ĐIỀU KIỆN KINH DOANH THỨC ĂN CHĂN NUÔI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG ĐÌNH QUYẾT

ĐIỀU KIỆN KINH DOANH
THỨC ĂN CHĂN NUÔI THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

Hà Nội - 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG ĐÌNH QUYẾT

ĐIỀU KIỆN KINH DOANH
THỨC ĂN CHĂN NUÔI THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngành:Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN

Hà Nội - 2019



2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở
Việt Nam……………………………………………………………

41

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ TỔ CHỨC
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH THỨC ĂN
CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM ...................................................................... 577
3.1. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn
nuôi ở Việt Nam ............................................ Error! Bookmark not defined.7
3.2. Các giải pháp tổ chức thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn
chăn nuôi ở Việt Nam ..................................................................................... 65
KẾT LUẬN .................................................................................................... 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 69


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

EU

Liên minh Châu Âu

FAO

Tổ chức Nông lương Thế giới


Bảng 2.3: Tổng nguồn cung nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nội địa và nhập
khẩu năm 2018 (nghìn tấn) ............................................................. 44
Bảng 2.4. Thống kê sản phẩm thức ăn chăn nuôi nhập khẩu được phép lưu
hành tại Việt Nam (tính đến 28/02/2018) ....................................... 44
Bảng 2.5.Thống kê sản phẩm thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nướcđược
phép lưu hành tại Việt Nam, đăng kýnăm 2017, 2018 ................... 44
Bảng 2.6. Số liệu các hồ sơ nhập khẩu thức ăn chăn nuôi qua Cổng hải quan
một cửa quốc gia (năm 2017, 2018) ............................................... 45
Bảng 2.7: Danh mục bổ sung hóa chất, kháng sinh cấm nhập khẩu, sản xuất,
kinh doanh và sử dụng trong thức ăn chăn nuôi………………

46

Bảng 2.8: Danh mục hàm lượng kháng sinh được phép sử dụng trong thức ăn
gia súc , gia cầm với mục đích kích thích sinh trưởng tại Việt Nam ... 47


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ ngàn năm nay, cuộc sống của người nông dân Việt Nam gắn liền với
trồng lúa và chăn nuôi, hình thành nên nền văn minh lúa nước. Theo thống kê
năm 2018, Việt Nam có gần 60 triệu người sống ở khu vực nông thôn (chiếm
gần 2/3) tổng dân số và có tới 23,5triệu người làm việc trong khu vực nông
nghiệp (chiếm hơn 40%) tổng số người trong độ tuổi lao động cả nước. Các số
liệu thống kê này cho thấy,Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ở nước
ta có vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vừa đảm
bảo an ninh lương thực, thực phẩm, vừa phấn đấu để hướng tới xuất khẩu.
Trong cơ cấu Ngành nông nghiệp Việt Nam, chăn nuôi là lĩnh vực có vai
trò quan trọng. Hơn 10 năm trở lại đây, ngành chăn nuôi liên tục phát triển cả
về quy mô và chất lượng đàn vật nuôi, thông qua đổi mới phương thức, kỹ thuật

Trong số các văn bản quy phạm pháp luật kể trên, có thể nhận thấy Nghị
định số 39 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi, thuỷ sản là cơ sở pháp
lý trực tiếp và có vai trò quan trọng nhất liên quan đến vấn đề quản lý thức ăn
chăn nuôi, trong đó có vấn đề kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Theo các văn bản
này, việc kinh doanh thức ăn chăn nuôi là một trong những ngành nghề kinh
doanh có điều kiện, theo đó tổ chức, cá nhân chỉ được kinh doanh khi đáp ứng
đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc, nguyên liệu đầu vào
và con người. Ngoài ra, các sản phẩm thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nước,
thức ăn chăn nuôi nhập khẩu phải được công nhận chất lượng để xác định tính
hiệu quả, đảm bảo chất lượng, an toàn đối với vật nuôi và từ đó bảo đảm an
toàn đối với người tiêu dùng. Thức ăn chăn nuôi trước khi lưu hành trên thị
trường phải làm hồ sơ đăng ký theo quy định và được công nhận bởi Cục Chăn
nuôi - Bộ Nông nghiệp và PTNT.

2


Thực tế cho thấy, mặc dù được kiểm soát khá chặt chẽ nhưng về phương
diện quản lý, hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi trong những năm qua
vẫn còn bộc lộ nhữnghạn chếnhất định, cần được nghiên cứu để hoàn thiện
chính sách quản lý đối với việc kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Điều này thể
hiện ở chỗ, tình trạng thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nước lưu hành trên thị
trường kém chất lượng, chưa được đăng ký hoặc thức ăn chăn nuôi nhập khẩu
vi phạm chất lượng vẫn được các cơ quan chức năng phát hiện và xử lý.Hiện
trạng này không chỉ ảnh hưởng đến người chăn nuôi mà còn ảnh hưởng trực
tiếp đến các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu chân chính. Việc kiểm soát thức
ăn chăn nuôi có “chất cấm”, thức ăn chứa kháng sinh ngoài danh mục được
phép sử dụng chưa chặt chẽ dẫn đến tình trạng sử dụng sai mục đích, tồn dư
“chất cấm”, kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi, ảnh hưởng đến vật nuôi, qua
đó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người.

nước về sản xuất và kinh doanh thức ăn chăn nuôi công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Hưng Yên”.
- Luận văn Thạc sỹ của tác giả Trần Quốc Hóa với đề tài: “Chính sách
Marketing cho sản phẩm thức ăn gia súc của Công ty TNHH Thái Việt Agri
Group tại thị trường miền Trung”.
- Luận văn Thạc sỹ của tác giả Phạm Quang Mẫn với đề tài: “Tổ chức kế
toán quản trị chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi”.
- Bài báo: “Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi” của tác giả Tuệ
Văn, đăng trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ, ngày 16/12/2015.
- Bài báo: “Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và ngành
chăn nuôi Việt Nam - Thực trạng và những chuẩn bị cần thiết” của tác giả
Nguyễn Tiến Dũng - Mai Quang Hợp, đăng trên Tạp chí Phát triển Khoa học
và Công nghệ, số Q4, ngày 12/7/2016.
- Bài báo: “Hoàn thiện chính sách phát triển ngành công nghiệp thức ăn
chăn nuôi của Việt nam” của tác giả Nguyễn Đức Hải, đăng trên Tạp chí Khoa

4


học Đại học Quốc gia Hà Nội, ngày 15/3/2017.
- Bài báo: “Cần sớm bình ổn thị trường thức ăn chăn nuôi” của tác giả
Anh Phường đăng trên báo Điện tử Nhân dân, ngày 06/9/2018.
- Bài báo: “Ngành thức ăn chăn nuôi: Cạnh tranh bằng chuỗi khép kín”
của tác giả Phương Bình đăng trên báo Tuổi trẻ Online, ngày 18/01/2019.
Từ kết quả thống kê tình hình nghiên cứu như trên đây, có thể thấy rằng
các công trình nghiên cứu hiện nay chủ yếu tiếp cận từ góc độ kinh tế hay góc độ
quản lý thức ăn chăn nuôi và hầu như có rất ít nghiên cứu về điều kiện kinh doanh
thức ăn chăn nuôi từ góc độ pháp lý. Chính vì thế, luận văn với đề tài: “Điều kiện
kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật Việt Nam hiện nay” là một đề
tài nghiên cứu có tính mới và được tiếp cận từ góc độ pháp lý, đáp ứng được các

Trên cơ sở lý luận duy vật biện chứng, luận văn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu cụ thể và có tính chất thông dụng trong khoa học xã hội và
nhân văn như: phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn giải, khái quát
hóa, thống kê, khảo sát, tiếp cận hệ thống, phân tích thực chứng, so sánh đối
chiếu… để giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn mà đề tài đặt ra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn làm sáng tỏ hơn các vấn đề lý luận về kinh doanh thức ăn chăn
nuôi như khái niệm thức ăn chăn nuôi, các điều kiện kinh doanh và nội dung sản
xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Đồng thời, luận văn cũng phân tích các quy
định, đánh giá ưu điểm, hạn chế của Nghị định số 39 và các văn bản quy phạm
pháp luật khác về hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Trên cơ sở đó, luận
văn đưa ra đề xuất xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn về điều kiện kinh
doanh thức ăn chăn nuôi kể từ khi Luật Chăn nuôi có hiệu lực.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn bao gồm làm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về điều kiện kinh doanh thức ăn

6


chăn nuôi và pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn
nuôi và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam.
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện
pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam.

7



Trong pháp luật thực định, nhà làm luật đã đưa ra một định nghĩa về thức
ăn chăn nuôi trong Nghị định số 39/2017/NĐ-CP ngày 04/4/2017 của Chính phủ
về quản lý thức ăn chăn nuôi, thuỷ sản, có hiệu lực từ ngày 20/5/2017 (sau đây gọi
tắt là Nghị định số 39), như sau:“Thức ăn chăn nuôi là những sản phẩm mà vật
nuôi ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản, bao gồm thức
ăn dinh dưỡng và thức ăn chức năng ở các dạng: Nguyên liệu, thức ăn đơn; thức
ăn hỗn hợp hoàn chỉnh; thức ăn đậm đặc, thức ăn bổ sung, phụ gia thức ăn nhằm
tạo ra thức ăn tự nhiên, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn”.[12, tr.2]
Bên cạnh đó, Nghị định số 39 cũng đưa ra khái niệm chi tiết về một số
loại thức ăn chăn nuôi như:Thức ăn chăn nuôi thương mại là các sản phẩm thức
ăn chăn nuôi được sản xuất nhằm mục đích trao đổi, mua bán trên thị
trường.Thức ăn chăn nuôi sản xuất để tiêu thụ nội bộ là các sản phẩm thức ăn
chăn nuôi do các cơ sở hoặc cá nhân tự phối trộn dùng cho nhu cầu chăn nuôi
của nội bộ cơ sở, không trao đổi và mua bán trên thị trường.Thức ăn chăn nuôi
theo tập quán là các sản phẩm nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp chế biến đã
được người chăn nuôi sử dụng từ trước đến nay như: Thóc, gạo, cám, ngô,
khoai, sắn, bã rượu, bã bia, bã sắn, bã dứa, rỉ mật đường, rơm, cỏ, tôm, cua, cá
và các loại khác.Thức ăn chăn nuôi mới là thức ăn lần đầu tiên được nhập khẩu,
sản xuất tại Việt Nam có chứa hoạt chất mới chưa qua khảo nghiệm ở Việt
Nam.Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh là hỗn hợp của nhiều nguyên liệu thức ăn
được phối chế theo công thức nhằm đảm bảo có đủ các chất dinh dưỡng để duy
trì sự sống và khả năng sản xuất của vật nuôi theo từng giai đoạn sinh trưởng
hoặc chu kỳ sản xuất.Thức ăn đậm đặc là hỗn hợp các nguyên liệu thức ăn chăn
nuôi, thủy sản có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao hơn nhu cầu vật nuôi và
dùng để pha trộn với các nguyên liệu khác tạo thành thức ăn hỗn hợp hoàn
chỉnh.Thức ăn bổ sung là thức ăn đơn hoặc hỗn hợp của nhiều nguyên liệu cho
thêm vào khẩu phần ăn để cân đối các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể vật

9


11


thủ tục xuất, nhập khẩu với cơ quan hải quan để thực hiện mục tiêu tìm kiếm
lợi nhuận.
- Các dịch vụ liên quan đến thức ăn chăn nuôi là những công việc do tổ
chức, cá nhân có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ theo quy định của pháp luật
thực hiện theo yêu cầu của khách hàng thông qua hợp đồng dịch vụ để được
nhận tiền thù lao dịch vụ.
Vậy, hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôicó những đặc điểm gì để
phân biệt với các hoạt động kinh doanh khác trong nền kinh tế?
Câu trả lời cho câu hỏi này không hề đơn giản, bởi lẽ suy cho cùng thì,
kinh doanh thức ăn chăn nuôicũng chỉ là một trong số hàng nghìn hình thức
kinh doanh trong nền kinh tế, có đặc điểm chung là nó gắn liền với sự vận
động của nguồn vốn, một chủ thể kinh doanh không chỉ có cần vốn mà cần
cả những cách thức làm cho đồng vốn của mình quay vòng không ngừng, để
đến cuối chu kỳ kinh doanh số vốn lại tăng thêm.
Mặt khác,kinh doanh thức ăn chăn nuôi cũng như kinh doanh tất cả các
loại hàng hóa khác trên thị trường, vốn dĩ chịu tác động, ảnh hưởng của các quy
luật thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh…
Tuy vậy, về phương diện lý thuyết, có thể thấy rằng hoạt động kinh doanh
thức ăn chăn nuôi có một số đặc điểm riêng sau đây:
Thứ nhất,hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi có đối tượng kinh
doanh là thức ăn chăn nuôi - một loại hàng hóa rất đặc biệt, có ảnh hưởng trực
tiếp đến chất lượng sản phẩm chăn nuôi và qua đó tác động trực tiếp đến sức
khỏe của con người trong đời sống xã hội. Chính vì vậy, việc quản lý đối với
hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi trở thành nhu cầu bức thiết và một
trong số các quy định về quản lý thức ăn chăn nuôi chính là quy định về điều
kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.
Thứ hai, hoạt độngkinh doanh thức ăn chăn nuôi là loại hình kinh doanh

chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc

13


yêu cầu khác”.[29, tr.5]
Đến Luật Đầu tư 2014, nhà làm luật không đưa ra định nghĩa hay khái
niệm về điều kiện kinh doanh mà thay vào đó, nhà làm luật đã đưa ra khái niệm
về ngành nghề kinh doanh có điều kiện tại khoản 1 Điều 7 trong Luật Đầu tư
2014, theo đó: “Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề mà
việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng
điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức
xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.
Bên cạnh đó, tại khoản 2 Điều 7, Luật Đầu tư 2014, nhà làm luật cũng
liệt kê243 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.Các điều kiện kinh doanh này
chỉ có thể được quy định trong các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc
tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Các cơ quan
nhà nước khác như, Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân
dân các cấp, cơ quan, tổ chức, các nhân khác không được ban hành quy định
về điều kiện kinh doanh”.[28, tr.4]
Có thể nhận thấy rằng, các quy định về điều kiện kinh doanhnhằm tạo
hiệu quả và tối ưu hóa việc nhà nước quản lý hoạt động kinh tế, tạo lập nên một
khung pháp lý an toàn và hiệu quả để các chủ thể kinh doanh đảm bảo quyền
tự do kinh doanh. Thông qua các chế định pháp luật về điều kiện kinh doanh,
Nhà nước có thể điều tiết được hoạt động sản xuất - kinh doanh, giữ được sự
phát triển ổn định bền vững cho nền kinh tế.
Từ các phân tích nên trên về điều kiện kinh doanh, có thể đưa ra khái
niệm về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi như sau:
Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi là những yêu cầu đặt ra từ phía
Nhà nước mà các chủ thể kinh doanh thức ăn chăn nuôi phải có hoặc phải thực

cũng tạo ra môi trường cạnh tranh, bình đẳng và minh bạch cho các doanh
nghiệp, loại bỏ những doanh nghiệp kém chất lượng, gian dối trong kinh doanh,
bảo đảm cho doanh nghiệp kinh doanh đạt được hiệu quả.

15


Thứ hai, điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi là khá đa dạng, bao
gồm: điều kiện về giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngành nghề thức ăn
chăn nuôi; điều kiện về cơ sở hạ tầng để thực hiện việc kinh doanh thức ăn chăn
nuôi (ví dụ: chủ thể kinh doanh phải có cửa hàng, biển hiệu, địa chỉ rõ ràng; nơi
bảo quản, nơi bày bán đáp ứng các yêu cầu bảo đảm chất lượng và vệ sinh thú
y theo quy định của pháp luật; nơi bảo quản, bày bán hàng phải thông thoáng,
không ẩm ướt để bảo đảm chất lượng hàng hóa. Kho, tủ bảo quản và nơi bày
bán thức ăn chăn nuôi phải riêng biệt; địa điểm kinh doanh phải xa bãi chứa rác
thải, nơi sản xuất có nhiều bụi hoặc chất độc hại ít nhất 100m; phải có thùng,
sọt có nắp đậy kín để đựng rác); điều kiện về chất lượng thức ăn chăn nuôi
(chẳng hạn: thức ăn kinh doanh phải bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh an toàn sản
phẩm theo quy định); điều kiện về chủ thể quản lý và chủ thể trực tiếp thực hiện
việc mua, bán thức ăn chăn nuôi (ví dụ: người quản lý hoặc nhân viên bán hàng
có chứng chỉ đã được tập huấn về thức ăn chăn nuôi hoặc có trình độ trung cấp
trở lên về chuyên ngành chăn nuôi, người quản lý hoặc nhân viên bán hàng của
cơ sở phải có trình độ trung cấp trở lên về một trong các chuyên ngành: chăn
nuôi, thú y, sinh học hoặc có chứng chỉ tập huấn hợp pháp về thức ăn chăn nuôi
do các cơ quan có thẩm quyền cấp; chỉ được kinh doanh các loại thức ăn chăn
nuôi thuộc danh mục được phép lưu hành tại Việt Nam, đã được công bố tiêu
chuẩn chất lượng; thực hiện ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật).
Thứ ba, do các sản phẩm thức ăn chăn nuôi được kinh doanh trên thị
trường phải là các sản phẩm đã được đăng ký lưu hành nên khi quy định điều
kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi, nhà làm luậtthường đòi hỏi các chủ thể kinh

nêu trên, lượng kháng sinh tồn dư trong thực phẩm sẽ là một trong các yếu tố
chính để dùng làm căn cứ cho phép loại thức ăn chứa kháng sinh đó có được
lưu hành trên thị trường hay không, cũng như giới hạn, định mức tối đa cho
phép trong thức ăn chăn nuôi, cũng như thời gian ngưng sử dụng thức ăn chăn
nuôi chứa kháng sinh trước khi giết mổ.

17


1.1.3. Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo thông lệ quốc tế
Hầu hết các nước trong khu vực và trên thế giới đều có luật quy định chặt
chẽ về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi, nhưng trong điều kiện về kinh
tế ở nước ta hiện nay thì các quy định chỉ ở mức tối thiểu, nhằm tạo điều kiện
khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển sản xuất, kinh
doanh thức ăn chăn nuôi.
Ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, Canada, các quốc gia khối EU, Nhật
Bản, Hàn Quốc,…Chính phủ thường quy định rất chi tiết về điều kiện sản xuất,
kinh doanh thức ăn chăn nuôi, trong đó có quy định về diện tích tối thiểu đối
với nhà xưởng, kho chứa hàng, địa điểm sản xuất, khoảng cách với khu dân cư;
dây chuyền, trang thiết bị, máy móc sản xuất;điều kiện đào tạo chuyên môn đối
với nhân viên phụ trách kỹ thuật, nhân viên kiểm tra chất lượng sản phẩm, các
bộ phận khác trong cơ sở sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi.
Đồng thời, các nước nàycũng ban hành đầy đủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn,
định mức kinh tế kỹ thuật bắt buộc áp dụng đối với nguyên liệu đầu vào để
phục vụ sản xuất thức ăn, các quy định để doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm
thức ăn chăn nuôi đậm đặc, hỗn hợp hoàn chỉnh, thức ăn bổ sung đảm bảo chất
lượng, không gây hại gián tiếp đến con người.
Bên cạnh đó, Chính phủ các nước cũng áp dụng các chế tài xử lý rất nặng
đối với cơ sở sản xuất, doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm vi phạm tiêu chuẩn,
chất lượng, với các mức chế tài khác nhau như phạt tiền, rút giấy phép kinh

văn hóa kinh doanh nên pháp luật hiện hành đã quy định các điều kiện kinh
doanh đối với một số ngành nghề chỉ ở mức độ tối thiểu, trong đó có có ngành
nghề kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Nhà làm luật quy định các điều kiện kinh
doanh thức ăn chăn nuôi xuất phát từ lý do đảm bảo sự an toàn cho xã hội và
vì sức khỏe cộng đồng.
Sở dĩ như vậy là bởi vì, kinh doanh thức ăn chăn nuôi được coi là một
ngành nghề mà hoạt động kinh doanh có thể ảnh hưởng đến môi trường xung

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status