VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ TRUNG HỒ
ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO
NGƯỜI LAO ĐỘNG CỦA HUYỆN THĂNG BÌNH,
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ TRUNG HỒ
ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO
NGƯỜI LAO ĐỘNG CỦA HUYỆN THĂNG BÌNH,
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành
: Chính sách công
Mã số
: 8 34 04 02
Tác giả luận vân
Võ Trung Hồ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO
NGHỀ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG........................................................................................... 9
1.1. Một số khái niệm liên quan...................................................................................................... 9
1.2. Nội dung, phân loại và các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề.......................13
1.3. Các vấn đề đánh giá chính sách công và đánh giá chính sách đào tạo nghề.....22
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ
TẠI HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM.......................................... 30
2.1. Khái quát chung về huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam................................30
2.2. Chính sách đào tạo nghề tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam...................32
2.3. Kết quả công tác đào tạo nghề tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam..........38
2.4. Đánh giá chính sách đào tạo nghề tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam......44
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG
NAM....................................................................................................................... 56
3.1. Bối cảnh mới và yêu cầu đối với công tác đào tạo nghề...................................56
3.2. Định hướng nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghề tại huyện Thăng Bình,
tỉnh Quảng Nam...................................................................................................... 59
3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách đào tạo nghề trên địa bàn huyện
Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam................................................................................. 61
KẾT LUẬN............................................................................................................ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MTQG
: Mặt trận quốc gia
NQ
: Nghị quyết
TTDN
: Trung tâm dạy nghề
THCS
: Trung học cơ sở
THPT
: Trung học phổ thông
UBND
: Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Kinh phí đầu tư cho công tác đào tạo nghề huyện Thăng Bình giai đoạn
2013 - 2017 ............................................................................................................... 46
Bảng 2.2: Số lượng lao động được đào tạo nghề trên địa bàn huyện Thăng Bình giai
sách, ưu đãi về thuế, đất đai, đào tạo đội ngũ giáo viên, hỗ trợ cơ sở hạ tầng...
để khuyến khích nhiều thành phần kinh tế tham gia vào công tác đào tạo nghề. Đổi
mới phương thức, nâng cao chất lượng dạy và học, gắn đào tạo nghề với nhu cầu
thực tế..”. Bên cạnh đói cần phải quy hoạch lại mạng lưới các cơ sở giáo dục đại
học, giáo dục dạy nghề gắn với việc quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, phát triển
tối đa nguồn nhân lực. Xây dựng các chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho từng
ngành, cho từng lĩnh vực, với các giải pháp thực hiện đồng bộ, cần tập trung cho các
giải pháp đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực trong quá trình sản xuất kinh doanh
trong nhà trường cũng như việc chú trọng nâng cao kỹ năng thực hành và
1
tính chuyên nghiệp trong người lao động.
Trên cơ sở Nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã ban hành Quyết định
1201/QĐ-TTg ngày 31/8/2012 Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia việc làm
và dạy nghề giai đoạn 2012– 2015; Quyết định 2448/QĐ-TTg ngày 16/12/2013 Phê
duyệt Đề án hội nhập quốc tế về giáo dục và dạy nghề đến năm 2020.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XX, nhiệm kỳ 2010 –
2015 nêu rõ: “Bên cạnh việc tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục, có chính sách ưu tiên phát triển đào tạo công nhân kỹ thuật
và trung cấp để thay thế cơ cấu lao động hiện nay. Đồng thời, nâng cao hiệu quả đào
tạo theo hướng liên kết có hiệu quả giữa các trường đào tạo với các doanh nghiệp
trong đào tạo và sử dụng lao động sau đào tạo, tăng cường đào tạo kỹ năng chuyên
sâu, giảm tải thời gian học lý thuyết, tăng thời gian thực hành cho học viên. Tăng
cường đầu tư nâng cấp chất lượng cơ sở vật chất cho các cơ sở đào tạo, chú trọng
xây dựng mới các phòng thí nghiệm, các cơ sở thực nghiệm. Tiếp tục thực hiện có
hiệu quả Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn…”
Cùng với xu thế chung của cả nước, của tỉnh trong những năm qua công tác
đào tạo nghề cũng được huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam chú trọng, cần tập
chính sách đào tạo nghề cho người lao động trên địa bàn huyện chưa được các cấp
ủy Đảng chính quyền địa phương chưa được quan tâm đúng mức; các vấn đề về
đánh giá chính sách đào tạo nghề ít được các tác giả quan tâm nghiên cứu, đẻ có cơ
sở đánh giá góp ý xây dưng chính sách sát với thực tiển nên luận văn này nghiên
cứu đánh giá chính sách đào tạo nghề lao động nông thôn để góp ý bổ sung cho
chính sachs sát với thực tiển.
Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề và yêu cầu nâng cao chất lượng đào
tạo nghề cho lao động trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam trong thời
kỳ mới, xuất phát từ việc vẫn còn ít các nghiên cứu liên quan đến đánh giá và hoàn
thiện chính sách đào tạo nghề ở tỉnh Quảng Nam, tôi chọn đề tài: "Đánh giá chính
sách đào tạo nghề cho người lao động của huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam"
làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công với mong
muốn góp phần nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghề, để góp phần nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng ngày càng tốt yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp
đẩy mạnh CNH, HĐH ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam hiện nay.
3
2. Tình hình nghiên cứu
Công tác đào tạo nghề cho người lao động là một trong những đề tài thu hút
sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, nhà quản lý và của các
chuyên gia; trong đó có thể kể đến:
Tác giả Nguyễn Hoàng Nam (2009), Quản lý nhà nước về đào tạo nghề tại
tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay. [8] Luận văn đã tập trung nghiên vào công
tác đào tạo nghề của các trường dạy nghề, các yếu tố đã ảnh hưởng đến công tác dạy
nghề tại Phú Thọ nhưng chưa nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến đối tượng đào
tạo đặc biệt là lao động ở nông thôn và tỷ lệ sau khi đào tạo có việc làm đạt kết quả
cao hay thấp.
Tác giả Nguyễn Văn Đại (2010), Luận án tiến sĩ kinh tế "Đào tạo nghề cho
của Thành Phố Hà Nội trong bối cảnh diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu
hẹp nhanh chóng để thực hiện đô thị hoá và thực trạng việc hỗ trợ từ phía Nhà nước
5
để giải quyết tạo việc làm cho người lao động nông nghiệp trên địa bàn huyện. Bên
cạnh đó tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị để giải quyết tốt hơn việc giải quyết
việc làm cho người lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá tại huyện Từ
Liêm trong giai đoạn hiện nay.
Qua những công trình nêu trên, chúng ta nhận thấy rằng các tác giả đã đề cập
đến những vấn đề lý luận căn bản trong chính sách đào tạo nghề, đánh giá thực
trạng đào tạo nghề tại một số địa phương hoặc khu vực ở nước ta hiện nay, cùng với
đó gợi mở một số giải pháp nhằm đóng góp cho chính sách đào tạo nghề ngày càng
hoàn thiện và đi vào thực tế của đời sống. Tuy nhiên, các công trình trên đa phần
mới chỉ dừng lại đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề mà chưa có nhiều nghiên
cứu đánh giá chính sách đào tạo nghề, đặc biệt đánh giá chính sách đào tạo nghề từ
thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở xem xét và đánh giá thực trạng chính sách đào tạo nghề cho người
lao động ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, luận văn đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng chính sách đào tạo nghề tại huyện Thăng Bình, tỉnh
Quảng Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:
Một là, hệ thống hóa những lý luận cơ bản về đánh giá chính sách đào tạo
nghề.
Hai là, phân tích những kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân và phân tích
thực trạng và đánh giá chính sách đào tạo nghề ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng
người lao động của huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Trên cơ sở làm rõ các khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu; những
nội dung có liên quan đến chính sách công, chính sách đào tạo nghề cho người lao
động, luận văn sẽ vận dụng vào phân tích thực trạng, đánh giá và đưa ra những giải
pháp để góp phần hoàn thiện chính sách đào tạo nghề ở nước ta nói chung và huyện
Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên các báo cáo, đề án đào tạo nghề của huyện về
chính sách đào tạo nghề, tài liệu thống kê của chính quyền, ban, ngành, đoàn thể, tổ
chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề đánh giá chính sách đào
tạo nghề ở nước ta nói chung và huyện Thăng Bình nói riêng, bên cạnh đó khai thác
thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu bao gồm các văn bản
của Đảng, Nhà nước, các bộ ngành ở Trung ương và địa phương,
* Phương pháp thu thập ý kiến chuyên gia
Luận văn thu thập các ý kiến của một số nhà quản lý các ban, ngành, cơ quan
chuyên môn ở tỉnh, huyện liên quan đến vấn đề đánh giá chính sách đào tạo nghề.
* Phương pháp xử lý số liệu
7
-
-
Phân tích và đánh giá các chính sách đã có;
-
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1. Nghề
Hiện nay, "nghề” được hiểu theo nhiều cách khác nhau: Nghề là một lĩnh vực
hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri
thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp
ứng được những nhu cầu của xã hội.
Theo Từ điển tiếng Việt: “Nghề là công việc chuyên làm theo phân công lao
động trong xã hội”.Với cách tiếp cận này, mỗi người trong hệ thống phân công lao
động xã hội sẽ đảm nhận một hoặc một số công việc, những công việc này lặp đi
lặp lại thường xuyên, từ ngày này sang ngày khác, nội dung của những công việc
đó không hề thay đổi và được hiểu là nghề.
Theo Trần Xuân Cầu, “Nghề cũng đươc hiểu là một hình thức phân công
lao động, nó đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn
thành những công việc nhất định”.[19, tr.105]. Như vậy để có được nghề, người
lao động cần phải có kiến thức về lý thuyết của một hoặc một vài môn khoa học
nào đó, những kỹ năng thực hành đến mức thành thạo.
Mặc dù các khái niệm trên được hiểu theo các góc độ khác nhau, song
chúng ta có thể thấy nghề có các đặc điểm sau: Nghề là hoạt động lao động của
con người được lặp đi lặp lại; được hình thành do sự phân công lao động xã hội,
phù hợp với yêu cầu của xã hội và là phương tiện để sinh sống .
1.1.2. Nghề nghiệp
Nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi ở con người một quá trình đào tạo
chuyên biệt, có đạo đức, phẩm chất phù hợp với yêu cầu của một dạng lao động
tương ứng, kỹ năng, kĩ xảo có những kiến thức chuyên môn nhất định. Trong những
năm gần đây ở Việt Nam do sự chuyển biến của nền kinh tế từ tập trung bao cấp
10
1.1.4. Chính sách công
a. Khái niệm chính sách công
Chính sách công là một công cụ quan trọng của quản lý nhà nước. Thông qua
việc ban hành và thực thi các chính sách, những mục tiêu của Nhà nước được hiện
thực hóa.[11]
b. Đặc điểm cơ bản của chính sách công
-
Các cơ quan nhà nước là chủ thể ban hành chính sách công: Chính sách
công do nhà nước ban hành, vì vậy có thể coi chính sách công là chính sách của nhà
nước.
-
Chính sách công gồm nhiều quyết định (bao gồm luật, các quyết định dưới
luật,... thậm chí cả những tư tưởng của các nhà lãnh đạo thể hiện trong lời nói và
hành động của họ) có liên quan với nhau, đó là một chuỗi các quyết định cùng
hướng vào việc giải quyết một vấn đề chính sách, do một hay nhiều cấp khác nhau
trong bộ máy nhà nước ban hành và thực thi trong một thời gian dài và mang tính
lịch sử.
-
Chính sách công là sản phẩm của quá trình thực thi quyền lực chính trị của
giai cấp cầm quyền (thông qua bộ máy nhà nước); cho nên chính sách đó trước hết
phối hợp giữa các cơ quan thực hiện chính sách. Phân công và phối hợp là nguyên
tắc cơ bản của tổ chức quản lý nhằm phát huy vai trò của từng bộ phận cũng như
hiệu quả tổng hợp của toàn hệ thống. Phân công để giữa các cơ quan không có sự
trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ; nhưng khi thực hiện cần phối kết hợp nhằm bảo
đảm tính tập trung, tạo nên sự liên kết nhịp nhàng, ăn khớp và đồng bộ trong hoạt
động. Phối hợp thể hiện ở tất cả các mặt: con người, công việc, tổ chức…; cần phải
phối hợp chặt chẽ các yếu tố của không gian và thời gian; phối hợp giữa các cấp,
các vùng cho đến từng cá nhân với nhau. Như vây, phân công và phối hợp là hai mặt
của vấn đề thực hiện chính sách, là tiền đề và kết quả của nhau.
1.1.6. Đánh giá chính sách đào tạo nghề
Đánh giá chính sách đào tạo nghề là việc kiểm tra đánh giá lại các tiêu chí cụ
thể của chính sách như sự phù hợp, tính hiệu quả, tính đầy đủ, hiệu xuất và các tác
động của chính sách nhằm có sự điều chỉnh lại cho phù hợp để hoạch định xây dựng
chính sách đào tạo nghề cho người lao động.
12
Chính sách đào tạo nghề sau khi được ban hành và áp dụng vào thực tiễn
trong thời gian nhất định cần phải có đánh giá tác động của chính sách đến đối
tượng thụ hưởng chính sách để xác định hiệu quả chính có nên duy trì hay dừng lại
hoặc điều chính chính sách cho phù hợp .
1.2. Nội dung, phân loại và các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề
1.2.1. Nội dung đào tạo nghề
1.2.1.1. Tuyên truyền tư vấn học nghề và việc làm cho lao động
Đào tạo nghề là nhu cầu thiết thực đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển của
xã hội. Được đào tạo nghề cơ bản, người lao động có nhiều cơ hội xin việc trong
các môi trường làm việc chuyên nghiệp, thu nhập cao và cải thiện kinh tế gia đình.
Tuy nhiên, vẫn không ít đơn vị, địa phương thiếu quan tâm và chưa chú trọng đến
công tác đào tạo nghề; mặt khác, do người dân chưa hiểu hết về hiệu quả của việc
nghề với nhu cầu thực sự của họ và các điều kiện của chính họ để có thể tham gia
vào quá trình đào tạo nghề, xác định khoảng trống giữa kiến thức, kỹ năng cần có
khi tham gia lao động và những kiến thức, kỹ năng mà người học hiện có.
Từ phía người sử dụng lao động: sự phát triển kinh tế của địa phương, lĩnh
vực, ngành nghề hoạt động của các doanh nghiệp và chiến lược phát triển kinh
doanh là yếu tố quan trọng quyết định đến việc sử dụng lao động trong các doanh
nghiệp. Đối với những doanh nghiệp hoạt động trong những ngành công nghiệp
nhẹ, dệt may, da giày, chế biến lương thực thực phẩm,… thì yêu cầu về trình độ
lao động không cao, vì vậy lao động đã qua đào tạo nghề sẽ đáp ứng được nhu cầu
của doanh nghiệp. Đối với những địa phương kinh tế chưa phát triển, chậm phát
triển hay kinh tế xác hội còn nhiều khó khăn thì lao động địa phương chủ yếu là
lao động chưa qua đào tạo hoặc đã qua đào tạo nhưng tay nghề chưa cao. Nhu cầu
sử dụng lao động qua đào tạo nghề của doanh nghiệp là một nhân tố quan trọng
ảnh hưởng đến nhu cầu học nghề của người lao động và sự phát triển của đào tạo
nghề tại địa phương.
Việc xác định nhu cầu đào tạo nghề cần tiến hành theo quy trình:
Xác định yêu cầu về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực, cả cơ
cấu ngành nghề và cơ cấu trình độ.
Điều tra cung, cầu lao động tại đia phương để lập kế hoạch đào tạo nghề
nhằm nâng cao chất lượng cho người lao động
14
Xác định đối tượng đào tạo
Lựa chọn đối tương đào tạo là một bước quan trọng. Thông qua nghiên cứu
động cơ và nhu cầu, khả năng của người đươc đào tạo mà chính quyền địa phương
có thể biết được quá trình đào tạo đó thể có tác dụng như thế nào đối với người lao
động. Qua đó, có thể lựa chọn những lao động phù hợp với mục tiêu của điạ
phương và bản thân người lao động.
tạo
Những yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và yếu tố nêu trên tạo ra sự
chuyển biến rất lớn đối với lao động nông thôn, từu dịch chuyển nơi sinh sống,,
dịch chuyển kỹ năng đến dịch chuyển nghề nghiệp điều này đòi hỏi việc đào tạo
nghề cho lao động nông thôn tập trung vào các nhóm nghề sau: Đào tạo nghề nông
nghiệp với mục đích đào tạo để trở thành những nông dân làm nông nghiệp hiện
đại; đào tạo nghề phi nông nghiệp phục vụ cho các đối tượng nông dân chuyển đổi
nghề nghiệp; đào tạo phục vụ nông dân xuất khẩu lao động; đào tạo một số lao
động tham gia các làng nghề truyền thống tại địa phương với mục đích giữ gìn và
phát huy truyền thống, đồng thời phát triển kinh tế địa phương.
1.2.1.3. Lựa chọn cơ sở dạy nghề tham gia dạy nghề
Đối với địa phương, để công tác đào tạo nghề có hiệu quả thì mỗi địa
phương phải lựa chọn các cơ sở dạy nghề đủ điều kiện tham gia dạy như: có đủ
điều kiện về giáo viên, chương trình, giáo trình, cơ sở vật chất và thiết bị dạy nghề
tốt.
Đối với người học nghề: việc lựa chọn cơ sở dạy nghề có điều kiện dạy
nghề tốt là điều hết sức quan trọng, nó quyết định đến trình độ tay nghề hay khả
năng tìm việc làm mới cho người học.
1.2.1.4. Xây dựng chương trình và lựa chọn hình thức đào tạo
Dù chương trình dạy học ở cấp độ vĩ mô hay vi mô thì đều có 5 yếu tố cơ
bản của hoạt động dạy học: mục tiêu dạy học của chương trình; nội dung dạy học;
hình thức tổ chức và phương pháp dạy học; quy trình kế hoạch triển khai; đánh giá
kết quả.
Mục tiêu dạy học của chương trình: tùy vào tình hình thực tế, nhu cầu đào
tạo nghề, xác định mục tiêu cụ thể của từng chương trình dạy nghề. Các cơ sở đào
16
tạo có trách nhiệm đào tạo theo kế hoạch của địa phương, khi đó có thể đảm bảo
phi nông nghiệp, công nghiệp. Nguồn lực xã hội sẽ bị lãng phí nếu chúng ta không
gắn được với việc làm thì người nông dân sẽ không tham gia học nghề nữa. Do vậy,
trong quá trình đào tạo nghề cho người lao động cần thiết phải có sự kết hợp chặt
chẽ với các doanh nghiệp, nhà sản xuất để họ một mặt tham gia vào quá trình đào
tạo; để người lao động sau khi học nghề có thể được tham gia vào quá trình sản xuất
của doanh nghiệp từ khi còn học và sau khi học nghề xong là có thể làm việc được
ngay với nghề nghiệp của mình đã được học. Việc tổ chức các khoá học với các
phương thức, hình thức khác nhau cho người lao động nông thôn rất quan trọng.
Đạo đạo nghề cho lao động có thể dưới các hình thực khác nhau tại các cơ sở dạy
nghề; dạy nghề theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp dạy nghề lưu động (tại xã,
thôn, bản); dạy nghề tại doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ;
dạy nghề gắn với các vùng chuyên canh, làng nghề;... Các phương thức đào tạo
nghề cần phải thực hiện phù hợp, dạng hoá với từng nhóm đối tượng tham gia học
nghề và theo điều kiện của từng vùng, miền khác nhau, với các junhf thưc đào tạo
như đào tạo tập trung tại cơ sở dạy nghề đối với những nông dân chuyển đổi nghề
nghiệp trung tâm dạy nghề, trường cao đẳng nghề, trung cấp, các cơ sở đủ điệu kiện
tham gia dạy nghề..
1.2.1.5. Tổ chức đào tạo nghề
Tổ chức chương trình đào tạo là một trong những nội dung quan trọng trong
đào tạo nghề cho lao đông nông thôn. Trong giai đoạn này, bộ phận phụ trách đào
tạo thực hiện các nhiệm vụ: tổ chức các lớp đào tạo bằng nhiều hình thức, phương
thức đào tạo khác nhau. Trong quá trình tổ chức cần phải chú ý đến các thiết bị
phục vụ đào tạo, kinh phí cho đào tạo, đội ngũ giảng viên, giáo viên, các hình thức
theo dõi nội dung và tiến độ đào tạo, định kỳ gặp gỡ người dạy và người học để
nắm bắt tình hình, các phát sinh, nắm bắt kết quả từng bước trong quá trình đào tạo
để có thể phối hợp và điều chỉnh kịp thời,… đảm bảo điều kiện và phục vụ tốt nhất
cho quá trình đào tạo.
1.2.1.6. Đánh giá hiệu quả đào tạo nghề