VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TỐNG THỊ NGỌC PHƯỢNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2017
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. TRẦN KHÁNH ĐỨC
Phản biện 1: .............................................................
Phản biện 2: ..............................................................
Luận văn được bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn thạc
sĩ họp tại: Học viện khoa học xã hội ....... giờ ...... ngày ...... tháng
..... năm ......
Có thể tìm hiểu luận văn tại
TNNT và chính sách ĐTN đối với TNNT ở Việt Nam hiện nay;
- Nghiên cứu so sánh kinh nghiệm thực hiện chính sách ĐTN
đối với TNNT của một số địa phương và quốc tế;
- Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện chính sách ĐTN đối
với TNNT tại tỉnh Quảng Nam;
- Đề xuất giải pháp thực hiện chính sách nhằm nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác ĐTN đối với TNNT tại tỉnh Quảng Nam.
3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề thực hiện chính sách
ĐTN đối với TNNT tại tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu từ năm 2011 đến nay
- Về không gian: trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận. Nền tảng là lý luận Mác-LêNin, các
quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về TN, giáo
dục, đào tạo và chính sách ĐTN.
5.2. Phương pháp nghiên cứu. Trên cơ sở các tài liệu thống kê,
điều tra TN, khảo sát nhu cầu học nghề, việc làm hàng năm (20112016) của tỉnh Quảng Nam; các báo cáo về phát triển TN, ĐTN; các
chính sách hiện có của Đảng, Nhà nước và chính quyền của tỉnh
Quảng Nam trong việc phát triển nguồn nhân lực nói chung, phát triển
ĐTN cho TNNT nói riêng. Trong luận văn sử dụng phương pháp chủ
yếu là phương pháp phân tích, tổng hợp, ngoài ra luận văn còn sử
dụng các phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa khoa học. Nhằm cung cấp thêm tài liệu nghiên
xuyên, rộng rãi trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong các lĩnh
vực khoa học xã hội và nhân văn. Có rất nhiều khái niệm về TN do
các quốc gia trên thế giới quan niệm khác nhau.
Theo Điều 1 Luật thanh niên thì TN là công dân Việt Nam từ đủ
16 tuổi đến 30 tuổi. TN không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần
xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp đều được
tôn trọng và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. TN là tương lai của đất
nước, là lực lượng xã hội hùng hậu, có tiềm năng to lớn, xung kích
trong công cuộc xây dựng vào bảo vệ Tổ quốc (Điều 4 Luật Thanh
niên).
Trong điều tra LĐ - VL hàng năm của Bộ LĐ-TB & XH, nhóm
5
LĐTN thường được xác định là nhóm từ đủ tuổi 15 đến hết tuổi 34.
Có quan niệm về TN ở khía cạnh LĐ tự do cho rằng, TN là
người LĐ động tự do trong độ tuổi TN (từ 15 đến 34 tuổi). Nói cách
khác, TN là những người có năng lực LĐ, được làm chủ sức LĐ của
mình, được tự do tìm kiếm việc làm theo năng lực, nguyện vọng của
mình ở bất kỳ nơi nào[15].
Từ những phân tích nêu trên, tác giả Luận văn giới hạn đối
tượng nghiên cứu TN dưới góc độ ĐTN là những người LĐ trong độ
tuổi từ đủ 15 đến hết 34 tuổi.
1.1.1.2. Thanh niên nông thôn
Từ một số khái niệm về TN, xét từ những nét đặc trưng của
vùng NT, có thể khái quát chung:
TNNT là những TN được sinh ra và lớn lên ở NT, trong độ tuổi
từ đủ 15 đến hết 34 tuổi, bao gồm nhiều đối tượng TN khác nhau như
thợ thủ công, giáo viên, công nhân, viên chức. TNNT chiếm chủ yếu
trong cơ cấu TN ở địa phương.
trường khác có tham gia dạy nghề...); ĐTN lưu động cho TN làm
nông dân hiện đại tại các làng, xã, thôn, bản; ĐTN tại nơi sản xuất…
1.2.4. Đánh giá kết quả đào tạo. Kết quả của việc ĐTN cho
TNNT là đào tạo gắn với giải quyết việc làm cho TN. Đây là vấn đề
cốt lõi đối với ĐTN cho TNNT, nhất là đối với nhóm TN cần phải
chuyển sang làm trong lĩnh vực phi NN, CN. Nếu không gắn được với
việc làm thì TN sẽ không tham gia học nghề nữa và nguồn lực xã hội
sẽ bị lãng phí. Do đó, trong quá trình ĐTN rất cần thiết có sự kết hợp
chặt chẽ với các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất để họ một mặt tham
gia vào quá trình đào tạo; mặt khác có thể tạo cơ hội cho người học
được tham gia vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp từ khi còn học
và sau khi học nghề xong là có thể làm việc được ngay với nghề
nghiệp của mình.
1.3. Nội dung thực hiện chính sách ĐTN cho TNNT
1.3.1. Nghiên cứu văn bản và lập kế hoạch thực hiện
1.3.2. Chuẩn bị các nguồn lực và điều kiện thực hiện
1.3.3. Chỉ đạo và tổ chức, phân công thực hiện kế hoạch
1.3.4. Đánh giá kết quả thực hiện
1.4. Một số yếu tố tác động đến quá trình đào tạo nghề cho
TNNT ở nước ta hiện nay
8
1.4.1. Điều kiện tự nhiên
1.4.2. Quy mô và chất lượng của lực lượng TNNT
Để công tác thực hiện chính sách ĐTN cho TNNT đạt hiệu quả,
TNNT cần có một điều kiện đó là phải có trình độ học vấn nhất định.
Điều kiện này có sự khác biệt đáng kể giữa các ngành nghề đào tạo
mà TN mong muốn học nghề cho bản thân.
1.4.3. Cơ sở vất chất cho ĐTN và đội ngũ giáo viên dạy nghề
Theo điều tra LĐ - VL năm 2015, toàn tỉnh có 393.033 TNNT
đang làm việc, trong đó có 188.109 TNNT đã tốt nghiệp THPT, chiếm
khoản 47%; 150.719 TNNT đã tốt nghiệp THCS, chiếm khoản 38%;
48.335 TNNT đã tốt nghiệp Tiểu học, chiếm khoản 12%; 5.871
TNNT chưa tốt nghiệp Tiểu học chiếm khoản 3%.
2.1.2.3. Thực trạng về trình độ chuyên môn kỹ thuật
Số lượng TN có trình độ CMKT ở tỉnh Quảng Nam không
ngừng tăng lên cả về số tuyệt đối và số tương đối qua từng năm. Theo
số liệu thống kê của Cục thống kê và báo cáo kết quả điều tra LĐ-VL
hằng năm, nếu như năm 2011, đội ngũ TN có trình độ CMKT là
39.971 chiếm 10,11% so với LLTN, thì đến 2015 tăng lên 49.679
người chiếm 12,64% và có sự chênh lệch đáng kể về tỷ lệ TN đang
làm việc đã qua đào tạo giữa thành thị và NT (30,36% và 12,64%) .
Qua điều tra các năm, nhóm TN ly hương chiếm đa số là TN đã qua
đào tạo ở các hình thức khác nhau, và nhóm công nhân, TN có tay
nghề nhưng chưa được cơ sở đào tạo kiểm tra công nhận cấp chứng
chỉ, nên ở đây có thể thống nhất xem nhóm TN này thuộc TN có trình
độ CMKT
2.1.2.4. Chuyển dịch cơ cấu TNNT
Do có những tác động tích cực của chuyển động cơ cấu kinh tế,
công tác thực hiện chính sách ĐTN và giải quyết việc làm, cơ cấu
TNNT tỉnh Quảng Nam chuyển dịch theo hướng tăng dần TNNT làm
việc trong các ngành dịch vụ, CN và xây dựng cơ bản, giảm dần tỷ lệ
TNNT trong ngành nông - lâm - thuỷ sản (Bảng 2.4).
2. 2. Thực trạng về ĐTN cho TNNT tỉnh Quảng Nam
2.2.1. Thực trạng về nhu cầu thanh niên qua đào tạo nghề
10
Thứ nhất, nhu cầu thanh niên qua ĐTN trong lĩnh vực phi NN
Hình thức đào tạo, chủ yếu vẫn là các hình thức ĐTN ở trình độ
sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên (chiếm gần 72%) bao gồm cả
loại được nhà nước hỗ trợ và tự chủ động đi học nghề tuy nhiên đối
tượng TN được đào tạo ở trình độ Trung cấp nghề đã có tín hiệu gia
tăng, chiếm hơn 13% số người được phỏng vấn, và có gần 15% còn lại
là vẫn phải theo học nghề dưới hình thức vừa học vừa làm.
Tình hình thực hiện chương trình ĐTN, tại các cơ sở ĐTN trên
địa bàn tỉnh Quảng Nam, vẫn đang thực hiện các chương trình tự biện
soạn (đối với ĐTN trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên) và
biên soạn chương trình theo hướng dẫn của Bộ LĐ-TB&XH (đối với
ĐTN trình độ Trung cấp nghề trở lên), thời gian đào tạo của chương
trình chủ yếu là trong khoảng từ 1-12 tháng (chiếm gần 86%) số còn
lại tham gia trong các khóa ĐTN theo chương trình trên 12 tháng.Tình
hình tổ chức các hình thức đào tạo và thực hiện chương trình ĐTN
cho TNNT ở tỉnh Quảng Nam, là chưa có sự gắn kết cao giữa cơ quan
hỗ trợ chương trình ĐTN, các cơ sở ĐTN và doanh nghiệp, cộng thêm
về tính tự phát không được tư vấn nghề của TNNT.
2.2.4. Lựa chọn phương pháp và cơ sở đào tạo
Theo kết quả điều tra nhu cầu học nghề tại trên địa tỉnh Quảng
Nam thì có chỉ có khoản 30% số TN đang làm việc tại các doanh
nghiệp đã được học nghề trước khi tuyển dụng vào làm việc và hơn
70% còn lại chưa qua ĐTN trước khi được tuyển dụng.
2.2.4.1. Tình hình ĐTN trong các doanh nghiệp
2.2.4.2. Tình hình ĐTN trong các cơ sở dạy nghề
2.2.5. Đánh giá kết quả đào tạo. Về đánh giá chất lượng LĐTN
qua thực hiện chính sách ĐTN ở các cơ sở dạy nghề, đã cho thấy chất
lượng từng bước được nâng lên cả về kỹ năng thực hành và đạo đức.
Kết quả điều tra tại các trường: Trường CĐ nghề Quảng Nam, CĐKT
2.3. Thực trạng thực hiện chính sách về ĐTN, việc làm của
nhà nước đối với TNNT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
2.3.1. Về thực hiện chính sách về ĐTN cho TNNT
Công tác quản lý thực hiện chính sách ĐTN trên toàn tỉnh
Quảng Nam hầu hết do Phòng Dạy nghề của Sở LĐ-TB& XH thực
13
hiện chức năng tham mưu với lãnh đạo Sở và các Cơ quan liên quan
quản lý Nhà nước về chính sách ĐTN, đến nay chưa có cán bộ phân
công theo dõi riêng cho lĩnh vực hoạt động này, mọi hoạt động quản
lý về ĐTN hầu hết do sự chỉ đạo theo dõi trực tiếp từ cơ quan quản lý
cấp trên. Hàng năm, Tỉnh đoàn Quảng Nam phối hợp với các doanh
nghiệp tổ chức ngày hội việc làm, sàn giao dịch việc làm, qua đó đã
tạo cơ hội cho TN tìm được công việc ổn định. Đồng thời phối hợp
với các ngành liên quan chuyển giao khoa học kỹ thuật, xây dựng các
mô hình kinh tế, tập huấn, trang bị kiến thức cho TNNT về xây dựng
HTX kiểu mới. Quảng Nam đã có nhiều chính sách dạy và học nghề
phù hợp với điều kiện của tỉnh, như chính sách học phí, trợ cấp xã hội
và chú trọng ĐTN cho TNNT, bộ đội xuất ngũ, TN người đồng bào
dân tộc thiểu số, TN chấp hành xong án phạt tù... các chính sách này
đã tác động rất lớn đến phát triển sự nghiệp ĐTN và việc làm của tỉnh
cả về quy mô, cơ cấu, chất lượng.
2.3.2. Về thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho TNNT
sau ĐTN
Kết quả đạt được từ những chính sách về phát triển ĐTN và
việc làm cho TNNT của tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2015 có
51.800 người được giải quyết việc làm sau ĐTN, NSNN và địa
phương hỗ trợ cho ĐTN và việc làm là 179.975 triệu đồng.
2.4. Đánh giá chung về thực hiện chính sách ĐTN cho
Nguyên nhân chủ quan
- Tỉnh Quảng Nam vẫn chưa có quy hoạch tổng thể hoạt động
ĐTN cho TNNT trên địa bàn.
- Các ngành chưa thực sự quan tâm đến công tác ĐTN, đầu tư
cho hoạt động ĐTN còn ít so với yêu cầu.
- Công tác quản lý nhà nước về ĐTN cho TNNT chỉ có tác
nghiệp ở tỉnh,
- Công tác phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể trong công
tác chăm lo, giáo dục, đào tạo, giải quyết việc làm cho TN chưa
thường xuyên, thiếu chặt chẽ và chưa mang lại hiệu quả cao.
- Một số cơ chế, chính sách chậm được ban hành hoặc đã ban
15
hành nhưng chưa phù hợp với thực tiễn, do đó chậm đi vào cuộc sống,
làm ảnh hưởng đến quyền lợi của LĐTN.
- Các cơ sở ĐTN chưa tạo “thương hiệu” của mình để quảng bá
“sản phẩm” đào tạo của mình với các doanh nghiệp, các nhà đào tạo
còn quan hệ khá lỏng lẻo với nhà tuyển dụng, đội ngũ giáo viên ĐTN
và cán bộ quản lý về ĐTN rất mỏng về số lượng, hạn chế về chất
lượng.
- Thông tin thị trường LĐ chưa phát triển, TN còn thiếu thông
tin, có nơi TN thất nghiệp, nhưng doanh nghiệp lại không tuyển dụng
được TN cần thiết, nhất là đội ngũ TNNT có trình độ cao.
- Tâm lý "thích làm thầy hơn làm thợ" trong bộ phận lớn LLTN
xã hội và phụ huynh của họ vẫn còn đeo bám, nặng nề. Tâm lý khoa
cử, đỗ đạt vào các trường ĐH không muốn cho con vào học nghề, coi
học nghề như là sự lựa chọn bất đắc dĩ… Người TN thì thụ động,
trông chờ, không chủ động tham gia thị trường LĐ.
Tiểu kết Chương 2
- Do trình độ phát triển của KH - CN thời gian đến là rất cao, bắt
buộc TN phải được đào tạo ở trình độ cao hơn, cho nên cần khẩn trương
hình thành và phát triển hệ thống ĐTN với ba trình độ đào tạo là Sơ
cấp, Trung cấp và Cao đẳng như đã quy định tại Quyết định 1956 Chính
phủ
- ĐTN cho TNNT phải bám sát các mục tiêu quy hoạch, chiến
lược phát triển KT - XH của tỉnh, với thị trường LĐ của khu vực, của
cả vùng, cả nước.
- Mở rộng quy mô, tăng số lượng TNNT qua ĐTN cần đi đôi
với đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo
- Đa dạng các hình thức đào tạo, đảm bảo cơ cấu đào tạo kỹ
thuật thực hành một cách hợp lý với tốc độ, trình độ đổi mới thiết bị
công nghệ trong sản suất, kinh doanh, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu kinh
tế và phù hợp với mọi lứa tuổi, trình độ của LLTN. Một mặt cần đào
tạo nhanh và đào tạo lại đội ngũ TN bán lành nghề.
- Đẩy mạnh xã hội hoá ĐTN trên địa bàn.
17
- Đổi mới công tác quản lý nhà nước các cấp đối với hệ thống
ĐTN trên địa bàn. Hệ thống ĐTN theo ba trình độ sơ cấp, trung cấp và
CĐ
- Tuyên truyền, thực hiện tốt và đảm bảo Nghị quyết số
12/2016/NQ-HĐND ngày 19/7/2016 và Quyết định số 3577/QĐUBND ngày 14/10/2016 của UBND tỉnh Quảng Nam về Quy định về
chính sách hỗ trợ và Cơ chế hỗ trợ đào tạo lao động cho chương
trình, dự án trọng điểm và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng
Nam giai đoạn 2016-2020.
3.1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ phát triển ĐTN cho TNNT giai
đoạn 2016-2020
- Dạy nghề cho khoảng 67.500 TNNT (23.200 người học nghề
Giáo viên, nghệ nhân, thợ bậc cao... có tham gia ĐTN đạt chuẩn về
chuyên môn, nghiệp vụ. Có cơ chế, chính sách đào tạo, bồi dưỡng, đãi
ngộ, thu hút, tôn vinh giáo viên dạy nghề trên địa bàn.
- Kết hợp với các cơ quan quản lý cấp trên về việc tập trung
nguồn ngân sách và nhân lực cho công tác khảo sát nhu cầu học nghề
của TNNT và nhu cầu tuyển dụng TN qua đào tạo của các doanh
nghiệp hằng năm, để từ đó có hướng về ĐTN cho TNNT đạt kết quả
cao nhất.
3.2. Một số giải pháp thực hiện chính sách ĐTN cho TNNT
tại tỉnh Quảng Nam
3.2.1. Xóa bỏ rào cản nhận thức xã hội về phát triển ĐTN cho
TNNT
Đây là công tác rất quan trọng cần có sự chỉ đạo đồng bộ của
các cơ quan quản lí nhà nước để đảm bảo TNNT và kể cả một số cán
bộ quản lí cấp cơ sở được nâng cao nhận thức về dạy và học nghề
phục vụ xóa đói giảm nghèo, phát triển KT - XH, cũng như tạo ra sự
hướng nghiệp tốt cho đại bộ phận TN.
3.2.2. Điều chỉnh cơ cấu đầu tư, hoàn thiện cơ cấu kinh tế
nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu LĐ hợp lý và tạo cầu LĐTN
qua ĐTN
Điều chỉnh cơ cấu đầu tư, hoàn thiện cơ cấu KT nhằm đẩy
19
mạnh chuyển dịch cơ cấu LĐ và tạo cầu LĐTN qua ĐTN là hết sức
cần thiết, giải quyết việc làm mới sẽ tăng thêm trong nền kinh như vậy
mới giải quyết được đầu ra cho ĐTN. Vì vậy, từ năm 2015, tỉnh
Quảng Nam đã có chủ trương từ hoàn thiện cơ cấu kinh tế của tỉnh là:
“NN - CN - dịch vụ ” và làm tiền đề từ năm 2016 trở đi chuyển sang
cơ cấu kinh tế là: “CN - dịch vụ - NN”.
đảm bảo sự cân bằng cung cầu trên thị trường LĐ nói chung.
3.3. Mối quan hệ và kết quả lấy ý kiến chuyên gia về các giải
pháp đề xuất
3.3.1. Mối quan hệ giữa các giải pháp đề xuất
Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ
XXI về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng “CN - Dịch vụ - NN”.
Nhóm giải pháp nêu trên có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, bắt đầu từ việc
hoàn thiện cơ chế cho đến từng bước hoàn thiện và đổi mới hệ thống
ĐTN; thực hiện tốt các chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp đầu tư
vào ĐTN, chính sách ưu đãi đối với học viên, tính toán hợp lý giữa "đầu
vào"và "đầu ra"; từng bước thay đổi thái độ định hướng nghề nghiệp đối
với xã hội nói chung và TNNT nói riêng, thu hút ngày càng nhiều TNNT
được đào tạo, làm việc, lập nghiệp với tay nghề chất lượng cao, góp phần
lớn vào phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà.
3.3.2. Kết quả lấy ý kiến chuyên gia về các giải pháp đề xuất
Tiểu kết Chương 3
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Qua nghiên cứu đề tài “thực hiện chính sách ĐTN cho TNNT từ
thực tiễn tỉnh Quảng Nam ”, luận văn đã rút ra được một số nhận xét
như sau:
Luận văn đã nêu lên được những nội dung về TNNT và đặc điểm
của TNNT. Hệ thống hoá cơ sở lý luận chung về ĐTN, làm rõ một số
đặc trưng và hình thức ĐTN cơ bản hiện nay; phân tích các nội dung
chủ yếu đối với việc thực hiện chính sách ĐTN cho TNNT và các yếu
tố tác động đến việc thực hiện chính sách ĐTN. Luận văn cũng đã đưa
21
ra các mô hình về chính sách ĐTN ở các nước và các địa phương trong
tổ chức đào tạo; phát triển qui mô các cơ sở GDNN và đào tạo đội ngũ
giáo viên dạy nghề và hoàn thiện công tác công tác đánh giá kết quả
đào tạo.
Tuy nhiên, Đề tài được nghiên cứu trong bối cảnh đất nước
trong những năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của
Đảng. Tỉnh Quảng Nam thực hiện Nghị Quyết Đại hội lần thứ XXI
của Đảng bộ tỉnh với quyết tâm của nhân dân toàn tỉnh đưa Quảng
Nam trở thành trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020. Ngoài ra các
chiến lược lâu dài của Đảng và Nhà nước về NN - Nông dân - NT, xây
dựng NT mới, chính sách ĐTN cho TNNT, giảm nghèo bền vững cho
TNNT… còn trong giai đoạn những năm đầu triển khai thực hiện rút
kinh nghiệm. Do vậy, có rất nhiều quan điểm, chủ trương mới, giải
pháp liên quan đến phát triển ĐTN cho TNNT mà luận văn chưa cập
nhật kịp thời điều chỉnh, chỉnh sửa cho phù hợp.
Luận văn cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót khác. Kính
mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô, quý đồng nghiệp và những
người quan tâm đến lĩnh vực thực hiện chính sách ĐTN cho TNNT để
luận văn thêm hoàn chỉnh và có đóng góp thiết thực hơn.
2. Kiến nghị
Trên cơ sở nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách ĐTN cho
TNNT tại địa phương, tôi xin đưa ra các kiến nghị sau:
2.1. Đối với cấp Trung ương và cấp tỉnh
2.1.1 Cấp Trung ương
- Phối hợp với các bộ ngành liên quan sớm ban hành đầy đủ các
văn bản hướng dẫn Luật GDNN;
- Trong điều kiện Quảng Nam hiện nay vẫn là tỉnh khó khăn về
ngân sách, kính đề nghị Trung ương tiếp tục tăng cường phân bổ kinh
phí để: đầu tư xây dựng hoàn chỉnh dự án Trường Trung cấp nghề TN