VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG ANH TUẤN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN
VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN PHƯỚC,
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG ANH TUẤN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN
VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN PHƯỚC,
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHẠM SỸ AN
Tiên Phước thời gian qua ................................................................................ 46
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN PHƯỚC, TỈNH QUẢNG NAM ........... 56
3.1. Quan điểm và mục tiêu ............................................................................ 56
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo trên
địa bàn huyện Tiên Phước ............................................................................... 59
3.3. Một số kiến nghị....................................................................................... 71
KẾT LUẬN .................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu viết tắt
Giải thích
1
BHYT
Bảo hiểm y tế
2
CSHT
Hội đồng nhân dân
8
HTKT
Hạ tầng kinh tế
9
KT-XH
Kinh tế - xã hội
10
NXB
Nhà xuất bản
11
TB-XH
Thương binh - Xã hội
12
UBND
DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ
Sơ đồ 2.1. Tổ chức bộ máy Ban chỉ đạo chương trình giảm nghèo................ 34
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giảm nghèo và giảm nghèo bền vững là một trong những chủ trương lớn
của Đảng và Nhà nước, nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người
nghèo, thu hẹp khoảng cách và trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và
giữa các dân tộc, nhóm dân cư. Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 1/6/2012 của
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá XI đã khẳng định:
“Ðẩy mạnh việc triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm
nghèo, trong đó chú trọng các chính sách giảm nghèo”… “thu hẹp chênh lệch
về mức sống và an sinh xã hội so với bình quân cả nước. Nghiên cứu sửa đổi,
bổ sung chính sách hỗ trợ hộ cận nghèo để giảm nghèo bền vững”. Để chuyển
đổi mạnh mẽ chính sách giảm nghèo theo hướng bền vững trong bối cảnh đổi
mới mô hình tăng trưởng, năm 2015, Chính phủ Việt Nam đã thông qua
phương pháp tiếp cận đa chiều để đo lường nghèo đói. Theo đó nghèo đa chiều
được đo lường bằng mức độ thiếu hụt tiếp cận 5 dịch vụ xã hội cơ bản, bao
gồm: y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; và thông tin, và được đo bằng
10 chỉ số. Hộ được coi là nghèo đa chiều nếu thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường
mức độ thiếu hụt (trên tổng số 10 chỉ số nói trên) trở lên. Kết quả phân tích số
liệu của Khảo sát Mức sống dân cư cho thấy tỷ lệ nghèo dù đo lường bằng
thước đo nào cũng đều giảm trong giai đoạn 2012-2016. Tỷ lệ nghèo thu
nhập, chi tiêu cũng như nghèo đa chiều giảm mạnh. Tỷ lệ nghèo đa chiều
giảm từ 18,1% xuống 10,9% trong thời kỳ này. Tỷ lệ nghèo chi tiêu giảm từ
17,2% xuống 9,8%, còn tỷ lệ nghèo thu nhập giảm từ 12,6% xuống còn 7,0%.
Xét toàn bộ dân số thì có 18% dân số không thiếu hụt bất kỳ chỉ số nào trong
10 chỉ số nghèo đa chiều vào năm 2012. Tỷ lệ này tăng lên đáng kể vào năm
2016, ở mức 36,1%. Không có hộ gia đình nào thiếu hụt 8 chỉ số trở lên. Chỉ
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Thực hiện các chính sách giảm nghèo là một trong những nội dụng quan
trọng và được nhiều quốc gia đặc biệt quan tâm trong quá trình phát triển kinh
2
tế -xã hội. Ở Việt Nam, Chính phủ ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia
Giảm nghèo bền vững cho mỗi giai đoạn 5 năm trên cơ sở công bố chuẩn
nghèo để đo lường sự thay đổi của tình trạng nghèo trong giai đoạn tương
ứng. Cho đến nay, công tác giảm nghèo đã đạt những thành quả nhất định. Tuy
nhiên, tốc độ giảm nghèo còn thấp và vấn đề tái nghèo đang diễn ra ở nhiều địa
phương. Vấn đề giảm nghèo và giảm nghèo bền vững đã được nghiên cứu dưới
nhiều gốc độ khác nhau. Đề thực hiện đề tài này, tác giả tham khảo các giáo
trình chuyên ngành và các tài liệu có liên quan khác cụ thể như sau:
Nguyễn Thị Hoa (2010), Chính sách giảm nghèo ở Việt Nam đến năm
2015, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông, Hà Nội. Nghiên cứu này tiến
hành đánh giá tác động của một số chính sách đến công tác giảm nghèo ở nước
ta hiện nay. Kết quả nghiên cứu đã tập trung vào 4 chính sách chủ yếu: Chính
sách tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo; Chính sách đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng
xã nghèo; Chính sách hỗ trợ giáo dục cho người nghèo; Chính sách hỗ trợ y tế
cho người nghèo. Ngoài việc phân tích, đánh giá và phản ánh thực trạng thực
hiện các chính sách, tác giả còn đưa ra những phương hướng nhằm hoàn thiện
các chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến năm 2015.[13]
Nguyễn Thành Nhân (2015) “Chính sách giảm nghèo bền vững từ thực
tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” luận văn thạc sĩ Chính sách công. Luận văn đã
nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách giảm nghèo và giảm
nghèo bền vững; tác giả đã phân tích đánh giá thực trạng thực hiện chính sách
giảm nghèo trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và đưa ra phương hướng và
giải pháp hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn Thành phố
Nhìn chung các công trình nghiên cứu nêu trên đã phân tích và làm rõ
một số giải pháp nhằm thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở nước ta,
nhất là vùng miền núi. Nhiều giải pháp có tính khả thi và phù hợp trong thực
tiễn. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể và sâu
sắc về giải pháp thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn ở tỉnh
Quảng Nam. Đa số các công trình nghiên cứu trước đây tập trung chủ yếu ở
tầm vĩ mô, nghiên về cơ chế, chính sách giảm nghèo. Việc phân tích, đánh giá
4
thực trạng hộ nghèo và thực trạng thực hiện chính sách giảm và giải pháp
thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở các tỉnh nói trên chưa được các
tác giả chưa đi sau vào phân tích cụ thể. Các giải pháp đưa ra theo lối tư duy
kinh nghiệm. Do đó, tác giả lựa chọn vấn đề “Thực hiện chính sách giảm
nghèo bền vững trên địa bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài
luận văn thạc sỹ Chính sách công.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm
nghèo bền vững trên địa bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa lại một số vấn đề lý luận chung về đói nghèo và chính
sách giảm nghèo bền vững.
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền
vững trên địa bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm
nghèo bền vững trên địa bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: thực hiện việc so sánh chính sách, kết
quả thực hiện công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện Tiên Phước giai đoạn
2015 – 2018 và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo trên địa
bàn nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài này có ý nghĩa về mặt lý luận, người học nghiên cứu, bổ sung
kiến thức lý thuyết về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam; đồng
thời biết vận dụng các lý thuyết về chính sách công để đánh giá thực tiễn thực
hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở địa phương.
6
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo,
phục vụ đào tạo, giảng dạy, học tập và nghiên cứu những chuyên đề thực tế
liên quan đến công tác thực hiện chính sách giảm nghèo trong giai đoạn hiện
nay. Nguồn tài liệu sử dụng cho các cơ quan quản lý cấp huyện tham khảo để
đề xuất giải pháp hoàn thiện QLNN về đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn
NSNN cấp huyện. Công tác thực hiện các chính sách về giảm nghèo bền vững
cấp huyện trong thời gian đến.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo; Luận văn
được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách giảm nghèo
bền vững ở nước ta
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên
địa bàn huyện Tiên Phước giai đoạn 2015 - 2018
hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được
tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn [15].
Như vậy, có thể kết luận rằng, nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư
không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những
nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã
8
hội và phong tục tập quán của địa phương.
Tiêu chuẩn xác định chuẩn nghèo
Chuẩn nghèo là một khái niệm biến động theo không gian và thời gian.
Về không gian, nó biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng
vùng hay từng quốc gia. Về thời gian, chuẩn nghèo biến động theo trình độ
phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của con người theo từng giai đoạn khác
nhau. Khi kinh tế - xã hội phát triển, tất yếu đời sống con người ngày một cải
thiện tốt hơn, nhu cầu tối thiểu dĩ nhiên cũng sẽ tăng lên.
Ở nước ta, thu nhập là thước đo và cách thức để đánh giá nghèo. Qua
mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy thành tiền để xác
định chuẩn nghèo. Những người có thu nhập dưới chuẩn nghèo thì được đánh
giá thuộc diện hộ nghèo. Đây chính là chuẩn nghèo đơn chiều do Chính phủ
quy định.
Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
08/7/2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010.
Khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000
đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu
vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng
(dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.[17]
Thủ Tướng Chính Phủ (2011), Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày
30/01/2011, về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai
hội cơ bản trở lên. Hộ nghèo ở khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai
tiêu chí sau: có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở
xuống hoặc có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến
1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận
các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Hộ cận nghèo ở khu vực nông thôn là hộ có
thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng
và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã
hội cơ bản. Hộ cận nghèo ở khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân
đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03
chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.[21]
Sau đây là bảng tổng hợp chuẩn nghèo theo từng giai đoạn.
10
Bảng 1.1. Chuẩn nghèo qua các giai đoạn
Chuẩn nghèo (đồng/người/tháng)
Giai đoạn
Văn bản
Nông thôn
Thành thị
Dưới 400.000
Dưới 500.000
Quyết định
2011-2015
cơ bản trở lên.
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
1.1.2. Giảm nghèo bền vững
Khái niệm giảm nghèo: Giảm nghèo là làm cho người nghèo nâng cao
mức sống và thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số
lượng người nghèo giảm xuống. Đây là một quá trình chuyển một bộ phận
dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn. Ở khía cạnh khác, giảm nghèo là
chuyển từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có nhiều điều
kiện lựa chọn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người.
Trên góc độ người nghèo: Giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ
người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách
nhanh nhất, trên cơ sở đó họ có nhiều khả năng lựa chọn tốt hơn giúp họ từng
bước thoát khỏi tình trạng nghèo đói.
11
Trên góc độ vùng nghèo: “Giảm nghèo là quá trình thúc đẩy phát triển
kinh tế, chuyển đổi trình độ sản xuất cũ, lạc hậu trong xã hội sang trình độ sản
xuất mới cao hơn nhằm nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân cư” [8].
Giảm nghèo là một trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước
hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến
mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa
thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư. [8].
Khái niệm giảm nghèo bền vững
Khái niệm này được một số nghiên cứu đề cập từ những năm 2000. Tuy
nhiên, đến năm 2008 cụm từ này mới được sử dụng chính thức trong văn bản
mức độ giảm nghèo bền vững cụ thể như sau:
Tỷ lệ hộ nghèo
Để đo lường mức độ nghèo, người ta tính toán tỷ lệ hộ nghèo, qua đó có
thể hoạch định những chính sách để thực hiện mục tiêu giảm nghèo như các
chương trình mục tiêu hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, mô hình giảm nghèo, hỗ
trợ chăm sóc sức khỏe, y tế…góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời
sống cho người nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo bằng 0 là mức tối đa có thể hướng đến
và các các chính sách của Nhà nước luôn hướng đến giảm tỷ lệ hộ nghèo.
Tỷ lệ tái nghèo sau khi thoát nghèo
Tỷ lệ tái nghèo sau khi thoát nghèo phản ánh rõ mức độ bền vững trong
thực hiện giảm nghèo tại một địa phương. Qua thời gian, với những biến động
khác nhau, những nguyên nhân khác nhau như điều kiện, hoàn cảnh khó khăn,
chính sách hỗ trợ chưa phát huy hiệu quả, ý chí vươn lên của hộ nghèo,…rất
có thể làm hộ đã thoát nghèo tái nghèo trở lại. Lúc này ta đo lường số hộ
nghèo trở lại so với hộ đã thoát nghèo trong một khoảng thời gian để đánh giá
mức độ bền vững trong thực hiện giảm nghèo bền vững tại địa phương đó.
Giảm nghèo bền vững tức là chắc chắn đã thoát nghèo, không còn nghèo trở
lại. Vì vậy, đo lường mức độ giảm nghèo bền vững dựa trên số hộ nghèo đã
13
thoát nghèo những không tái nghèo là một chỉ tiêu tốt, phản ánh rõ nhất thực
trạng tiến triển của các hộ thoát nghèo, sau khi thoát nghèo họ đã có những
việc làm tốt, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống và không còn nghèo.
Thu nhập được cải thiện của người nghèo, hộ nghèo
Trên thực tế, thu nhập là một trong những tiêu chí xác định chuẩn nghèo,
vì vậy nếu chuẩn nghèo thay đổi theo sự phát triển chung của xã hội mà thu
nhập không tăng lên thì khó thoát nghèo và dễ nhiều người lâm vào tình trạng
nghèo, đặc biệt là các hộ cận nghèo. Tăng thu nhập giúp người nghèo tránh
quan trọng đánh giá khả năng tổ chức thực hiện này.
Mức độ tham gia của các đối tượng hưởng lợi và cộng đồng trong
chương trình giảm nghèo
Trên thực tế, các chương trình giảm nghèo được thiết kế để phục vụ cho
các đối tượng nghèo. Tuy nhiên không phải lúc nào người nghèo, hộ nghèo
cũng tích cực tham gia các chính sách, chương trình, hoạt động có lợi cho
mình và gia đình. Vì vậy, người nghèo tích cực tham gia các chương trình tại
địa phương sẽ phát huy tính hiệu quả trong giảm nghèo bền vững.
Bên cạnh đó, vai trò của các tổ chức đoàn thể nhân dân, các doanh
nghiệp, các nhà khoa học và toàn xã hội vào quá trình thực hiện chính sách
giảm nghèo bền vững là hết sức quan trọng. Quá trình này cần có sự phối hợp,
đồng lòng của các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể, cơ quan, doanh
nghiệp,…và của các đối tượng nghèo mới đạt được mục tiêu đề ra. Bởi vậy sự
tích cực tham gia của cộng động xã hội vào quá trình tổ chức thực hiện chính
sách giảm nghèo bền vững sẽ là tiền đề để tạo ra kết quả và hiệu quả cho quá
trình chính sách. Căn cứ, so sánh với những chỉ tiêu này, có thể thấy được
công tác giảm nghèo, kết quả giảm nghèo bền vững ở mức độ nào, trên cơ sở
đó có những biện pháp để tăng tính bền vững của giảm nghèo
1.2. Nội dung thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
1.2.1. Thực hiện chính sách trong chu trình chính sách công
Thuật ngữ “Chính sách công” được sử dụng rất phổ biến. Có thể nêu ra
một số quan niệm sau:
15
Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của
chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng. Nó được kết hợp với các cách
thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng
như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những
không được đưa vào thực hiện hoặc thực hiện không tốt. Vì vậy, những luận
giải trên đây cho chúng ta nhận thức đầy đủ về vị trí tầm quan trọng của thực
hiện chính sách, từ đó có ý thức tự giác trong thực hiện chính sách công.
Để điều hành có hiệu quả công tác thực hiện chính sách, cần tuân thủ các
bước cơ bản, bao gồm: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện; phổ biến
tuyên truyền chính sách; phân công, phối hợp thực hiện chính sách; duy trì
chính sách (đây là những hoạt động nhằm đảm bảo cho chính sách tồn tại
được và phát huy tác dụng trong thực tế); điều chỉnh chính sách (được thực
hiện bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm để cho chính sách ngày càng
phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế); theo dõi, kiểm tra, đôn đốc
việc triển khai thực hiện chính sách; đánh giá tổng kết, rút kinh nghiệm.
1.2.2. Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
Chính sách giảm nghèo bền vững là những quyết định, quy định của Nhà
nước nhằm cụ thể hoá các chương trình, dự án cùng với nguồn lực, vật lực,
các thể thức, quy trình hay cơ chế thực hiện nhằm tác động đối tượng cụ thể
như người nghèo, hộ nghèo hay xã nghèo với mục đích cuối cùng là xoá đói
giảm nghèo.
Mục tiêu của chính sách giảm nghèo là hỗ trợ và giúp đỡ người nghèo cả
dưới góc độ nghèo về vật chất và nghèo về con người và nghèo về xã hội. Các
chính sách giảm nghèo đều hướng tới mục tiêu là nâng cao phúc lợi cho
người nghèo, tăng cường các khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho
người nghèo từ đó nâng cao vốn con người và tiếng nói của người nghèo. Mỗi
một chính sách cụ thể sẽ có những mục tiêu cụ thể và rõ ràng hơn. Như vậy,
có thể thấy xoá đói, giảm nghèo là một trong những vấn đề xã hội được đặt
vào vị trí ưu tiên cần được giải quyết trong phát triển xã hội và là một trong
những chính sách quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của nước ta. Để
17
hiệu quả chính sách trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo, tạo điều kiện
cho người nghèo hiểu biết quyền, nghĩa vụ của mình, chủ động tiếp cận các
chính sách trợ giúp của Nhà nước, vươn lên thoát nghèo.
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách giảm
nghèo bền vững
Qua nghiên cứu, nhận thấy, ở nước ta hiện nay, chính sách xóa đói giảm
nghèo chịu tác động của những nhân tố sau đây:
- Tác động của tăng trưởng kinh tế phiến diện: Vấn đề đói nghèo là sản
phẩm tất yếu của một mô hình kinh tế bất cập. Khi một mô hình kinh tế đã
cạn kiệt tiềm năng phát triển, thì dù có cố gắng của chính quyền cũng không
thể giải quyết tốt vấn đề đói nghèo.
- Tàn phá môi trường: Việt Nam là một trong số ít quốc gia chịu ảnh
hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu toàn cầu, làm cho mực nước biển dâng
cao, xâm chiếm nhiều diện tích đất đai sản xuất và sinh sống của người dân,
gây nên những trận hạn hán, lũ lụt trầm trọng, bất thường, xói mòn, sạt lở bờ
biển, bờ sông ... Cùng với đó là mức độ tàn phá môi trường ngày càng nghiêm
trọng, đây là một nhân tố trực tiếp làm tăng mức độ và phạm vi của đói
nghèo. Tình trạng ô nhiễm môi trường các khu công nghiệp, các công ty, cơ
sở sản xuất đã làm bệnh tật gia tăng đối với công nhân và dân cư trong vùng,
chi phí cho sức khỏe và bệnh tật khiến người lao động nghèo thêm.
- Sự hạn chế về năng lực tổ chức, quản lý của bộ máy nhà nước các cấp:
Đây là nhân tố tác động đến mức độ đói nghèo không nhỏ, nhưng thường bị
bỏ qua và chậm đổi mới. Tính chất và mức độ “hành chính quan liêu” của các
cấp, các ngành đã ảnh hưởng đến việc giải quyết vấn đề đói nghèo và thực
hiện những chủ trương, chính sách xóa đói giảm nghèo trong thời gian qua,
như cứu trợ dân nghèo trong các đợt thiên tai bão lụt ở một số nơi còn chậm
trễ; việc xác định diện hộ nghèo theo tiêu chí quy định có những lệch lạc; chất
lượng xây dựng các luật kinh tế, xã hội còn thấp so với thực tiễn nên dễ thông