội dung
của Chỉ thị đã đi vào cuộc sống, góp phần tích cực vào thành tựu chung của
công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế-xã hội. Chỉ thị không chỉ tác động đến
việc nâng cao sức khoẻ của nhân dân mà còn rèn luyện ý chí, nhân cách, tinh
bộ sự nghiệp TDTT nói chung. Nó được hình thành trên những quan điểm đúng
đắn của Đảng và Nhà nước và được tiến hành phù hợp với đặc điểm về giải phẩu,
tâm – sinh lí, giới tính của học sinh và các yêu cầu khác. Chính nhờ sự quan tâm
của Đảng và Nhà nước cùng với sự cố gắng chung của toàn ngành giáo dục và
đào tạo từ trung ương đến địa phương, công tác GDTC và TDTT trường học đã
có những bước phát triển đáng ghi nhận và khích lệ, góp phần quan trọng trong
đào tạo nguồn nhân lực mới hùng hậu phục vụ cho công cuộc đổi mới, công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Đảng ta cũng đã chỉ rõ: “…không có thể chất
cường tráng, học sinh khó hoàn thành nhiệm vụ học tập và khó phát huy tác dụng
của mình trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá …”. [11]
Công tác GDTC và TDTT trường học có vai trò rất quan trọng trong việc
rèn luyện học sinh về thể lực để nâng cao sức khoẻ với mục tiêu "Khỏe để học
tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc", "Khỏe để chinh phục đỉnh cao tri thức". Chính
vì vậy, Bộ Giáo dục và Đào tạo ngay từ những thời kỳ đầu đã ban hành chương
trình học tập và giảng dạy môn học Thể dục ở cấp trung học. Song song với đó
thì vào đầu mỗi năm học Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng có những công văn nhằm
hướng dẫn thực hiện công tác học sinh, sinh viên trong từng năm học.
13
1.2.1.1. Giảng dạy nội khoá:
Công tác giảng dạy: Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các trường phải đảm
bảo dạy đúng, đủ, có chất lượng giờ học thể dục theo chương trình môn học đã
được Bộ ban hành. Thông qua giảng dạy môn Thể dục, giáo dục cho học sinh
những kiến thức, kĩ năng thực hành, kĩ năng sống, tạo thói quen tập luyện thể
dục thể thao, tự chăm sóc sức khoẻ, tăng cường rèn luyện thể dục thể thao tránh
xa các tệ nạn xã hội. Phần tự chọn là nội dung bắt buộc phải dạy cho học sinh,
nhà trường căn cứ vào số tiết quy định, điều kiện sân bãi, trang thiết bị, đội ngũ
giáo viên để tổ chức giảng dạy cho thích hợp và thực hiện trong suốt cả cấp
ngoại khoá có hướng dẫn của giáo viên theo quy định để học sinh được tập
luyện, thực hành những kiến thức đã học trong giờ nội khoá và luyện tập các
môn thể thao tự chọn. Các câu lạc bộ này cũng đã thu hút được một bộ phận
học sinh tham gia. Tuy nhiên số lượng học sinh tham gia vào các câu lạc bộ thể
dục thể thao này là không nhiều so với tổng thể số lượng học sinh của các
trường. Đa phần hoạt động TDTT ngoại khoá của các trường chỉ dừng lại ở
mức tổ chức được các giải thi đấu cấp trường và bồi dưỡng đội tuyển tham gia
các giải thi đấu cấp thành phố (tỉnh), quận (huyện), cấp ngành,… tổ chức.
Nhiều hoạt động phong trào TDTT ngoại khoá chỉ mang tính hình thức,
phong trào, không có tính chất lâu dài, diễn ra trong khoảng thời gian ngắn.
Nên chưa có ý nghĩa về mặt rèn luyện và nâng cao thể lực.
1.2.2. Mục đích và nhiệm vụ của GDTC và thể thao trường học trong
trường phổ thông.
1.2.2.1. Mục đích:
Giáo dục thể chất mang lại cho thế hệ trẻ cuộc sống vui tươi, lành mạnh
và tác động mạnh mẽ đến các mặt giáo dục khác như giáo dục đạo đức, trí tuệ,
lao động, thẩm mĩ. Cho nên, mục đích của GDTC trong nhà trường phổ thông
15
là nhằm thực hiện mục đích chung của hệ thống TDTT Việt Nam, góp phần
đào tạo thế hệ thanh thiếu niên thành người “phát triển cao về trí tuệ, cường
tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”. Mục đích
này của GDTC vừa mang tính nhân văn vừa mang tính hiện thực.
Giáo dục thể chất là một trong mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng và
Nhà nước ta và nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục thể chất nhằm
mục tiêu là “giáo dục, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ, phát triển thể chất góp
phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện
cho học sinh” [3]. Ở cấp THPT môn học giáo dục thể chất nhằm giúp học sinh
bản; nâng cao khả năng làm việc về trí óc và thể lực.
Trên cơ sở phát triển thể chất toàn diện, tổ chức hoạt động vui chơi lành
mạnh, nghỉ ngơi tích cực, rèn luyện và nâng cao khả năng chịu đựng và sức đề
kháng của cơ thể đối với các ảnh hưởng không có lợi của ngoại cảnh và phòng
chống bệnh tật.
Yêu cầu và mức độ thực hiện các nhiệm vụ trên phụ thuộc vào lứa tuổi ở
mỗi cấp. Đối với lứa tuổi nhỏ, sự tác động của các bài tập thể chất đến các cơ
quan vận động mang tính chất phát triển chung, toàn diện. Cần chú ý đến tính
dễ biến dạng của các xương và tính đàn hồi của các cơ. Chú ý phát triển các
nhóm cơ lớn và đảm bảo sự phát triển toàn diện các tố chất thể lực, đặc biệt là
năng lực phối hợp vận động và phản ứng tốc độ. Giữ đúng và uốn nắn các tư
thế đi, đứng, ngồi… của các em. Đối với học sinh lứa tuổi thiếu niên, lứa tuổi
đang lớn nhanh, nhưng mất cân đối về nhiều mặt, phát triển không đồng đều
giữ nam và nữ thì cần đảm bảo sự tác động toàn diện đến các nhóm cơ, ưu tiên
phát triển tốc độ, sức mạnh-tốc độ, sức bền với cường độ nhỏ, độ linh hoạt của
các khớp, khả năng thả lỏng của các cơ bắp và phối hợp vận động. Chú ý phát
triển hệ hô hấp và phân biệt lượng vận động giữa nam và nữ. Tiếp tục củng cố
các tư thế đúng đắn, đề phòng cong vẹo cột sống và các tật về tư thế. Đối với
học sinh THPT, tạo mọi khả năng phát triển toàn diện các phẩm chất vận động