Thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN HẢI VÂN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÁI CƠ CẤU
NGÀNH NÔNG NGHIỆP Ở THỊ XÃ ĐIỆN BÀN,
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN HẢI VÂN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÁI CƠ CẤU
NGÀNH NÔNG NGHIỆP Ở THỊ XÃ ĐIỆN BÀN,
TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số

: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHÍ VĨNH TƯỜNG


2.3. Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở thị xã
Điện Bàn và những vấn đề trong thực hiện chính sách.............................................47
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP TĂNG
CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG
NGHIỆP ...................................................................................................................53
3.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước .........................................................................53
3.2. Quan điểm, định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Nam và cơ
cấu nông nghiệp Thị xã Điện Bàn .............................................................................54
3.3. Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở
thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến .............................................60
KẾT LUẬN ..............................................................................................................67
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BVTV

:

Bảo vệ thực vật

CNH, HĐH

:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

DNNN


:

Hợp tác xã

KH&CN

:

Khoa học và Công nghệ

KH-KT

:

Khoa học – Kỹ thuật

KT – XH

:

Kinh tế - Xã hội

KCHKM

:

Kiên cố hóa kênh mương

MTQG



Số hiệu

Tên Bảng

Bảng

Trang

2.1

Tổng hợp kết quả trồng trọt giai đoạn 2013-2018

30

2.2

Tổng hợp kết quả chăn nuôi giai đoạn 2013-2018

31

2.3

Tổng hợp kết quả nuôi trồng và đánh bắt thủy sản giai đoạn

32

2013-2018

2.4

lực đầu tư nên ngành nông nghiệp thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam đạt được
những kết quả tích cực. Cơ cấu ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hướng sản
xuất hàng hóa, duy trì được mức tăng trưởng khá ổn định và hợp lý (bình quân 5
năm qua là 3,01% [15,tr.27]), nhiều mô hình sản xuất có giá trị kinh tế cao, thu

1


nhập người nông dân ngày càng được nâng lên, hộ nghèo giảm mạnh, góp phần vào
quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thị xã. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân
ngành nông nghiệp còn bộc lộ nhiều hạn chế: hoạt động sản xuất nhỏ lẻ, suy giảm
thâm canh; mô hình sản xuất có hiệu quả chưa được nhân rộng; chất lượng và sức
cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp chưa cao; thu nhập từ nông nghiệp thấp và
không đảm bảo so với thu nhập từ các ngành khác; tình trạng “được mùa mất giá được giá mất mùa” là phổ biến; tình trạng bỏ hoang đất sản xuất ngày càng nhiều,
do đa số người nông dân sản xuất quảng canh hoặc giữ đất vì mục đích chờ bồi
thường khi Nhà nước thu hồi trong quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
Trong bối cảnh chung của nền nông nghiệp Việt Nam và của thị xã Điện Bàn,
tỉnh Quảng Nam, đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị
gia tăng và phát triển bền vững đã được ban hành (Quyết định số 899/QĐ-TTg,
ngày 10/ 6/ 2013 của Thủ Tướng Chính phủ). UBND thị xã Điện Bàn đã phê duyệt
Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát
triển bền vững của thị xã Điện Bàn giai đoạn 2015-2020 (Quyết định số 909/QĐUBND, ngày 04/02/2016). Cũng như các địa phương khác trong cả nước, thị xã
Điện Bàn phải đối mặt với những thách thức khi thực hiện chính sách tái cơ cấu
ngành nông nghiệp đó là: đại đa số lao động nông nghiệp nông thôn chưa được đào
tạo, thu nhập từ nông nghiệp rất thấp; đất đai manh mún, sản xuất nhỏ lẽ, chậm thực
hiện việc gia hạn quyền sử dụng đất nông nghiệp theo Luật đất đai 2013, qui hoạch
sử dụng đất luôn biến động, không ổn định; độ rủi ro trong sản xuất nông nghiệp là
rất cao như tình hình thiên tai bão lũ hàng năm, dịch hại trên cây trồng, con vật
nuôi, thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp làm ra không ổn định...
Bối cảnh đó đòi hỏi sự cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu, dựa trên cơ sở lý

- Tác giả Lưu Văn Sùng trong cuốn sách Một số kinh nghiệm điển hình về phát
triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội (2004), đã phân tích thực trạng nền nông nghiệp, nông thôn
Việt Nam và chỉ rõ đa số dân cư sống bằng nghề nông còn gặp nhiều khó khăn cả
vật chất, tinh thần. Vì thế, trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước cần đặc biệt quan
tâm vấn đề CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. [24]
- Tác giả Nguyễn Từ với cuốn sách Tác động của Hội nhập kinh tế Quốc tế
đối với phát triển nông nghiệp của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

3


(2008), đã khái quát một số vấn đề về hội nhập kinh tế quốc tế; các hiệp định
thương mại khu vực và toàn cầu liên quan đến nông nghiệp nói chung và đến ngành
nông nghiệp Việt Nam nói riêng, những ảnh hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế đến
phát triển kinh tế nông nghiệp Việt Nam trong thời gian qua, và kiến nghị một số
giải pháp góp phần phát triển nền nông nghiệp Việt Nam. [27]
- Tác giả Đặng Kim Sơn trong cuốn Tái cơ cấu nền nông nghiệp Việt Nam
theo hướng giá trị tăng cao, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2012. Cuốn sách đã
làm rõ những đóng góp của nông nghiệp Việt Nam cho quá trình đổi mới và công
nghiệp hóa thời gian qua, kinh nghiệm của quốc tế về phát triển nông nghiệp giá trị
cao và một số mô hình tổ chức sản xuất thành công trong nước; chỉ ra những thách
thức, khó khăn của nông nghiệp Việt Nam hiện tại và tương lai. Trên cơ sở đó, đề
xuất quan điểm, định hướng, nội dung tái cấu trúc ngành, vùng trong nông nghiệp
nhằm nâng cao giá trị gia tăng và các giải pháp chiến lược. [22]
- Tác giả Hoàng Thị Chính với bài viết Để nông nghiệp phát triển bền vững,
Tạp chí Phát triển kinh tế số tháng 6-2010, đã nhấn mạnh Nông nghiệp Việt Nam
muốn phát triển bền vững, cần phải có những thay đổi căn bản cả trong tư duy lẫn
hành động. Bài viết của tác giả cũng đưa ra một số giải pháp góp phần phát triển
nông nghiệp bền vững hơn. [2]

3889.vgp. Trên cơ sở tập trung phân tích những khó khăn, rào cản trong sản xuất
nông nghiệp nước ta hiện nay. Tác giả đưa ra kiến nghị: muốn gỡ nút thắt của mọi
nút thắt trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp là Chính phủ phải tập trung giúp đỡ, tạo
mọi điều kiện để hợp tác xã củng cố và phát triển. [30]
- Bài “Nông nghiệp Việt Nam: những thách thức và một số định hướng cho
phát triển bền vững” của Đỗ Kim Chung và Kim Thị Dung, Tạp chí Kinh tế và Phát
triển số 196 (10/2013). Tác giả đã tập trung luận giải một số thành tựu và thách thức
đặt ra cho nước ta khi tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn. Từ đó, tác giả đưa ra những quan điểm và định hướng cho phát triển nông
nghiệp bền vững, đáng chú ý trong định hướng phát triển các tác giả nhấn mạnh
đến: chiến lược quy hoạch nông nghiệp dài hạn, bảo tồn quỹ đất nông nghiệp, tăng
cường đầu tư cho nông nghiệp và thu hút mạnh hơn đầu tư của toàn xã hội vào nông
nghiệp, nông thôn; gắn phát triển nông nghiệp với bảo vệ môi trường. [3]

5


Các công trình, bài viết nghiên cứu nêu trên góp phần làm rõ nhiều vấn đề lý
luận và thực tiễn phát triển nông nghiệp ở nước ta. Đây cũng là những lý luận cơ
bản về nông nghiệp, phát triển nông nghiệp, các tác giả đã đi sâu phân tích, đánh giá
thực trạng nền nông nghiệp nước ta, qua đó đề xuất nhiều giải pháp quan trọng góp
phần phát triển nông nghiệp Việt Nam theo hướng bền vững trong những năm tới.
Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào được công bố đề
cập về thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở thị xã Điện Bàn, tỉnh
Quảng Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ vấn đề lý luận của chính sách tái cơ cấu nông nghiệp, tình
hình thực tiễn và những kinh nghiệm trong thực hiện chính sách tái cơ cấu nông
nghiệp, qua đó tham gia các giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách này

cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học. Cụ thể là phương pháp tiếp cận chu
trình chính sách, từ hoạch định - xây dựng - thực hiện - đánh giá chính sách theo
giáo trình do các Giảng viên ở Học Viện khoa học xã hội Việt Nam giảng dạy.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, với các công cụ phân
tích thống kê và phân tích SWOT.
Để giải quyết vấn đề của đề tài luận văn, chương 1 sẽ sử dụng phương pháp
nghiên cứu tại bàn, với mục tiêu hệ thống một số vấn đề lý luận về tái cơ cấu ngành
nông nghiệp, chính sách và thực hiện chính sách tái cơ cấu, làm rõ những tiêu chí đánh
giá cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách.
Đối với chương 2, luận văn sử dụng phương pháp phân tích thống kê để làm rõ
các kết quả đã đạt được cũng như các vấn đề của quá trình thực hiện chính sách. Để
giải quyết nhiệm vụ của chương này, luận văn sẽ thu thập các số liệu, bao gồm:
+ Số liệu thứ cấp là: các số liệu về chính sách tái cơ cấu nông nghiệp của các
bộ, ngành Trung ương và của tỉnh Quảng Nam.
+ Các văn bản quy định về vấn đề tái cơ cấu nông nghiệp ở Việt Nam được
ban hành trong các Nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước.
+ Số liệu sơ cấp: tự thu thập qua điều tra thực tế tại 20 xã, phường trên địa
bàn thị xã và các ngành chức năng của thị xã Điện Bàn.

7


Luận văn cũng áp dụng phương pháp phân tích SWOT. Và để triển khai
phương pháp này, nội dung chương 2 đề cập đến các điểm mạnh (S) và điểm yếu
(W) (từ kết quả phân tích thực trạng).
Đối với chương 3, luận văn tiếp tục sử dụng phương pháp phân tích SWOT.
Thông qua nội dung bối cảnh phát triển, luận văn nêu bật các cơ hội (O) và thách
thức (T) trong quá trình thực thi chính sách tái cơ cấu nông nghiệp thị xã Điện
Bàn, tỉnh Quảng Nam.

1.1.1. Cơ cấu ngành nông nghiệp và tái cơ cấu ngành nông nghiệp
1.1.1.1. Nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, sử dụng đất đai (mặt
nước) để trồng trọt và chăn nuôi, tạo ra lương thực thực phẩm và nguyên liệu cho công
nghiệp. Nông nghiệp bao gồm: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản.[28,tr.3]
Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính:
- Nông nghiệp thuần nông có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục
vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân, không có sự cơ giới hóa.
- Nông nghiệp chuyên sâu với tính chất chuyên môn hóa, cơ giới hóa trong tất
cả các khâu trong quá trình sản xuất ( trồng trọt, chăn nuôi và chế biến sản phẩm
nông nghiệp).
1.1.1.2. Cơ cấu ngành Nông nghiệp
Cơ cấu ngành nông nghiệp là mối quan hệ tỷ lệ về số lượng và giá trị giữa
các chuyên ngành, tiểu ngành bộ phận. Nói cách khác, cơ cấu ngành nông nghiệp
phản ánh quan hệ tỷ lệ về giá trị sản lượng, quy mô sử dụng đất của các chuyên
ngành, tiểu ngành cấu thành nên ngành nông nghiệp. Trong cơ cấu ngành nông
nghiệp, các chuyên ngành, tiểu ngành có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ
nhau phát triển trong phạm vi về không gian, thời gian và trên cơ sở điều kiện hạ
tầng KT-XH ở từng nơi.
Cơ cấu ngành nông nghiệp là kết quả của quá trình phát triển về số lượng,
chất lượng ngành nông nghiệp trong khoảng thời gian nào đó, vì vậy nó luôn luôn
biến đổi không ngừng theo sự phát triển của các chuyên ngành, tiểu ngành tạo nên
cơ cấu toàn ngành. Đó là sự thay đổi tất yếu về tỷ lệ giữa các chuyên ngành: trồng
trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản; thay đổi về số lượng, loại hình quy mô các

9


chủ thể tham gia sản xuất kinh doanh trong các chuyên ngành, tiểu ngành; thay đổi
về mối quan hệ giữa nông nghiệp với các ngành kinh tế khác như: công nghiệp và


giống mới, xây dựng cánh đồng mẫu.... Và thực tế là, năng suất, sản lượng cây
trồng, vật nuôi có tăng, kéo theo năng suất lao động tăng lên, để tăng năng suất lao
động của khu vực nông nghiệp, nhất là khi ngành nông nghiệp chịu ảnh hưởng khó
lường của biến đổi khí hậu, sự đỏng đảnh của thị trường thì việc chuyển nhiều diện
tích trồng lúa kém hiệu quả sang các loại cây trồng cạn hay nuôi thủy sản là hướng
đi đúng. Tuy nhiên, với quy mô sản xuất chưa đủ lớn và chưa có sự tham gia của
doanh nghiệp thì năng suất lao động cụ thể chỉ tăng ở mức độ thấp và đặc biệt là
chuyển dịch lao động nông nghiệp sang các lĩnh vực khác cũng không thể cao. Vì
vậy, cần quan tâm đến tích tụ ruộng đất, tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia vào
chuỗi sản xuất nông nghiệp gắn với mở rộng đô thị thì mới có thể giảm lao động
nông nghiệp, và khi đó mới có thể tăng năng suất lao động. Điều này sẽ gây ảnh
hưởng rất lớn đến nâng cao năng suất lao động không những của ngành nông
nghiệp mà còn góp phần quan trọng tăng năng suất lao động của cả nền kinh tế.
1.1.2.2. Tái cơ cấu nông nghiệp hình thành các chuỗi giá trị ngành nông sản
Trong tái cơ cấu nông nghiệp, sự cần thiết của đầu tư vào công nghiệp chế
biến nông sản và muốn phát triển được phải dựa vào doanh nghiệp, trong đó đặc
biệt là khu vực tư nhân. Với quan điểm lấy thị trường là xuất phát điểm thúc đẩy,
điều chỉnh phân bổ nguồn lực sản xuất trong ngành, khuyến khích các doanh nghiệp
tham gia đầu tư sâu hơn trong các phân khúc có giá trị gia tăng cao như chế biến,
thương mại trong chuỗi giá trị hàng hóa nông sản. Quá trình tái cơ cấu ngành nông
nghiệp cần có sự tham gia của các thành phần kinh tế trong xã hội, trong đó doanh
nghiệp đóng vai trò “động lực” kết nối sản xuất, chế biến với thị trường, Nhà nước
có chính sách hỗ trợ mạnh mẽ tạo môi trường đầu tư lành mạnh, thuận lợi. Phát
triển công nghiệp chế biến cũng đồng nghĩa với khuyến khích các doanh nghiệp,
nhất là những khu vực doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Thúc
đẩy công nghiệp chế biến cũng đồng nghĩa tạo môi trường đầu tư thuận lợi để các
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp.
1.1.2.3.Tái cơ cấu nông nghiệp góp phần hình thành và phát triển sản phẩm
nông sản phục vụ du lịch

quá trình nghiên cứu chính sách, chúng ta có thể tham khảo một số cách tiếp cận để
phân tích nhằm hướng đến một khái niệm chung nhất về chính sách công.
- Theo quan điểm Pal cho rằng "Chính sách là một chuỗi hành động hoặc

12


không hành động được lựa chọn bởi chính quyền nhằm chỉ ra một vấn đề cụ thể hay
một loạt vấn đề có liên hệ lẫn nhau” [8,tr.3];
- Hay quan điểm của Thomas R. Dye thì nhấn mạnh vai trò của Chính phủ
thông qua các quyết định của mình, và cho rằng “Chính sách công là cái mà Chính
phủ lựa chọn làm hay không làm” [8,tr.4].
- Trong từ điển Bách khoa Việt Nam, khi đề cập đến chính sách, có đưa ra
khái niệm như sau: "Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối,
nhiệm vụ. Nó được thực hiện trong một thời gian nhất định, được tiến hành trên
những lĩnh vực cụ thể nào đó, và phụ thuộc vào tính chất của đường lối, và yêu cầu
nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội…".[8,tr.6]
Tuy nhiên, vẫn còn sự giao thoa trong quan niệm về Quyết sách chính trị của
Đảng (Cương lĩnh, Nghị quyết) với quan niệm Chính sách về phương diện nội
dung, cũng như chủ thể ban hành. Có thể hiểu: chính sách là các chủ trương, biện
pháp của đảng cầm quyền, được nhà nước cụ thể hóa thông qua việc ban hành các
chương trình hành động để giải quyết các vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội.
Tóm lại, từ các khái niệm trên chúng ta có thể đi đến một khái niệm chung
nhất về chính sách công như sau: “Chính sách công là tổng thể các chương trình
hành động của chủ thể nắm quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề có tính
cộng đồng trên các lĩnh vực đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt
được các mục tiêu đề ra”. PGS-TS Hồ Việt Hạnh.[25]
1.1.3.2. Vai trò của chính sách đối với tái cơ cấu ngành nông nghiệp
Các chính sách được ban hành và nguồn lực cho phát triển nông nghiệp, nông
thôn chính là đòn bẩy quan trọng tạo ra những biến tích cực thúc đẩy ngành nông

trợ cho quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp diễn ra nhanh và bền vững hơn.
Thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp
Thông qua cơ chế hỗ trợ chủ yếu (môi trường đầu tư, thủ tục hành chính).
Trong đó, ưu tiên tạo thuận lợi nhất để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông
nghiệp, nông thôn như khuyến khích bằng cơ chế ưu đãi (đất đai, thuế…) và các
chính sách hỗ trợ khác.... , thu hút được làn sóng đầu tư mạnh mẽ của doanh nghiệp
vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Đặc biệt, chính sách hỗ trợ trực tiếp cho
doanh nghiệp nghiên cứu khoa học, mua sắm chuyển giao công nghệ để đưa vào sản
xuất; khuyến khích các doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, chuyển giao và ứng

14


dụng công nghệ cao nhằm tạo đột phá về năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi,
nâng cao khả năng cạnh tranh, hiệu quả của ngành, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển
khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, doanh nghiệp tham gia theo chuỗi
sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm.
1.1.3.3. Nội dung chính sách tái cơ cấu ngành Nông nghiệp
Chính sách tái cơ cấu ngành Nông nghiệp bao gồm các nội dung về thực hiện
chính sách tái cơ cấu ngành trồng trọt, chính sách tái cơ cấu ngành chăn nuôi và
chính sách tái cơ cấu ngành thủy sản.
Chính sách tái cơ cấu ngành trồng trọt hướng đến phát triển sản xuất theo qui
mô để tăng năng suất, sản lượng dựa trên ứng dụng KH-CN gắn với hình thành
chuỗi giá trị hàng nông sản ngay từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản và tiêu thụ.
Chính sách tái cơ cấu ngành chăn nuôi theo hướng công nghiệp, khuyến
khích chăn nuôi tập trung, tổ chức sản xuất khép kín từ khâu giống, thức ăn, chế
biến nhằm giảm chi phí, phòng chống dịch bệnh, tăng năng suất và tính hiệu quả.
Chính sách tái cơ cấu ngành thủy sản hướng đến khai thác hiệu quả sản xuất
nuôi trồng trên các loại mặt nước (mặn, lợ, ngọt) đồng thời tăng cường đầu tư tàu
thuyền, trang thiết bị phục vụ đánh bắt, khai thác xa bờ.

chung sở hữu các tài sản cũng như kết quả sản xuất kinh doanh của họ; chủ hộ cũng
là người lao động trực tiếp, tùy vào điều kiện cụ thể, họ có thể thuê thêm lao
động; quy mô sản xuất của kinh tế hộ gia đình thường nhỏ, vốn đầu tư ít; sản xuất
của kinh tế hộ còn mang nặng tính tự cung, tự cấp, hướng tới mục đích đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng trực tiếp của hộ là chủ yếu.
Sản xuất hộ kinh doanh chủ yếu sử dụng sức lao động thủ công và công cụ
lao động truyền thống nên năng suất lao động thấp, khả năng quản lý của chủ hộ rất
hạn chế, chủ yếu là theo kinh nghiệm được truyền lại. Từ đó dẫn đến nhận thức của
chủ hộ về pháp luật, về kinh doanh, cũng như kinh tế thị trường rất hạn chế.
1.2.2.2. Trang trại
Trang trại phải hiểu đầy đủ là kinh tế trang trại, hoặc kinh tế của chủ trang
trại - đơn vị kinh doanh cơ sở trực tiếp sản xuất trồng trọt trên đồng ruộng và chăn
nuôi trong chuồng trại. Đó là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm
và thủy sản với mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, có quy mô ruộng đất và các
yếu tố sản xuất đủ lớn, có trình độ kỹ thuật cao, tổ chức và quản lý tiến bộ.

16


Đặc trưng của trang trại: trang trại là một đơn vị kinh tế nông, lâm, ngư
nghiệp; mục đích chủ yếu của trang trại là kinh doanh nông sản phẩm hàng hoá theo
nhu cầu thị trường; trong trang trại, các yếu tố sản xuất trước hết là ruộng đất và
vốn được tập trung tới quy mô nhất định theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá;
lao động trong các trang trại chủ yếu là dựa trên các thành viên trong hộ, ngoài ra
có thuê mướn lao động.
Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp chủ yếu của nền kinh tế
sản xuất hàng hóa, trang trại có vai trò quan trọng trong việc sản xuất lương thực,
thực phẩm cung cấp cho nhu cầu to lớn của xã hội, phát triển kinh tế trang trại góp
phần tích cực vào phát triển các loại cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao, khắc
phục tình trạng sản xuất phân tán, manh mún. Phát triển trang trại gắn liền với việc

Nông trường quốc doanh với nhiệm vụ chủ yếu là khai hoang, mở hóa, phát
triển diện tích canh tác phục vụ quá trình sản xuất hàng hoá nông – lâm sản để cung
cấp cho thị trường. Ngoài ra còn kết hợp với nhiệm vụ đảm bảo an ninh, quốc
phòng ở vùng sâu, vùng xa, vùng xung yếu. Các nông trường đóng vai trò thúc đẩy
hình thành các khu dân cư tập trung, và làm tăng dân số cơ học tại nơi đóng chân.
Do đó, ta thấy nông trường không chỉ là đơn vị kinh tế, mà còn mang dáng dấp một
đơn vị hành chính khá cá biệt. Trong quá trình phát triển, cùng với những thay đổi
về cơ chế quản lý kinh tế, các nông trường quốc doanh đã phát huy khá tốt vai trò
của mình, góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh - quốc
phòng ở những vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thời kỳ nền kinh tế
còn mang nặng cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nông trường quốc doanh đã đảm
nhận khá tốt vai trò doanh nghiệp Nhà nước, một mặt sản xuất kinh doanh tạo ra
của cải vật chất cho xã hội, mang lại ích kinh tế cho Nhà nước và quan trọng hơn
nhất nông trường đã thực sự là công cụ giúp Nhà nước thực hiện mục tiêu phát triển
kinh tế, xã hội, hạ tầng cơ sở, bảo đảm an ninh xã hội ở các vùng sâu vùng xa, miền
núi hải đảo, vùng dân tộc ít người.
1.3. Các tiêu chí đánh giá và chỉ tiêu đo lường cơ cấu nông nghiệp
1.3.1. Tiêu chí 1: Cơ cấu ngành sản phẩm
Phản ánh qua tỷ trọng cây, con, giá trị của ngành sản phẩm trong tổng giá trị
sản xuất nông nghiệp
- Cơ cấu ngành sản phẩm trong nông nghiệp được hiểu là tương quan về

18


GTSX giữa các bộ phận (nông nghiệp – lâm nghiệp – ngư nghiệp) trong tổng thể
hoạt động kinh tế nông nghiệp, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và tác động qua lại cả
về số lượng và chất lượng giữa các bộ phận đó với nhau. Nếu các thước đo về tăng
trưởng (GTSX, GDP) phản ánh sự thay đổi về lượng thì xu thế chuyển dịch cơ cấu
thể hiện những chuyển biến về chất trong quá trình phát triển của ngành nông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status