Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật việt nam hiện nay - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG ĐÌNH QUYẾT

ĐIỀU KIỆN KINH DOANH
THỨC ĂN CHĂN NUÔI THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngành:Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN

Hà Nội - 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân
tôi. Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Số liệu và các trích dẫn trong Luận văn đảm bảo độ chính xác cao,
trung thực và đáng tin cậy.
Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa
vụ tài chính theo quy định của Học viện Khoa học xã hội.
Tôi viết lời cam đoan này đề nghị Học viện Khoa học xã hội xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đặng Đình Quyết

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 69


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

EU

Liên minh Châu Âu

FAO

Tổ chức Nông lương Thế giới

CBOT

Sàn giao dịch Chicago

FED

Cục dự trữ Liên bang Mỹ

FDI

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

QCKT


gia súc , gia cầm với mục đích kích thích sinh trưởng tại Việt Nam ... 47


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ ngàn năm nay, cuộc sống của người nông dân Việt Nam gắn liền với
trồng lúa và chăn nuôi, hình thành nên nền văn minh lúa nước. Theo thống kê
năm 2018, Việt Nam có gần 60 triệu người sống ở khu vực nông thôn (chiếm
gần 2/3) tổng dân số và có tới 23,5triệu người làm việc trong khu vực nông
nghiệp (chiếm hơn 40%) tổng số người trong độ tuổi lao động cả nước. Các số
liệu thống kê này cho thấy,Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ở nước
ta có vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vừa đảm
bảo an ninh lương thực, thực phẩm, vừa phấn đấu để hướng tới xuất khẩu.
Trong cơ cấu Ngành nông nghiệp Việt Nam, chăn nuôi là lĩnh vực có vai
trò quan trọng. Hơn 10 năm trở lại đây, ngành chăn nuôi liên tục phát triển cả
về quy mô và chất lượng đàn vật nuôi, thông qua đổi mới phương thức, kỹ thuật
và công nghệ áp dụng vào chăn nuôi. Điều này khiến cho năng suất và chất
lượng sản phẩm chăn nuôi ở Việt Nam có bước tiến vượt bậc, góp phần quan
trọng trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp. Lĩnh vực chăn nuôi luôn duy trì
tăng trưởng ở mức 3-5%/năm. Các sản phẩm của chăn nuôi cung cấp đầy đủ
nguồn thực phẩm thiết yếu cho người dân và cộng đồng. Đây cũng là ngành
kinh tế mang lại hiệu quả đầu tư cao, giúp cho nông dân tăng thu nhập, xoá đói
giảm nghèo, giải quyết nhiều công ăn việc làm cho người lao động ở nông thôn,
góp phần từng bước làm giàu cho người dân và xã hội.
Cùng với sự tăng trưởng liên tục của ngành chăn nuôi, lĩnh vực thức ăn
gia súc, gia cầm có bước phát triển vô cùng mạnh mẽ. Năm 2017, nhu cầu sử
dụng thức ăn trong chăn nuôi lên đến 22 triệu tấn các loại (bao gồm thức ăn sản
xuất trong nước và thức ăn nhập khẩu), năm 2018 là 25 triệu tấn. Cơ cấu chi
phí trong chăn nuôi gồm có giống, thức ăn, thuốc thú y, lao động…trong đó,


2


Thực tế cho thấy, mặc dù được kiểm soát khá chặt chẽ nhưng về phương
diện quản lý, hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi trong những năm qua
vẫn còn bộc lộ nhữnghạn chếnhất định, cần được nghiên cứu để hoàn thiện
chính sách quản lý đối với việc kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Điều này thể
hiện ở chỗ, tình trạng thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nước lưu hành trên thị
trường kém chất lượng, chưa được đăng ký hoặc thức ăn chăn nuôi nhập khẩu
vi phạm chất lượng vẫn được các cơ quan chức năng phát hiện và xử lý.Hiện
trạng này không chỉ ảnh hưởng đến người chăn nuôi mà còn ảnh hưởng trực
tiếp đến các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu chân chính. Việc kiểm soát thức
ăn chăn nuôi có “chất cấm”, thức ăn chứa kháng sinh ngoài danh mục được
phép sử dụng chưa chặt chẽ dẫn đến tình trạng sử dụng sai mục đích, tồn dư
“chất cấm”, kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi, ảnh hưởng đến vật nuôi, qua
đó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người.
Kể từ năm 2017 cho đến nay, mặc dù Nghị định số 39 về quản lý thức
ăn chăn nuôi, thuỷ sản do Chính phủ ban hành khắc phục được một số hạn chế,
bất cập của văn bản trước đó là Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 05/02/2010
nhưng về thực chất, điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi vẫn còn nhiều vấn
đề chưa được quy định hoặc quy định chưa rõ, chưa hợp lý cần được rà soát,
đánh giá để hoàn thiệnkhung pháp lý về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi
ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Với các lý do trên, tôi quyết định chọn vấn đề:“Điều kiện kinh doanh
thức ăn chăn nuôi theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn
tốt nghiệp thạc sỹ ngành luật kinh tế, với mong muốn góp phần đánh giá thực
trạng và từ đóđề xuất các giải pháp hoàn thiện khung pháp luật về điều kiện
kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua, mặc dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên

chăn nuôi của Việt nam” của tác giả Nguyễn Đức Hải, đăng trên Tạp chí Khoa

4


học Đại học Quốc gia Hà Nội, ngày 15/3/2017.
- Bài báo: “Cần sớm bình ổn thị trường thức ăn chăn nuôi” của tác giả
Anh Phường đăng trên báo Điện tử Nhân dân, ngày 06/9/2018.
- Bài báo: “Ngành thức ăn chăn nuôi: Cạnh tranh bằng chuỗi khép kín”
của tác giả Phương Bình đăng trên báo Tuổi trẻ Online, ngày 18/01/2019.
Từ kết quả thống kê tình hình nghiên cứu như trên đây, có thể thấy rằng
các công trình nghiên cứu hiện nay chủ yếu tiếp cận từ góc độ kinh tế hay góc độ
quản lý thức ăn chăn nuôi và hầu như có rất ít nghiên cứu về điều kiện kinh doanh
thức ăn chăn nuôi từ góc độ pháp lý. Chính vì thế, luận văn với đề tài: “Điều kiện
kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật Việt Nam hiện nay” là một đề
tài nghiên cứu có tính mới và được tiếp cận từ góc độ pháp lý, đáp ứng được các
yêu cầu của Quy chế hiện hành về luận văn thạc sỹ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài làlàm rõ cơ sở lý luận và cơ sở pháp lývề
điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất các
giải pháp hoàn thiện khungpháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn
nuôiở Việt Nam trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài nhằm đạt được mục đích nói trên là:
- Làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến điều kiện kinh doanh thức
ăn chăn nuôi và pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.
- Nghiên cứu, đánh giá khung pháp lý hiện hành về điều kiện kinh doanh
thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam bằng cách chỉ ra các hạn chế, bất cập của các
quy định này từ thực tiễn thực hiện ở Việt Nam trong thời gian qua.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện kinh doanh
thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam trong thời gian tới.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn bao gồm làm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về điều kiện kinh doanh thức ăn

6


chăn nuôi và pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn
nuôi và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam.
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện
pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH THỨC
ĂN CHĂN NUÔI VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH
THỨC ĂN CHĂN NUÔI
1.1. Những vấn đề lý luận về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của kinh doanh thức ăn chăn nuôi
Trước hết, để làm rõ khái niệm kinh doanh thức ăn chăn nuôi, cần bắt
đầu từ việc làm rõ khái niệm tiền đề là “thức ăn chăn nuôi”.
Thực tiễn cho thấy kể từ khi loài người xuất hiện, tổ tiên của chúng ta đã
chăn nuôi gia súc gia cầm, gắn liền với hoạt động săn bắt, hái lượm. Từ quá
trình tìm kiếm, lựa chọn thức ăn để sống, từ những quan sát và bắt chước các
loài động vật hoang dại, con người đã biết tìm ra các loại rau, hoa quả có trong
tự nhiên để nuôi sống bản thân và cho vật nuôi ăn.
Cùng với sự phát triển của nghề chăn nuôi và sự gia tăng mối quan tâm

theo tập quán là các sản phẩm nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp chế biến đã
được người chăn nuôi sử dụng từ trước đến nay như: Thóc, gạo, cám, ngô,
khoai, sắn, bã rượu, bã bia, bã sắn, bã dứa, rỉ mật đường, rơm, cỏ, tôm, cua, cá
và các loại khác.Thức ăn chăn nuôi mới là thức ăn lần đầu tiên được nhập khẩu,
sản xuất tại Việt Nam có chứa hoạt chất mới chưa qua khảo nghiệm ở Việt
Nam.Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh là hỗn hợp của nhiều nguyên liệu thức ăn
được phối chế theo công thức nhằm đảm bảo có đủ các chất dinh dưỡng để duy
trì sự sống và khả năng sản xuất của vật nuôi theo từng giai đoạn sinh trưởng
hoặc chu kỳ sản xuất.Thức ăn đậm đặc là hỗn hợp các nguyên liệu thức ăn chăn
nuôi, thủy sản có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao hơn nhu cầu vật nuôi và
dùng để pha trộn với các nguyên liệu khác tạo thành thức ăn hỗn hợp hoàn
chỉnh.Thức ăn bổ sung là thức ăn đơn hoặc hỗn hợp của nhiều nguyên liệu cho
thêm vào khẩu phần ăn để cân đối các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể vật

9


nuôi.Nguyên liệu thức ăn chăn nuôi hoặc thức ăn đơn là thức ăn dùng để cung
cấp một hoặc nhiều chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn cho vật nuôi.Phụ gia
thức ăn chăn nuôi là chất có hoặc không có giá trị dinh dưỡng được bổ sung
vào thức ăn chăn nuôi trong quá trình chế biến, xử lý nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng hoặc duy trì, cải thiện đặc tính nào đó của thức ăn chăn nuôi.Chất mang
là chất vật nuôi ăn được dùng để trộn với hoạt chất trong premix nhưng không
ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi.
Premix kháng sinh là hỗn hợp gồm không quá 02 loại kháng sinh được phép
sử dụng trong thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm nhằm mục đích kích thích sinh
trưởng với tổng hàm lượng kháng sinh không lớn hơn 20%.[12, tr.2, 3]
Như vậy, có thể cho rằng thức ăn chăn nuôi là một loại hàng hóa rất đặc
biệt, bởi lẽ nó có những ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm chăn nuôi
và từ đó tác động đến sức khỏe con người. Chính vì thế, việc quản lý đối với

động của nguồn vốn, một chủ thể kinh doanh không chỉ có cần vốn mà cần
cả những cách thức làm cho đồng vốn của mình quay vòng không ngừng, để
đến cuối chu kỳ kinh doanh số vốn lại tăng thêm.
Mặt khác,kinh doanh thức ăn chăn nuôi cũng như kinh doanh tất cả các
loại hàng hóa khác trên thị trường, vốn dĩ chịu tác động, ảnh hưởng của các quy
luật thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh…
Tuy vậy, về phương diện lý thuyết, có thể thấy rằng hoạt động kinh doanh
thức ăn chăn nuôi có một số đặc điểm riêng sau đây:
Thứ nhất,hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi có đối tượng kinh
doanh là thức ăn chăn nuôi - một loại hàng hóa rất đặc biệt, có ảnh hưởng trực
tiếp đến chất lượng sản phẩm chăn nuôi và qua đó tác động trực tiếp đến sức
khỏe của con người trong đời sống xã hội. Chính vì vậy, việc quản lý đối với
hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi trở thành nhu cầu bức thiết và một
trong số các quy định về quản lý thức ăn chăn nuôi chính là quy định về điều
kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.
Thứ hai, hoạt độngkinh doanh thức ăn chăn nuôi là loại hình kinh doanh

12


có điều kiện. Đặc điểm này xuất phát từ tình trạng thực tế là do, thức ăn chăn
nuôi là một loại hàng hóa đặc biệt (hàng hoá nhóm 2 theo Điều 3, Luật Chất
lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007), là hàng hóa có khả năng gây mất an toàn
trong điều kiện vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng hợp lý và đúng mục
đích, vẫn tiềm ẩn khả năng gây hại cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi
trường. Để đảm bảo an toàn cho việc sản xuất kinh doanh các sản phẩm chăn
nuôi và qua đó bảo vệ sức khỏe con người, pháp luật các nước đều có quy định
rất rõ về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.[26, tr.1]
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi
Để làm rõ khái niệm và đặc điểm của điều kiện kinh doanh thức ăn chăn

liệt kê243 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.Các điều kiện kinh doanh này
chỉ có thể được quy định trong các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc
tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Các cơ quan
nhà nước khác như, Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân
dân các cấp, cơ quan, tổ chức, các nhân khác không được ban hành quy định
về điều kiện kinh doanh”.[28, tr.4]
Có thể nhận thấy rằng, các quy định về điều kiện kinh doanhnhằm tạo
hiệu quả và tối ưu hóa việc nhà nước quản lý hoạt động kinh tế, tạo lập nên một
khung pháp lý an toàn và hiệu quả để các chủ thể kinh doanh đảm bảo quyền
tự do kinh doanh. Thông qua các chế định pháp luật về điều kiện kinh doanh,
Nhà nước có thể điều tiết được hoạt động sản xuất - kinh doanh, giữ được sự
phát triển ổn định bền vững cho nền kinh tế.
Từ các phân tích nên trên về điều kiện kinh doanh, có thể đưa ra khái
niệm về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi như sau:
Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi là những yêu cầu đặt ra từ phía
Nhà nước mà các chủ thể kinh doanh thức ăn chăn nuôi phải có hoặc phải thực
hiện khi kinh doanh thức ăn chăn nuôi, được thể hiện bằng giấy phép kinh
doanh thức ăn chăn nuôi, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thức ăn

14


chăn nuôi, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề
nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác.
Định nghĩa trên cho thấy điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi có
những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, việc Nhà nước quy định các điều kiện kinh doanh thức ăn chăn
nuôi luôn gắn với mục tiêu bảo đảm chất lượng sản phẩm chăn nuôi, từ đó
hướng đến mục tiêu bảo vệ sức khỏe con người vì một xã hội an toàn, phồn
vinh và hạnh phúc. Để đạt được mục tiêu này, Nhà nước phải thiết lập một hành

bán thức ăn chăn nuôi phải riêng biệt; địa điểm kinh doanh phải xa bãi chứa rác
thải, nơi sản xuất có nhiều bụi hoặc chất độc hại ít nhất 100m; phải có thùng,
sọt có nắp đậy kín để đựng rác); điều kiện về chất lượng thức ăn chăn nuôi
(chẳng hạn: thức ăn kinh doanh phải bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh an toàn sản
phẩm theo quy định); điều kiện về chủ thể quản lý và chủ thể trực tiếp thực hiện
việc mua, bán thức ăn chăn nuôi (ví dụ: người quản lý hoặc nhân viên bán hàng
có chứng chỉ đã được tập huấn về thức ăn chăn nuôi hoặc có trình độ trung cấp
trở lên về chuyên ngành chăn nuôi, người quản lý hoặc nhân viên bán hàng của
cơ sở phải có trình độ trung cấp trở lên về một trong các chuyên ngành: chăn
nuôi, thú y, sinh học hoặc có chứng chỉ tập huấn hợp pháp về thức ăn chăn nuôi
do các cơ quan có thẩm quyền cấp; chỉ được kinh doanh các loại thức ăn chăn
nuôi thuộc danh mục được phép lưu hành tại Việt Nam, đã được công bố tiêu
chuẩn chất lượng; thực hiện ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật).
Thứ ba, do các sản phẩm thức ăn chăn nuôi được kinh doanh trên thị
trường phải là các sản phẩm đã được đăng ký lưu hành nên khi quy định điều
kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi, nhà làm luậtthường đòi hỏi các chủ thể kinh
doanh phải làm thủ tục đăng ký kinh doanh những loại hàng hóa là thức ăn chăn
nuôi nào để các cơ quan nhà nước có thể quản lý, kiểm soát được. Điều này có
nghĩa là, không phải doanh nghiệp muốn sản xuất, nhập khẩu, buôn bán bất kỳ
loại thức ăn chăn nuôi nào đều được mà việc kinh doanh bất kỳ sản phẩm nào

16


cũng phải được đăng ký lưu hành và xác nhận chất lượng bởi cơ quan nhà nước
có thẩm quyền.
Thật vậy, theo Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa của Việt Nam, thức
ăn chăn nuôi là loại mặt hàng nhóm 2 (là sản phẩm, hàng hoá trong điều kiện
vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng hợp lý và đúng mục đích, vẫn tiềm ẩn
khả năng gây hại cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường), do đó các

doanh thức ăn chăn nuôi.
Ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, Canada, các quốc gia khối EU, Nhật
Bản, Hàn Quốc,…Chính phủ thường quy định rất chi tiết về điều kiện sản xuất,
kinh doanh thức ăn chăn nuôi, trong đó có quy định về diện tích tối thiểu đối
với nhà xưởng, kho chứa hàng, địa điểm sản xuất, khoảng cách với khu dân cư;
dây chuyền, trang thiết bị, máy móc sản xuất;điều kiện đào tạo chuyên môn đối
với nhân viên phụ trách kỹ thuật, nhân viên kiểm tra chất lượng sản phẩm, các
bộ phận khác trong cơ sở sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi.
Đồng thời, các nước nàycũng ban hành đầy đủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn,
định mức kinh tế kỹ thuật bắt buộc áp dụng đối với nguyên liệu đầu vào để
phục vụ sản xuất thức ăn, các quy định để doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm
thức ăn chăn nuôi đậm đặc, hỗn hợp hoàn chỉnh, thức ăn bổ sung đảm bảo chất
lượng, không gây hại gián tiếp đến con người.
Bên cạnh đó, Chính phủ các nước cũng áp dụng các chế tài xử lý rất nặng
đối với cơ sở sản xuất, doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm vi phạm tiêu chuẩn,
chất lượng, với các mức chế tài khác nhau như phạt tiền, rút giấy phép kinh
doanh, thậm chí xử lý hình sự đối với các chủ doanh nghiệp vi phạm pháp luật
về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở mức độnghiêm trọng. Nói chung,
doanh nhân ở các nước phát triển họ đề cao tính trung thực, có trách nhiệm với
sản phẩm của họ làm ra, giữ uy tín thương hiệu doanh nghiệp. Do vậy, sản
phẩm họ làm ra, dịch vụ họ cung cấp đều rất tốt. Các nước đang phát triển như
nước ta, cần phải mất thời gian dài nữa mới có thể làm được điều này.

18


Ở Trung Quốc, một quốc gia láng giềng, có nền văn hóa tương đồng với
Việt Nam, tuy nhiên họ có điều kiện kinh tế, khoa học kỹ thuật phát triển hơn
nước ta. Điều kiện về kinh doanh thức ăn chăn nuôi khá chặt chẽ, chi tiết,quy
định từ Điều 4 đến Điều 23, Luật Chăn nuôi. Cụ thể, Trung Quốc quy định rất

các vi sinh vật, các nguyên liệu này đòi hỏi phải được quản lý, sử dụng theo
một điều kiện, quy trình nhất định, bởi các thiết bị đáp ứng nhu cầu để đảm bảo
không bị phát tán vào môi trường xung quanh, đồng thời không gây ra ảnh
hưởng tới những người trực tiếp thực hiện việc sản xuất, kinh doanh thức ăn
chăn nuôi như những người công nhân trực tiếp sản xuất, những người làm
công tác phân tích, khảo nghiệm, kiểm nghiệm. Mặt khác, kinh doanhthức ăn
chăn nuôi cũng có thể tạo ra những chất thải có hại cho môi trường, cho sức
khỏe của cộng đồng xung quanh nếu không được xử lý tốt, đúng quy trình.
Đồng thời, thức ăn chăn nuôi là một mặt hàng đòi hỏi phải được bảo quản
trong một môi trường, độ ẩm, nhiệt độ nhất định để có thể giữ nguyên hàm
lượng chất dinh dưỡng. Do đó, các điều kiện về bảo quản như hệ thống kho bãi,
thiết bị bảo quản cũng là một trong các điều kiện cần thiết đối với hoạt động
kinh doanh thức ăn chăn nuôi.
Ngoài ra, hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi có tác động đến người
tiêu dùng thông qua sản phẩm mà họ cung cấp ra thị trường. Nhưng bản thân
người tiêu dùng lại không có khả năng kiểm tra được mọi sản phẩm mà mình
mua. Có những trường hợp, thức ăn chăn nuôi được cung cấp ra thị trường
không đảm bảo chất lượng nhưng người tiêu dùng không thể kiểm tra được nên
không biết để tránh không mua. Vì vậy, Nhà nước phải quy định người quản lý
hoặc người phụ trách kỹ thuật của các cơ sở kinh doanh thức ăn chăn nuôi phải
có trình độ chuyên môn nhất định và có đạo đức nghề nghiệp để bảo đảm quyền
lợi của người tiêu dùng.
Về phương diện hình thức, bằng chứng để chứng minh năng lực này là
thông qua văn bằng, chứng chỉ chuyên môn do các cơ sở đào tạo, cơ quan quản

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status