VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN HẢI VÂN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÁI CƠ CẤU
NGÀNH NÔNG NGHIỆP Ở THỊ XÃ ĐIỆN BÀN,
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN HẢI VÂN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÁI CƠ CẤU
NGÀNH NÔNG NGHIỆP Ở THỊ XÃ ĐIỆN BÀN,
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
:8340402
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHÍ VĨNH TƯỜNG
2.3. Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở thị xã
Điện Bàn và những vấn đề trong thực hiện chính sách...........................................47
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP TĂNG
CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG
NGHIỆP................................................................................................................. 53
3.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước........................................................................ 53
3.2. Quan điểm, định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Nam và cơ
cấu nông nghiệp Thị xã Điện Bàn........................................................................... 54
3.3. Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở
thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến............................................ 60
KẾT LUẬN............................................................................................................ 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO
BVTV
CNH, HĐH
DNNN
GTNĐ
GTSX
GDP
HĐND
HTX
KH&CN
KH-KT
KT–XH
KCHKM
MTQG
NN&PTNT
NTM
TLHĐM
hiện đại, nông nghiệp duy trì tăng trưởng và đang chuyển mạnh theo hướng sản xuất
hàng hóa, với quy mô, năng suất, sản lượng ngày càng cao, nông sản Việt Nam hiện
có mặt tại phần lớn quốc gia và vùng lãnh thổ, đóng góp tỷ trọng khá cao trong
GDP và kim ngạch xuất khẩu cho đất nước. Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn chưa
tương xứng với tiềm năng, lợi thế của khu vực nông nghiệp, nông thôn và chưa
đồng đều giữa các vùng miền. Bên cạnh đó, đời sống vật chất và tinh thần của người
nông dân còn gặp vô vàng khó khăn, môi trường ô nhiễm, thiên tai, dịch hại hoành
hành. Vì vậy, vấn đề tái cơ cấu đề ngành nông nghiệp phát triển bền vững nhất là
trong điều kiện hội nhập và tác động của cuộc Cách mạng 4.0 là mục tiêu quan
trọng mà ngành nông nghiệp Việt Nam hướng tới.
Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định: “ Đẩy nhanh cơ cấu lại ngành nông
nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp sinh thái phát triển toàn diện cả về nông, lâm,
ngư nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và tổ
chức lại sản xuất, thúc đẩy ứng dụng sâu rộng khoa học - công nghệ, nhất là công
nghệ sinh học, công nghệ thông tin vào sản xuất, quản lý nông nghiệp và đẩy nhanh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn để tăng năng suất, chất
lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia
cả trước mắt và lâu dài; nâng cao thu nhập và đời sống của nông dân”.[5, tr.93]
Thời gian qua, cùng với quá trình đổi mới của đất nước, phát huy tiềm năng,
lợi thế về điều kiện vị trí địa lý, tự nhiên, kinh tế-xã hội và tranh thủ nhiều nguồn
lực đầu tư nên ngành nông nghiệp thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam đạt được
những kết quả tích cực. Cơ cấu ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hướng sản
xuất hàng hóa, duy trì được mức tăng trưởng khá ổn định và hợp lý (bình quân 5
năm qua là 3,01% [15,tr.27]), nhiều mô hình sản xuất có giá trị kinh tế cao, thu
1
nhập người nông dân ngày càng được nâng lên, hộ nghèo giảm mạnh, góp phần vào
quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thị xã. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân
chuyên ngành Chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn
xác định nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí đặc biệt quan trọng. Chính sách
tái cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững
gắn với phát triển kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới cần được đẩy mạnh
để nâng cao thu nhập của nông dân và phát triển kinh tế đất nước. Đây là vấn đề vừa
cấp bách, vừa lâu dài.
Nghị quyết đại hội XII của Đảng ta đã chủ trương chú trọng đầu tư vùng trọng
điểm sản xuất nông nghiệp, đẩy mạnh tích tụ, tập trung ruộng đất, thu hút các nguồn
lực đầu tư cho nông nghiệp, hình thành các tổ hợp nông nghiệp - công nghiệp - dịch
vụ công nghệ cao, đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, thu hẹp khoảng cách và
tăng cường kết nối nông thôn - đô thị, phát huy vai trò chủ thể của hộ nông dân và
kinh tế hộ cùng vai trò quan trọng của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động
hợp tác xã và các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất, gắn kết chặt chẽ quá
trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ đối với nông sản.
Đến thời điểm hiện nay, qua tìm hiểu những công trình nghiên cứu liên quan
đến chính sách tái cơ cấu nông nghiệp vẫn còn khá khiêm tốn, trong khi có rất nhiều
công trình nghiên cứu về xây dựng nông thôn mới và phát triển nông nghiệp bền
vững. Trong đó, có thể kể đến những công trình sau đây.
- Tác giả Lưu Văn Sùng trong cuốn sách Một số kinh nghiệm điển hình về
phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội (2004), đã phân tích thực trạng nền nông nghiệp, nông
thôn Việt Nam và chỉ rõ đa số dân cư sống bằng nghề nông còn gặp nhiều khó khăn
cả
vật chất, tinh thần. Vì thế, trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước cần đặc biệt quan
tâm vấn đề CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. [24]
- Tác giả Nguyễn Từ với cuốn sách Tác động của Hội nhập kinh tế Quốc tế
triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của Việt Nam, đề cập đến
những cơ hội và thách thức đến từ cả trong và ngoài nước của quá trình tái cơ cấu.
Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp cần tập trung thực hiện nhằm khắc phục
những hạn chế, những rào cản, để quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp thành
công. [9]
- Luận văn Thạc sỹ chính sách công, Lê Thị Minh Tâm, Đánh giá chính sách
xây dựng Nông thôn mới từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; năm 2017.
Trong đó về đánh giá tiêu chí Tổ chức sản xuất nông nghiệp ở thị xã Điện Bàn, luận
4
văn khẳng định: những kết quả đạt được của địa phương trong phát triển các hình
thức tổ chức sản xuất ở nông thôn với nhiều mô hình có hiệu quả. Các hợp tác xã và
tổ hợp tác không ngừng mở rộng sản xuất kinh doanh, liên doanh, liên kết, hỗ trợ
sản xuất. Qua đánh giá, phần lớn các HTX đã làm tốt vai trò trung gian cho người
dân trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, góp phần giải quyết công ăn, việc làm và
tăng thu nhập cho người nông dân. [11]
- Tác giả Tạ Thị Đoàn trong bài Phát triển Nông nghiệp Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đăng trên Tạp chí Tài chính năm 2017. Bài viết phân
tích tác động của bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế bao gồm cả sự tham gia của các
cơ chế liên kết kinh tế quốc tế đến phát triển bền vững ngành nông nghiệp. Qua
đánh giá phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp Việt Nam, những cơ hội, thách
thức, đã đề ra các giải pháp nhằm phát triển nông nghiệp bền vững trong điều kiện
hội nhập kinh tế quốc tế. [7]
- Bài báo “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp: đâu là nút thắt của các nút thắt?”
của tác giả Trần Văn Việt đăng trên Baitoan-tai-cocau-nong-nghiep/Tai-co-cau-nganh-nong-nghiep-dau-la-nut-thatcua-cac-nut-that/19
3889.vgp. Trên cơ sở tập trung phân tích những khó khăn, rào cản trong sản xuất
nghiệp, qua đó tham gia các giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách này
trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, hệ thống cơ sở lý luận về nông nghiệp, cơ cấu nông nghiệp, và
chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp.
Thứ hai, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện chính sách tái cơ cấu nông
nghiệp tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam: trong đó làm rõ mục tiêu, nhiệm vụ,
giải pháp, đánh giá đúng vai trò của các chủ thể tham gia và những yếu tố ảnh
hưởng trong việc thực hiện chính sách tại địa phương nghiên cứu.
Thứ ba, quan điểm và đề xuất các giải pháp tiếp tục tăng cường thực hiện
chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong
thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp và thực tiễn
thực hiện chính sách tái cơ cấu nông nghiệp ở thị xã Điện Bàn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
6
Phạm vi không gian: nghiên cứu việc thực hiện chính sách đối với ngành nông
nghiệp của thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Phạm vi về thời gian: Tập trung đánh giá thực trạng thực hiện chính sách từ
năm 2013 đến năm 2018; giải pháp tăng cường thực hiện chính sách tái cơ cấu
nông nghiệp tại thị xã Điện Bàn trong thời gian đến.
Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Đề tài luận văn tập trung vào cơ cấu nông
nghiệp và thủy sản (cây trồng, vật nuôi, thủy sản) và không bàn đến lĩnh vực lâm sản.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
phương pháp này, nội dung chương 2 đề cập đến các điểm mạnh (S) và điểm yếu
(W) (từ kết quả phân tích thực trạng).
Đối với chương 3, luận văn tiếp tục sử dụng phương pháp phân tích SWOT.
Thông qua nội dung bối cảnh phát triển, luận văn nêu bật các cơ hội (O) và thách
thức (T) trong quá trình thực thi chính sách tái cơ cấu nông nghiệp thị xã Điện Bàn,
tỉnh Quảng Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần bổ sung cho hệ thống lý thuyết chính sách công những vấn
đề từ thực tiễn thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở thị xã Điện Bàn
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài cung cấp những số liệu và kết quả nghiên cứu tại thị xã Điện Bàn, tỉnh
Quảng Nam. Qua thực tiễn nghiên cứu quá trình thực hiện chính sách tái cơ cấu
ngành nông nghiệp ở thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, chỉ ra được những vấn đề
(hạn chế, bất cập) trong việc thực hiện chính sách, và luận giải nguyên nhân của
những hạn chế đó từ cơ sở lý luận.
Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường
hiệu quả thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao
giá trị gia tăng và phát triển bền vững tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục
các hình và bảng, danh mục tài liệu tham khảo; kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành
nông nghiệp.
Chương 2: Tình hình thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở thị
xã Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Quan điểm, định hướng và các giải pháp tăng cường thực hiện
chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp.
chất lượng ngành nông nghiệp trong khoảng thời gian nào đó, vì vậy nó luôn luôn
biến đổi không ngừng theo sự phát triển của các chuyên ngành, tiểu ngành tạo nên
cơ cấu toàn ngành. Đó là sự thay đổi tất yếu về tỷ lệ giữa các chuyên ngành: trồng
trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản; thay đổi về số lượng, loại hình quy mô các
9
chủ thể tham gia sản xuất kinh doanh trong các chuyên ngành, tiểu ngành; thay đổi
về mối quan hệ giữa nông nghiệp với các ngành kinh tế khác như: công nghiệp và
dịch vụ cung ứng đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến nông sản
và các hoạt động phân phối, tiêu thụ nông sản làm ra. Trong kinh tế thị trường và
sản xuất hàng hóa, sự thay đổi tỷ lệ về quy mô, giá trị giữa các chuyên ngành, tiểu
ngành của ngành nông nghiệp theo hướng tăng lên hoặc giảm xuống đều có mục
đích đáp ứng cao nhất các yêu cầu của người tiêu dùng về hàng hóa lương thực,
thực phẩm tươi sống và chế biến.
Theo đó khái niệm về chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp trong điều kiện
hiện nay như sau: “chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp là quá trình thay đổi (tăng
hoặc giảm) về quy mô, giá trị của các chuyên ngành sản xuất thuộc ngành nông nghiệp
theo hướng thích ứng nhiều hơn với nhu cầu thị trường, đồng thời phát huy được lợi
thế so sánh của từng chuyên ngành, tạo ra cơ cấu ngành nông nghiệp mang tính ổn
định cao hơn và phát triển bền vững hơn trong kinh tế thị trường và hội nhập”.[28,tr.5]
1.1.1.3. Khái niệm tái cơ cấu ngành nông nghiệp
Đây là khái niệm mới được sử dụng trong vài năm gần đây, qua tìm hiểu kết quả
nghiên cứu của một số học giả, có thể hiểu: “tái cơ cấu nông nghiệp là quá trình phát
triển nông nghiệp có sự bố trí, sắp xếp lại các chuyên ngành sản xuất nhằm phát huy tối
đa lợi thế so sánh và khai thác tối ưu các nguồn lực, tạo ra hiệu quả kinh tế, góp phần
nâng cao thu nhập cho nông dân và đảm bảo tính bền vững”.[28,tr.6]
điều chỉnh phân bổ nguồn lực sản xuất trong ngành, khuyến khích các doanh nghiệp
tham gia đầu tư sâu hơn trong các phân khúc có giá trị gia tăng cao như chế biến,
thương mại trong chuỗi giá trị hàng hóa nông sản. Quá trình tái cơ cấu ngành nông
nghiệp cần có sự tham gia của các thành phần kinh tế trong xã hội, trong đó doanh
nghiệp đóng vai trò “động lực” kết nối sản xuất, chế biến với thị trường, Nhà nước
có chính sách hỗ trợ mạnh mẽ tạo môi trường đầu tư lành mạnh, thuận lợi. Phát
triển công nghiệp chế biến cũng đồng nghĩa với khuyến khích các doanh nghiệp,
nhất là những khu vực doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Thúc
đẩy công nghiệp chế biến cũng đồng nghĩa tạo môi trường đầu tư thuận lợi để các
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp.
1.1.2.3.Tái cơ cấu nông nghiệp góp phần hình thành và phát triển sản phẩm
nông sản phục vụ du lịch
11
Tái cơ cấu Nông nghiệp tạo điều kiện phát triển và nâng cao chất lượng của
các sản phẩm thông qua việc ứng dụng KH-KT, khuyến khích và hỗ trợ các doanh
nghiệp đầu tư, phát triển các làng nghề truyền thống nhằm nâng cao chất lượng và
đa dạng hóa các sản phẩm nông nghiệp. Từ đó, góp phần xây dựng thương hiệu cho
các sản phẩm, kết nối quảng bá sản phẩm nông nghiệp đặc thù gắn liền với quảng
bá các sản phẩm du lịch. Bên cạnh đó, cùng với việc xây dựng và phát triển các
nông sản phục vụ du lịch thì các hình thức du lịch gắn với trải nghiệm các hoạt
động sản xuất, thu hoạch, chế biến nông sản cũng dần hình thành và phát triển như
đánh bắt cá, trồng rau, thực hành cấy lúa, chăm sóc cây trồng, thu hoạch và sơ chế
biến các sản phẩm nông nghiệp...
Ngoài ra, quá trình thực hiện tái cơ cấu theo hướng phát triển bền vững gắn
với bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và môi trường trong lành để phát triển du lịch sinh
thái, đây cũng là một hướng đi phù hợp. Bên cạnh đó, việc bố trí các mô hình sản
xuất theo hình thức nông hộ, gia trại cũng tạo điều kiện phát huy các hình thức du
nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội…".[8,tr.6]
Tuy nhiên, vẫn còn sự giao thoa trong quan niệm về Quyết sách chính trị của
Đảng (Cương lĩnh, Nghị quyết) với quan niệm Chính sách về phương diện nội
dung, cũng như chủ thể ban hành. Có thể hiểu: chính sách là các chủ trương, biện
pháp của đảng cầm quyền, được nhà nước cụ thể hóa thông qua việc ban hành các
chương trình hành động để giải quyết các vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội.
Tóm lại, từ các khái niệm trên chúng ta có thể đi đến một khái niệm chung
nhất về chính sách công như sau: “Chính sách công là tổng thể các chương trình
hành động của chủ thể nắm quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề có tính
cộng đồng trên các lĩnh vực đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt
được các mục tiêu đề ra”. PGS-TS Hồ Việt Hạnh.[25]
1.1.3.2. Vai trò của chính sách đối với tái cơ cấu ngành nông nghiệp
Các chính sách được ban hành và nguồn lực cho phát triển nông nghiệp, nông
thôn chính là đòn bẩy quan trọng tạo ra những biến tích cực thúc đẩy ngành nông
nghiệp phát triển một cách bền vững.
Định hướng cho quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp
Đây là vai trò cơ bản nhất của chính sách với quá trình tái cơ cấu ngành nông
nghiệp. Chính sách nông nghiệp nói riêng và chính sách nói chung đều là một trong
những công cụ quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế, xã hội. Dựa
trên công cụ chính sách, Nhà nước thể hiện chủ trương và định hướng của mình,
13
giải quyết một vấn đề nhất định, tạo động lực phát triển. Quá trình tái cơ cấu ngành
nông nghiệp có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của khu vực nông nghiệp và
gắn bó chặt chẽ với các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cụ thể của từng vùng
miền, do đó các chính sách được ban hành để thúc đẩy quá trình tái cơ cấu đi đúng
hướng với chủ trương, định hướng phát triển nông nghiệp của Nhà nước.
Cơ sở để phân bổ nguồn lực cho tái cơ cấu ngành nông nghiệp
sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm.
1.1.3.3. Nội dung chính sách tái cơ cấu ngành Nông nghiệp
Chính sách tái cơ cấu ngành Nông nghiệp bao gồm các nội dung về thực hiện
chính sách tái cơ cấu ngành trồng trọt, chính sách tái cơ cấu ngành chăn nuôi và
chính sách tái cơ cấu ngành thủy sản.
Chính sách tái cơ cấu ngành trồng trọt hướng đến phát triển sản xuất theo qui
mô để tăng năng suất, sản lượng dựa trên ứng dụng KH-CN gắn với hình thành
chuỗi giá trị hàng nông sản ngay từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản và tiêu thụ.
Chính sách tái cơ cấu ngành chăn nuôi theo hướng công nghiệp, khuyến
khích chăn nuôi tập trung, tổ chức sản xuất khép kín từ khâu giống, thức ăn, chế
biến nhằm giảm chi phí, phòng chống dịch bệnh, tăng năng suất và tính hiệu quả.
Chính sách tái cơ cấu ngành thủy sản hướng đến khai thác hiệu quả sản xuất
nuôi trồng trên các loại mặt nước (mặn, lợ, ngọt) đồng thời tăng cường đầu tư tàu
thuyền, trang thiết bị phục vụ đánh bắt, khai thác xa bờ.
1.2. Các chủ thể và hình thức tham gia vào quá trình phát triển nông nghiệp
1.2.1. Nông dân và các hình thức tham gia trong nông nghiệp
Nông dân là giai cấp gồm những người lao động ở địa bàn nông thôn, cuộc
sống chủ yếu từ các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, với tư liệu sản xuất là đất đai.
Tùy từng giai đoạn trong lịch sử và thể chế chính trị ở từng quốc gia mà người nông
dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất.
Nông dân sản xuất ra nguyên liệu gia dụng, lương thực, thực phẩm phục vụ
cho đời sống của con người. Hầu hết các nước đang phát triển như Việt Nam đều
phải dựa vào nông nghiệp trong nước để cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiêu
dùng, nó tạo nên sự ổn định, đảm bảo sự an toàn cho phát triển.
- Sản xuất, cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nhất
là công nghiệp chế biến, sản xuất đồ gia dụng. Nguyên liệu từ nông nghiệp là đầu
15
thủy sản với mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, có quy mô ruộng đất và các
yếu tố sản xuất đủ lớn, có trình độ kỹ thuật cao, tổ chức và quản lý tiến bộ.
16
Đặc trưng của trang trại: trang trại là một đơn vị kinh tế nông, lâm, ngư
nghiệp; mục đích chủ yếu của trang trại là kinh doanh nông sản phẩm hàng hoá theo
nhu cầu thị trường; trong trang trại, các yếu tố sản xuất trước hết là ruộng đất và
vốn được tập trung tới quy mô nhất định theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá;
lao động trong các trang trại chủ yếu là dựa trên các thành viên trong hộ, ngoài ra
có thuê mướn lao động.
Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp chủ yếu của nền kinh tế
sản xuất hàng hóa, trang trại có vai trò quan trọng trong việc sản xuất lương thực,
thực phẩm cung cấp cho nhu cầu to lớn của xã hội, phát triển kinh tế trang trại góp
phần tích cực vào phát triển các loại cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao, khắc
phục tình trạng sản xuất phân tán, manh mún. Phát triển trang trại gắn liền với việc
khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp, nông thôn; đặc
biệt là đất đai và nguồn vốn.
1.2.3. Doanh nghiệp nông nghiệp
Doanh nghiệp nông nghiệp (DNNN) là tổ chức kinh tế được đăng ký kinh
doanh và hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp theo quy định của pháp luật.
- Đặc trưng của DNNN: DNNN cần một diện tích đất tương đối lớn để sản
xuất, nguồn đất được đưa vào sản xuất hầu hết là mặt đất, mặt nước, bao gồm
những cánh đồng, cánh rừng, ao hồ, sông suối. Quá trình sản xuất kinh doanh áp
dụng nhiều tiến bộ KH&CN, kỹ thuật vào sản xuất song vẫn phụ thuộc nhiều vào tự
nhiên, thời gian ra sản phẩm thường kéo dài.
Sản phẩm của nhà nông muốn được trao đổi trên thị trường, chuyển đến người
tiêu dùng đều phải thông qua các doanh nghiệp. Việc các nhà doanh nghiệp
của cải vật chất cho xã hội, mang lại ích kinh tế cho Nhà nước và quan trọng hơn
nhất nông trường đã thực sự là công cụ giúp Nhà nước thực hiện mục tiêu phát triển
kinh tế, xã hội, hạ tầng cơ sở, bảo đảm an ninh xã hội ở các vùng sâu vùng xa, miền
núi hải đảo, vùng dân tộc ít người.
1.3. Các tiêu chí đánh giá và chỉ tiêu đo lường cơ cấu nông nghiệp
1.3.1. Tiêu chí 1: Cơ cấu ngành sản phẩm
Phản ánh qua tỷ trọng cây, con, giá trị của ngành sản phẩm trong tổng giá trị
sản xuất nông nghiệp
- Cơ cấu ngành sản phẩm trong nông nghiệp được hiểu là tương quan về
18
GTSX giữa các bộ phận (nông nghiệp – lâm nghiệp – ngư nghiệp) trong tổng thể
hoạt động kinh tế nông nghiệp, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và tác động qua lại cả
về số lượng và chất lượng giữa các bộ phận đó với nhau. Nếu các thước đo về tăng
trưởng (GTSX, GDP) phản ánh sự thay đổi về lượng thì xu thế chuyển dịch cơ cấu
thể hiện những chuyển biến về chất trong quá trình phát triển của ngành nông
nghiệp.
Tiêu chí GTSX và cơ cấu GTSX nông nghiệp phân theo ngành vừa phản ánh
sự tăng lên về sản lượng nông nghiệp vừa thể hiện sự chuyển biến về mặt chất
lượng của sự phát triển nông nghiệp. Tăng cơ cấu GTSX nông nghiệp tùy thuộc vào
chiến lược phát triển và điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Tuy
nhiên, theo xu hướng chung, cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng tỉ
trọng của ngành ngư nghiệp, giảm tỉ trọng nông, lâm nghiệp. Cơ cấu GTSX trong
nội bộ ngành nông nghiệp hiện có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỉ trọng ngành
trồng trọt, tăng tỉ trọng ngành chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp. Trong ngư nghiệp,
giảm tỉ trọng ngành đánh bắt, tăng tỉ trọng nuôi trồng và dịch vụ thủy sản.
1.3.2. Tiêu chí 2: Chủ thể/ hình thức sở hữu
Phản ánh qua tỷ trọng giá trị tạo ra bởi hộ nông dân, doanh nghiệp tư nhân,