VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG QUANG SANG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Hà Nội, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG QUANG SANG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
Ngành: Chính sách công
Mã số: 60.38.04.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. BẠCH HỒNG VIỆT
Hà Nội, năm 2019
1.3.1. Bà Rịa – Vũng Tàu – Nỗ lực thực hiện giảm nghèo bền vững ................. 25
1.3.2. Bình Dương - Đột phá trong công tác giảm nghèo .................................. 27
Chương 2: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH
VỀGIẢM
NGHÈO
BỀN
VỮNG
TRÊN
ĐỊA
BÀN
HUYỆN
HÓC
MÔN,THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ..................................................................... 30
2.1. Tổng quan về công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Hóc Môn . 30
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên ...................................................................................... 30
2.1.2. Đặc điểm văn hóa - xã hội ......................................................................... 31
2.1.3. Tình hình kinh tế - xã hội ........................................................................... 31
2.1.4. Tình hình hộ nghèo trên địa bàn huyện .................................................... 32
2.1.5. Bộ máy quản lý nhà nước thực hiện chính sách Giảm nghèo bền vững .. 35
2.2. Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Hóc Môn ... 35
2.2.1. Hoạch định chiến lược, chương trình, kế hoạch về giảm nghèo bền vững 35
3.2.4. Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các cơ quan liên
quan trong thực thi chính sách giảm nghèo bền vững ........................................ 68
3.2.5. Xã hội hóa huy động các nguồn lực chăm lo hộ nghèo, hộ cận nghèo về
mọi mặt ................................................................................................................. 69
3.2.6. Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát .................................... 70
3.2.7. Đổi mới công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức ................................ 71
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. So sánh số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo qua 03 giai đoạn .............. 35
Bảng 2.2. Kết quả hỗ trợ vay vốn từ các nguồn quỹ giai đoạn 2009 – 2015 . 38
Bảng 2.3. Kết quả hỗ trợ vay vốn từ các nguồn quỹ giai đoạn 2016 – 2020 . 39
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hóc Môn là huyện ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh đang trong quá
trình đô thị hóa nhanh, người dân nhập cư đông, có diện tích tự nhiên là 10.943,4 ha
gồm 11 xã, 01 thị trấn với 87 ấp - khu phố, 1.430 tổ nhân dân - tổ dân phố. Tình
hình kinh tế - xã hội huyện Hóc Môn những năm qua vẫn còn nhiều khó khăn,tình
hình tội phạm, tệ nạn xã hội, dịch bệnh diễn biến phức tạp… đã tác động phần nào
đến đời sống người dân.
Cùng với cả nước và thành phố, những năm qua chính sách giảm nghèo bền
vững luôn được cả hệ thống chính trị huyện Hóc Môn quan tâm.Theo số liệu tổng
hợp báo cáo của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội – Cơ quan Thường trực
ban giảm nghèo bền vững huyện, số hộ nghèo đầu năm 2014 (theo tiêu chí hộ
công tác giảm nghèo; từ năm 1992 đến cuối năm 2017, huyện Hóc Môn đã thực
hiện 05 giai đoạn giảm nghèo theo các tiêu chí do Thành phố quy định, đã hỗ trợ
hơn 28.000 lượt hộ vươn lên thoát nghèo; hỗ trợ cho hộ nghèo có điều kiện tiếp cận
tốt hơn các nguồn vốn vay, đất đai, công nghệ, thị trường… và các dịch vụ xã hội
cơ bản (giáo dục, y tế, nhà ở…). Qua đó, góp phần giảm dần chênh lệch về mức
sống giữa các nhóm dân cư, đời sống của hộ nghèo được cải thiện rõ rệt, nhiều hộ
nghèo được tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi, có việc làm ổn định, tăng thu nhập,
có tích lũy và vượt được chuẩn nghèo góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm
bảo an sinh xã hội và thực hiện công bằng xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác giảm nghèo bền vững
trên địa bàn huyện còn một số hạn chế; chính sách hỗ trợ hộgia đình khi thoát
nghèocòn mang tính tình thế nên chưa giải quyết căn nguyên của tình trạng nghèo
tại địa phương; một số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập chưa cao dẫn đến tái
nghèo; công tác tuyên truyền vận động hộ cận nghèo tham gia mua thẻ bảo hiểm y
tế còn hạn chế; tỷ lệ lao động của hộ nghèo tham gia học nghề còn thấp; một bộ
phận người nghèo còn có tâm lý ỷ lại, chưa tích cực, chủ động vươn lên thoát
nghèo, còn trông chờ vào sự trợ giúp của Nhà nước và cộng đồng,... Đây là những
vấn đề khó khăn, thách thức đặt ra cho các nhà lãnh đạo, quản lý trong việc tiếp tục
2
triển khai thực hiện các chính sách liên quan về công tác giảm nghèo bền vững
trong thời gian tới.
Giảm nghèo bền vững là chương trình công tác cần được thực hiện kiên trì,
thường xuyên, liên tục và tổ chức thực hiện phải phân kỳ theo lộ trình và giải pháp
phù hợp. Để thực hiện được điều này cần phải phân tích, đánh giá một cách nghiêm
túc các chính sách đã và đang thực hiện đối với công tác giảm nghèo bền vững để
đề ra giải pháp khắc phục những hạn chế và phát huy tác động tích cực của các
chính sách giảm nghèo bền vững đang triển khai thực hiện. Đó cũng là lý do tôi
sách giảm nghèo tại thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn cũng đã đưa ra các giải pháp
hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững tại Việt Nam nói chung và tại thành
phố Hồ Chí Minh nói riêng.
PGS.TS Lê Quốc Lý (chủ biên), Chính sách xóa đói giảm nghèo, thực trạng
và giải pháp, Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội 2012. Nhóm tác giả đã
làm rõ thực trạng nghèo đói ở Việt Nam, những chủ trương, đường lối chính sách
của Đảng và Nhà nước về công cuộc đổi mới chống đói nghèo, những thành tựu và
hạn chế trong quá trình thực thi chính sách xóa đói giảm nghèo. Trên cơ sở đó, tác
giả hướng tới việc đề xuất giải pháp để xóa đói giảm nghèo ở nước ta cho giai đoạn
phát triển trong thời gian tới. Cuốn sách được đánh giá là một công trình khoa học
công phu và nghiêm túc, có giá trị tham khảo tốt cho các nhà khoa học, các nhà
nghiên cứu chính sách và hoạch định chính sách ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Bản tin xuân Mậu Tuất 2018 của Ban Chỉ đạo chương trình giảm nghèo bền
vững thành phố Hồ Chí Minh. Bản tin đăng nhiều bài viết (bài “Xây dựng nông
thôn mới gắn với giảm nghèo bền vững” của tác giả Minh Phước; bài “Cần lắm
những giải pháp giảm nghèo cụ thể hỗ trợ các hộ nghèo, hộ cận nghèo thoát nghèo
bền vững” của Phòng Phát triển cộng đồng; bài “Phường 15 là đơn vị đầu tiên của
Thành phố Hồ Chí Minh không còn hộ cận nghèo giai đoạn 2016-2020” của Ban
Giảm nghèo bền vững Quận 11; bài “Nghị lực vươn lên thoát nghèo” của Ban Giảm
nghèo bền vững phường Thới An Quận 12,…) của các phòng thuộc Ban Chỉ đạo
chương trình giảm nghèo bền vững thành phố Hồ Chí Minh và Ban giảm nghèo bền
vững các quận, huyện, xã, phường, thị trấn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Bài viết chia sẻ kinh nghiệm, cách làm hay trong triển khai thực hiện công tác giảm
4
nghèo bền vững cũng như các mô hình – gương điển hình giảm nghèo hiệu quả tại
các xã, phường, thị trấn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyễn Văn Sửu (2010): Khung sinh kế bền vững: một cách phân tích toàn
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, phân tích những nội dung các chính sách
giảm nghèo bền vững đã và đang được triển khai thực hiện trên địa bàn huyện Hóc
Môn, thành phố Hồ Chí Minh; luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường
thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trong thời gian tới, góp phần kéo giảm
hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Một số chính sách giảm nghèo bền vững triển
khai thực hiện tại địa bàn huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu một số chính sách đã và đang
được triển khai thực hiện như:
Chính sách hỗ trợ vốn (Quỹ ”Xóa đói giảm nghèo” (Quỹ 140), Quỹ “Quốc
gia về việc làm” (Quỹ 71); Quỹ “Hỗ trợ đào tạo và giải quyết việc làm cho người có
đất bị thu hồi” (Quỹ 156); Chương trình cho hộ nghèo vay vốn (Quỹ 316); các
nguồn Quỹ Tín dụng nhỏ của các đoàn thể...
- Chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn.
- Chính sách ưu đãi xã hội cho người nghèo, hộ nghèo
- Chính sách hỗ trợ y tế
- Chính sách hỗ trợ về nhà ở
- Chính sách hỗ trợ giáo dục
- Chính sách trợ giúp pháp lý
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp,…dựa trên các tài liệu thu thập
được từ các báo cáo tổng kết, chương trình, kế hoạch, các nghiên cứu đã có, các tài
liệu liên quan đến giảm nghèo bền vững để làm rõ vấn đề nghiên cứu.
5.2. Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng của chủ ngh a
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững
7
Chương 2:Đánh giá kết quả thực hiện các chính sách về giảm nghèo bền
vững trên địa bàn huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3:Một số đề xuất, kiến nghị thực hiện chính sách giảm nghèo bền
vững trên địa bàn huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
1.1. Lý luận về giảm nghèo bền vững
1.1.1. Các quan niệm về nghèo đói và nguyên nhân của nghèo đói
1.1.1.1. Quan niệm về nghèo đói
Đói, nghèo là một hiện tượng xã hội.Từ trước đến nay có nhiều quốc gia,
nhiều tổ chức trên thế giới đã đưa ra những quan niệm về nghèo đói, các quan niệm
này phản ánh mục tiêu nghiên cứu, cũng như tình trạng nghèo của các nước trên thế
giới. Có thể đưa ra một số quan niệm về nghèo sau đây:
Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để
tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có ngh a là không có đủ ăn, đủ
mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng
trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận các
nguồn vay. Nghèo cũng có ngh a là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ,
dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch
và công trình vệ sinh” (Tuyên bố của Liên hợp quốc tháng 6/2008,được lãnh đạo
của tất cả các tổ chức UN thông qua).
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói tại một số quốc gia trên
thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, trong đó có một số nguyên nhân cơ bản
sau đây:
Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt:Mức độ nghèo đói thường có quan hệ mật
thiết với điều kiện tự nhiên,vị trí địa lý, do có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, sinh
hoạt của người dân. Đa số các quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương có điều kiện tự
nhiên khắc nghiệt thì đời sống của người dân thường thấp kém so với những vùng
có điều kiện tự nhiên thuận lợi, đất đai màu mỡ, khí hậu thuận lợi. Như ở vùng miền
núi Tây Bắc Việt Nam, theo thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là
khu vực có hộ nghèo cao nhất cả nước. Nguyên nhân, đây là khu vực có diện tích
đất rừng và rừng lớn nhất cả nước; tuy nhiên, rừng bị khai thác cạn kiệt, tỷ lệ đồi
trọc cao nên thường gây ra lũ lụt, lũ quét làm ảnh hưởng đến đời sống, tài sản của
người dân và cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội.
10
Trình độ học vấn thấp, khó có việc làm: Đa số người nghèo là những người
có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt, ổn định. Mức thu
nhập của họ hầu như chỉ bảo đảm nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu, do vậy họ không có
điều kiện để học tập nâng cao trình độ; do đó họ rất khó để có việc làm, cải thiện
cuộc sống nhằm thoát khỏi cảnh nghèo khó. Do trình độ học vấn thấp nên nhận thức
về vai trò, ý ngh a của vấn đề giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái... cũng còn hạn
chế.
Việc tiếp cận các nguồn lực hạn chế:Người nghèo thường bị hạn chế tiếp cận
với các nguồn lực xã hội. Người nghèo có khả năng tiếp tục nghèo vì họ không thể
đầu tư và họ thiếu nguồn vốn để sản xuất kinh doanh cải thiện cuộc sống của họ. Đa
số hộ nghèo có ít đất đai và hộ nghèo không có đất đang có xu hướng tăng lên.
Thiếu đất đai ảnh hưởng đến việc bảo đảm an ninh lương thực của người nghèo
cũng như khả năng đa dạng hóa sản phẩm, để hướng tới sản xuất các loại cây trồng
sở đó họ có nhiều khả năng lựa chọn tốt hơn trong quá trình phát triển và từng bước
thoát khỏi tình trạng nghèo đói.
Ở góc độ vùng nghèo: Giảm nghèo là quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế,
chuyển đổi trình độ sản xuất cũ, lạc hậu trong xã hội của vùng miền đó cho phù hợp
với điều kiện sang trình độ sản xuất mới cao hơn nhằm nâng cao thu nhập cho cộng
đồng dân cư.
Giảm nghèo bền vững là tình trạng đạt được mức độ thỏa mãn những nhu
cầu cơ bảnvề mức sống, mức thu nhập cao hơn mức chuẩn và duy trì được nó ngay
cả khi gặp sự cố hay rủi ro.
Ở Việt Nam, qua nhiều thập niên, cách đo lường và đánh giá nghèo chủ yếu
thông qua thu nhập. Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng
những nhu cầu tối thiểu và được quy thành tiền. Nếu người có thu nhập dưới mức
chuẩn nghèo thì được đánh giá thuộc diện hộ nghèo. Về bản chất, đói nghèo đồng
ngh a với việc bị khước từ các quyền cơ bản của con người, bị đẩy sang lề xã hội
chứ không chỉ là thu nhập thấp. Có nhiều nhu cầu tối thiểu không thể đáp ứng bằng
tiền. Nhiều trường hợp không nghèo về thu nhập nhưng lại khó tiếp cận các dịch vụ
cơ bản về y tế, giáo dục, thông tin. Sau 30 đổi mới, Việt Nam đã chuyển từquốc gia
thu nhập thấp sang nhóm nước có thu nhập trung bình nên cách tiếp cận đánh giá
nghèo đơn chiều theo thu nhập không còn phù hợp [1].
12
1.1.3. Chuẩn nghèo và phương pháp xác định chuẩn nghèo
Chuẩn nghèo là thước đo (hay tiêu chí) nhằm xác định ai là người nghèo
(hoặc không nghèo) để thực hiện các chính sách hỗ trợ giảm nghèo của nhà nước;
nhằm bảo đảm công bằng trong thực hiện các chính sách giảm nghèo. Trên thế giới
hiện đang áp dụng các hình thức chuẩn nghèo như sau:
Chuẩn nghèo dựa vào thu nhập hay chi tiêu, được quy đổi thành tiền, xuất
phát từ quan niệm là để thỏa mãn các nhu cầu cơ bản tối thiểu, mỗi người cần phải
định diện hộ đói, hộ nghèo.
Giai đoạn 2001 - 2005:chuẩn nghèo trong giai đoạn này được điều chỉnh và
áp dụng theo Quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH ngày 01 tháng 11 năm 2000
của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cụ thể như sau:
Khu vực nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/tháng tương đương
960.000 đồng/năm trở xuống là hộ nghèo.
Khu vực nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/tháng, tương đương 1.200.000
đồng/năm trở xuống là hộ nghèo.
Khu vực thành thị: 150.000 đồng/tháng, tương đương 1.800.000 đồng/năm
trở xuống là hộ nghèo.
Giai đoạn 2006 - 2010:chuẩn nghèo được áp dụng theo Quyết định số
170/2005/QĐ-TTg ngày 8 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ, cụ thể như
sau:
Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000
đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000
đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
Giai đoạn 2011 - 2015:chuẩn nghèo được áp dụng theo Quyết định số
09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ, cụ thể như
sau:
Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000
đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống.
Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000
đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống.
14
Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng
đến 520.000 đồng/người/tháng.
Việc áp dụng chuẩn nghèo đa chiều ở Việt Nam chính là một phương thức để
hiện thực hóa mục tiêu giảm nghèo bền vững, là bước tiến quan trọng mới trong
việc ban hành các chính sách hiệu quả về giảm nghèo bền vững trong thời gian tới.
1.1.4. Các yếu tố tác động đến giảm nghèo bền vững
Giảm nghèo bền vững chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm
các yếu tố thuộc về chủ quan và khách quan, những nhân tố thuộc về phía cơ quan
quản lý thực thi chính sách, chương trình giảm nghèo, điều kiện kinh tế - xã hội, về
phía người nghèo và nhiều nhân tố khác, trong đó có một số nhân tố cơ bản quan
trọng, cụ thể:
* Điều kiện kinh tế, xã hội của địa phương
Nhân tố này có tác động lớn đến mục tiêu giảm nghèo, khi điều kiện kinh tế xã hội của địa phương còn nhiều khó khăn thì dù cho Nhà nước đầu tư nhiều nguồn
lực cho giảm nghèo cũng rất khó đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
* Ýthức của người nghèo, hộ nghèo
Việc người nghèo ý thức được đói nghèo là vấn đề được xã hội quan tâm; từ
đó, cố gắng nỗ lực để vươn lên thoát nghèo, quyết tâm vượt qua hoàn cảnh để nâng
dần chất lượng cuộc sống của gia đình, bản thân và cho dù Nhà nước hỗ trợ bằng
nhiều giải pháp cũng không hiệu quả bằng việc chính bản thân từng hộ nghèo,
người nghèo tự ý thức vươn lên thoát nghèo.
* Nhận thức của cả hệ thống chính trị đối với hoạt động quản lý nhà nước về
giảm nghèo bền vững
Quan điểm chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước trong việc ban
hành các chương trình, nghị quyết, kế hoạch, quyết định lãnh đạo, chỉ đạo về giảm
nghèo bền vững đúng đắn, phù hợp trong từng giai đoạn cụ thể, có lộ trình, bước đi
phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương, vùng miền. Tuy nhiên, giảm
nghèo bền vững là vấn đề phức tạp, chỉ có những nhận thức đúng đắn, thống nhất
của các chủ thể hoạch định, ban hành và thực thi chính sách mới tạo cơ sở cho việc
thực hiện có hiệu quả chính sách trong thực tiễn. Nhận thức không thống nhất về
16
17
Thứ tư, giảm nghèo bền vững là nội dung xuyên suốt trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, nhằm
tiến tới xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng.
1.2. Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
1.2.1. Các chính sách giảm nghèo bền vững
Giảm nghèo bền vững và đảm bảo an sinh xã hội là một chủ trương lớn, nhất
quán của Đảng và Nhà nước. Trong những năm qua, hệ thống chính sách giảm
nghèo và an sinh xã hội ngày càng được tăng cường, hoàn thiện và hiệu quả hơn,
người nghèo tiếp cận đầy đủ các chính sách hỗ trợ của nhà Nước; một số chính sách
đã đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả, được người dân đồng tình ủng hộ, như
chính sách hỗ trợ người nghèo về thông tin, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, vệ
sinh, chính sách vay tín dụng ưu đãi,… Các chính sách này được đề ra trong Nghị
quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ Về định hướng giảm nghèo bền
vững thời kỳ 2011 - 2020:
1.2.1.1. Các chính sách hỗ trợ giảm nghèo chung
Chính sách hỗ trợ giảm nghèo nói chung được thể hiện qua 6 nội dung, cụ
thể như sau:
Thứ nhất, hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người
nghèo:
Tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo tiếp cận các nguồn vốn, gắn với
việc hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, khuyến công và chuyển giao kỹ thuật,
công nghệ vào sản xuất; thực hiện có hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ
nghèo, nhất là hộ có người khuyết tật, chủ hộ là phụ nữ.
Thực hiện tốt chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nhất là lao
động nghèo; ưu tiên nguồn lực đầu tư cơ sở trường, lớp học, thiết bị, đào tạo giáo
viên dạy nghề; gắn dạy nghề với tạo việc làm đối với lao động nghèo. Mở rộng diện