Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn từ thực tiễn tỉnh quảng nam - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN NĂNG LƢỢNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN NĂNG LƢỢNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60.34.04.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:


NGÃI .............................................................................................................. 38
2.1. Điều kiện xã hội và tình hình KT-XH của khu vực nghiên cứu .............. 38
2.2. Kết quả thực hiện mục tiêu chính sách phát triển CNTT tại tỉnh Quảng Ngãi
từ năm 2010 đến nay ....................................................................................... 40
2.3. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phát triển CNTT từ thực tiễn
tỉnh Quảng Ngãi .............................................................................................. 42
2.4. Đánh giá chung về việc tổ chức, thực hiện chính sách phát triển CNTT tại
tỉnh Quảng Ngãi .............................................................................................. 54
CHƢƠNG 3. PHƢƠNG HƢỚNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG
NGHỆ THÔNG TIN ..................................................................................... 59


3.1. Phương hướng, mục tiêu nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát
triển CNTT ...................................................................................................... 59
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển CNTT ...... 63
3.3. Một số kiến nghị về thực hiện chính sách phát triển CNTT .................... 78
KẾT LUẬN .................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNH-HĐH

: Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa

CNTT


XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trước đây, khi đề cập đến các nguồn tài nguyên cho phát triển, người ta
thường cho rằng, đó là các yếu tố con người, máy móc, vật liệu và vốn (Men,
Machines, Materials và Money). Thế nhưng, trong thời đại ngày nay, khi nói
đến tài nguyên phát triển, không thể không nhắc đến yếu tố thứ năm rất quan
trọng đó là thông tin (Information).
Sự xuất hiện của yếu tố thứ năm là thông tin đã tạo ra sự thay đổi lớn
mang tính cách mạng về phương thức làm việc và mô hình phát triển trong
thế giới công nghiệp hoá. Khi thông tin đã thực sự trở thành một lực lượng
sản xuất vật chất quan trọng được thừa nhận ở tất cả các quốc gia, được sử
dụng thường xuyên trong các hoạt động kinh tế và xã hội (KT-XH) thì bước
chuyển từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin sẽ là tất yếu. Cuộc cách
mạng về công nghệ thông tin (CNTT) đang diễn ra trên quy mô toàn cầu và
càng ngày càng đi vào chiều sâu, không loại trừ bất cứ quốc gia nào. Nó đã và
đang tạo ra một bối cảnh cho sự ra đời của những cái mới.
Ngày nay, CNTT là một trong những động lực quan trọng nhất của sự
phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác, nó có tác dụng làm
biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại. Vì
vậy, CNTT cũng có sức ảnh hưởng rất lớn đối với đất nước đang phát triển
như Việt Nam khi bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,
HĐH). Ngay từ thời kỳ chống Mỹ cứu nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã
có chủ trương vận dụng CNTT trong một số lĩnh vực. Nhất là từ khi bước
sang thời kỳ đổi mới, chủ trương ứng dụng CNTT đã được nhấn mạnh và cụ
thể hoá trong nhiều nghị quyết của Đảng và Chính phủ. Chẳng hạn như: Nghị


2


triển nhanh một xã hội tri thức, thu hẹp sự khác biệt về kỹ thuật số, sự thông
thoáng và hiệu quả khi người dân được tiếp cận với hệ thống hành chính, luật
pháp và thông tin hiện đại trong nhiều lĩnh vực. Cũng như các tỉnh, thành phố
khác trong cả nước, trong điều kiện đổi mới, Quảng Ngãi chủ trương tiếp tục
nâng cao sức cạnh tranh về thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài. Cơ
sở hạ tầng về thông tin và trình độ ứng dụng CNTT là một trong những vấn
đề được nhà đầu tư rất quan tâm khi tìm kiếm cơ hội đầu tư. Ngoài ra, các nhà
đầu tư cũng rất quan tâm đến sự sẵn sàng và tính mau lẹ của chính quyền địa
phương trong việc giải quyết vướng mắc cho doanh nghiệp. Ứng dụng CNTT
và vận hành có hiệu quả CPĐT, TMĐT, cộng đồng điện tử sẽ làm tăng sức
hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài. Tuy
nhiên, mặt bằng CNTT của tỉnh Quảng Ngãi hiện nay vẫn ở trình độ thấp
kém, phát triển chậm, có nguy cơ không, chưa đáp ứng yêu cầu của cuộc
sống, tụt hậu xa hơn so với các nhiều địa phương và khu vực khác. Có thể liệt
kê những vấn đề tồn tại sau đây ở Quảng Ngãi, đó là: CNTT chưa đáp ứng
được yêu cầu của tiến trình CNH, HĐH và yêu cầu về hội nhập khu vực và
quốc tế; vai trò động lực và tiềm năng to lớn của CNTT chưa được phát huy
mạnh mẽ; nguồn nhân lực CNTT chưa được chuẩn bị và phát triển kịp thời cả
về số lượng và chất lượng; mạng viễn thông và Internet chưa thuận lợi, chưa
đáp ứng các yêu cầu về tốc độ, chất lượng cho CNTT; đầu tư cho CNTT chưa
tương xứng với tiềm năng; QLNN về lĩnh vực này vẫn còn mơ hồ, yếu kém;
ứng dụng CNTT ở một số nơi còn hình thức, chưa thiết thực và hiệu quả chưa
cao... Có nhiều yếu tố tác động, nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan
dẫn đến thực trạng trên. Tình hình đó đòi hỏi phải có những công trình nghiên
cứu về lĩnh vực này, cả dưới góc độ lý luận lẫn góc độ thực tiễn. Nguyên nhân
của những tồn tại nêu trên chủ yếu là do nhận thức của các cấp, các ngành và

Quốc gia về CNTT, Nxb. Giao thông vận tải, Hà Nội, năm 1997; “Kỷ yếu hội
thảo khoa học Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” của

4


Ban Khoa giáo Trung ương, Bộ KHCN và Môi trường và Bộ Ngoại giao, Hà
Nội, năm 2002; “Ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH,
HĐH” của Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương,
Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2001; “Chủ nghĩa tư bản và thời đại
thông tin” của Bộ KHCN và Môi trường, Lưu hành nội bộ, Hà Nội, năm
2001; “CNTT Hà Nội cất cánh” của Hội Tin học Việt Nam, tạp chí Tin học và
Đời sống, (số 3, 5, 6, 9, 11); “Thương mại Điện tử”, tác giả Vũ Ngọc Cừ,
Trịnh Thanh Lâm, Nxb. Giao thông vận tải, năm 2001. Tuy nhiên, chưa có
một đề tài nào nghiên cứu một cách hệ thống về việc thực hiện chính sách
phát triển CNTT tại tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay.Vì vậy, đề tài
không trùng lặp với các đề tài, công trình nghiên cứu đã công bố. Những tài
liệu trên giúp ích cho việc tham khảo, đối chứng, so sánh trong quá trình
nghiên cứu đề tài của tác giả luận văn.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn có mục tiêu: trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ
bản về CNTT và chính sách phát triển CNTT, đánh giá thực trạng và những
yếu tố tác động đến chính sách phát triển CNTT của tỉnh Quảng Ngãi, từ đó
đề xuất những giải pháp chính sách phát triển CNTT trong việc phục vụ phát
triển KT-XH của tỉnh Quảng Ngãi.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu của đề tài, luận văn xác định các nhiệm vụ
sau đây:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về CNTT và chính sách phát

6.1. Ý nghĩa lý luận
Góp phần bổ sung hoàn thiện những vấn đề lý luận chung về thực hiện
chính sách công nói chung và chính sách phát triển CNTT nói riêng. Đề xuất
các phương hướng và giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách

6


phát triển CNTT.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Là tài liệu để giúp cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương tham khảo để
thực hiện tốt và có hiệu quả chính sách phát triển CNTT.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về CNTT và thực hiện chính sách phát
triển CNTT.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển CNTT, tỉnh Quảng
Ngãi.
Chương 3: Phương hướng, mục tiêu và giải pháp nâng cao hiệu quả thực
hiện chính sách phát triển CNTT.

7


CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
1.1. Khái niệm CNTT và chính sách phát triển CNTT

- Khái niệm chính sách và chính sách công
Cho đến nay có khá nhiều định nghĩa về chính sách công được các học
giả đưa ra. Cho dù có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng tất cả các định
nghĩa đều thống nhất ở hai điểm cơ bản, đó là chính sách công bắt nguồn từ
các quyết định của Nhà nước và dùng để giải quyết những vấn đề chung vì lợi
ích của đời sống cộng đồng.
Thomas Dye đưa ra một định nghĩa ngắn gọn về chính sách công là: “bất
kỳ những gì mà nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”. Khái niệm về chính
sách công của William Jenkins cụ thể thơn so với định nghĩa trên. Theo ông,
chính sách công là: “một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau được
ban hành bởi một nhà hoạt động chính trị hoặc một nhóm các nhà hoạt động
chính trị liên quan đến lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mục
tiêu trong một tình huống cụ thể thuộc phạm vi thẩm quyền của họ”. Còn
James Anderson đưa ra một định nghĩa chung hơn, mô tả chính sách như là:
“một đường lối hành động có mục đích được ban hành bởi một nhà hoạt động
hoặc một nhóm các nhà hoạt động để giải quyết một vấn đề phát sinh, hoặc
vấn đề quan tâm”.
Chính sách công là tập hợp những quyết định mang tính chính trị của
chủ thể cầm quyền nhằm vạch ra những đường hướng hành động ứng xử cơ
bản của chủ thể quản lý với các vấn đề, hiện tượng tồn tại trong đời sống.
Khái niệm chính sách công được khái quát như sau: “Chính sách công là tập

9


hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các
mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của
xã hội theo mục tiêu xác định của đảng chính trị cầm quyền“.[18]
Chủ thể ban hành là nhà nước. Các quyết định về chính sách công là
những quyết định chính trị, bao hàm ý chí chính trị và thực tiễn cuộc sống

xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ”.
- Theo PGS.TS. Mai Hà “Phát triển là một sự gia tăng về lượng và chất
trong mối tương quan cân đối hài hoà”.
Từ các định nghĩa nêu trên ta nhận thấy nhiều quan điểm khác nhau,
quan điểm siêu hình chỉ tăng về lượng, không tăng về chất, quan điểm chung
là tạo ra cái mới tốt hơn, tiến bộ hơn, với sự gia tăng về lượng và chất. Tuy
nhiên có một cách nhìn rất hợp lý của Mai Hà “phát triểnlà sự gia tăng về
lượng và chất phải được đặttrong mối tương quan cân đối hài hoà”.
- Khái niệm chính sách phát triển công nghệ thông tin
Từ các khái niệm trên, tác giả luận văn đưa ra khái niệm chính sách phát
triển công nghệ thông tin như sau:
Chính sách phát triển công nghệ thông tin là các quyết định, hành động
của nhà nước nhằm đưa ra các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực
hiện để giải quyết các vấn đề về phát triển của ngành công nghệ thông tin.
1.2. Khái niệm, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách phát
triển CNTT
1.2.1. Khái niệm thực hiện chính sách phát triển CNTT
Thực hiện chính sách công nói chung, chính sách phát triển CNTT nói
riêng là quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách phát triển CNTT
thành hiện thực. Thực hiện chính sách phát triển CNTT là khâu đặc biệt quan
trọng trong chu trình chính sách phát triển CNTT: Nó có nhiệm vụ hiện thực
hóa chính sách phát triển CNTT của Nhà nước, đưa chính sách phát triển
CNTT của Nhà nước vào cuộc sống. Tổ chức thực hiện chính sách phát triển

11


CNTT là trung tâm kết nối các khâu (các bước) trong chu trình chính sách
phát triển CNTT.
1.2.2. Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách phát

sách có kinh nghiệm đề ra được các giải pháp hữu hiệu trong thực hiện chính
sách. Như vậy thực hiện chính sách phát triển CNTT có ý nghĩa và tầm quan
trọng đặc biệt cần phải đặc biệt quan tâm đến khâu thực hiện chính sách phát
triển CNTT. Thực tiễn thời gian qua có nhiều chính sách phát triển CNTT
chúng ta tổ chức thực hiện tốt, nhưng cũng có một số chính sách thực hiện
chưa tốt dẫn đến nền CNTT nước nhà còn kém so với các nước trong khu
vực.
Ngoài ra chính sách phát triển CNTT là chính sách có tính đặc thù do đó
trong tổ chức thực hiện chính sách phát triển CNTT phải chú ý đến tính đặc
thù này để có giải pháp thích hợp, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả chính sách.
Tổ chức thực hiện chính sách phát triển CNTT là yêu cầu tất yếu khách
quan để duy trì sự tồn tại của chính sách với công cụ vĩ mô theo yêu cầu quản
lý của nhà nước về CNTT.
1.3. Thiết kế chính sách phát triển CNTT
1.3.1. Xác định vấn đề chính sách phát triển CNTT
Để xây dựng chu trình chính sách hiệu quả, điều đầu tiên chúng ta cần xác
định chính xác và kịp thời vấn đề chính sách. Nếu xác định vấn đề sai sẽ dẫn
đến vấn đền chính sách công sai, tất yếu chu trình chính sách sẽ sai, kéo theo
nhiều tổn thất và hệ lụy trong xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển
của đất nước. Do đó, muốn xác định được vấn đề chính sách đòi hỏi chủ thể
xây dựng chính sách phải thường xuyên quan sát và phân tích thực tế để kịp
thời chỉ ra và dự báo được những mâu thuẫn cơ bản nảy sinh trong đời sống
KT-XH cần được giải quyết nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Vấn đề của chính sách phát triển CNTT là chưa triển khai được các
chính sách một cách rộng rãi trong đời sống xã hội, chưa phát huy được hết

13


tiềm năng và sức mạnh của CNTT, chưa có những chính sách ưu đãi rõ ràng

chung đã và đang quantâm nhiều đến công tác đào tạo, bồi dưỡng sử dụng
nguồn nhân lực, tuy nhiên hiệuquả vẫn chưa cao, đào tạo bồi dưỡng nhiều
khi còn lãng phí, không phù hợp vớithực tiễn công việc. Sử dụng cán bộ
được đào tạo về công nghệ thông tin vào những vị trí chưaphù hợp, chưa
đúng chuyên môn.
d. Vấn đề quản lý nhà nước đối với lĩnh vực CNTT
Quản lý nhà nước có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách
CNTT. Để đổi mới quản lý nhà nước về CNTT các nhà lãnh đạo cần kết
hợpchặt chẽ giữa ứng dụng CNTT với quá trình cơ cấu lại sản xuất, kinh
doanh, cảicách hành chính, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và sự
quản lý của Nhànước. Quản lý nhà nước trong các lĩnh vực phát triển CNTT,
viễn thông và thông tin điện tửchưa thống nhất, thiếu đồng bộ, chưa tạo được
môi trường cạnh tranh lành mạnhcho việc cung ứng dịch vụ viễn thông, chưa
coi đầu tư cho xây dựng hạ tầng thôngtin là loại đầu tư xây dựng hạ tầng KTXH. Hiện nay, hệ thống quản lý nhà nước vềphát triển CNTT gồm các cơ
quan quản lý các cấp về CNTT ở Trung ương và địa phương. Tuy nhiên chức
năng, nhiệm vụ của một số cơ quan, đơn vị còn chồng chéo chưaphù hợp với
từng địa phương; Chưa có các chính sách phù hợp để quản lý, phát triển và
ứngdụng CNTT một cách thống nhất.
Như vậy, trong các chủ trương phát triển CNTT nói chung, vấn đề thực
hiệnchính sách phát triển CNTT luôn có một vị trí cực kỳ quan trọng và là
yếu tố đượcChính phủ, các cấp, các ngành và toàn xã hội đặc biệt quan tâm.
1.3.2. Mục tiêu chính sách phát triển CNTT
Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra mục tiêu đối với ngành CNTT là phát
triển mạng thông tin quốc gia trên quy mô cả nước, với băng thông rộng,
dung lượng lớn, tốc độ và chất lượng cao, ổn định, giá thành thấp; Tăng tỷ lệ
người tiếp cận với các ứng dụng CNTT và sử dụng mạng Internet; Đưa CNTT

15




phát triển nguồn nhân lực CNTT trong từng mốc thời gian cụ thể để có kế
hoạch triển khai đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn; Đồng thời
đổi mới việc tuyên truyền để người dân, doanh nghiệp, các tổ chức hiểu được
vị trí, tầm quan trọng, đánh giá đúng những thành tựu đạt được của CNTT.
Bên canh đó, Đảng và Nhà nước cần quan tâm hơn nữa đến việc hoàn
thiện các chính sách đối với lĩnh vực phát triển CNTT. Hiện nay, chưa có
Thông tư hướng dẫn một cách nhất quán, cụ thể và rõ ràng nên việc triển khai
thực hiện chính sách phát triển CNTT từ Trung ương đến địa phương còn bất
cập và chưa có sự đồng bộ cao.
Ứng dụng rộng rãi, có hiệu quả CNTT trong toàn xã hội
Các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội đi đầu trong
việc triển khai, ứng dụng CNTT trong hoạt động chuyên môn theo phương
châm tiết kiệm, thiết thực và hiệu quả lâu dài. Ứng dụng CNTT thể hiện ở
việc tin học hóa hoạt động của các cơ quan Đảng và Nhà nước là bộ phận hữu
cơ quan trọng của cải cách nền hành chính quốc gia, là nhiệm vụ thường
xuyên của các cơ quan nhằm tăng cường năng lực quản lý, nâng cao năng
suất, chất lượng, hiệu quả. Đồng thời các cấp ủy Đảng chỉ đạo khẩn trương
xây dựng các hệ thống thông tin cần thiết phục vụ lợi ích công cộng của nhân
dân, phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.
Song song với việc ứng dụng CNTT, chúng ta cũng cần tập trung phát
triển những dịch vụ điện tử trong các lĩnh vực thương mại, thương mại điện tử
và các dịch vụ công cộng (giáo dục, đào tạo từ xa, chữa bệnh từ xa, thư viện
điện tử,…); Để có thể ứng dụng CNTT trong toàn xã hội thì Nhà nước cần tạo
môi thuận lợi cho ứng dụng CNTT; cần rà soát và tháo bỏ những nhận thức và
quy định không phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi nhất, áp dụng mức ưu đãi
hiện hành cao nhất và từng bước đạt mức ưu đãi bằng hoặc cao hơn so với các
nước trong khu vực cho việc ứng dụng và phát triển CNTT, đi đôi với việc

17

18


cho học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh đi học, thực tập và nghiên cứu về
CNTT ở nước ngoài; Áp dụng chính sách đặc biệt cho việc đào tạo, bồi dưỡng
chuyên gia giỏi, nhân tài trong lĩnh vực CNTT;
Tăng cường, đổi mới công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực CNTT
Đổi mới quản lý nhà nước trong lĩnh vực CNTT chính là việc đổi mới
quản lý trên tất cả các phương diện: xây dựng quy hoạch, cơ chế chính sách,
tổ chức thực hiện, đào tạo bồi dưỡng, thanh kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố
cáo và xử lý vi phạm trong lĩnh vực CNTT. Nhà nước cần điều chỉnh cơ chế
tài chính, ưu tiên bố trí ngân sách để ứng dụng CNTT trong một số lĩnh vực
thiết yếu, tạo lập nền công nghiệp CNTT và phát triển nguồn nhân lực CNTT;
Cân đối lại tỷ lệ phân bổ ngân sách, đảm bảo tỷ lệ cân xứng cho nhiệm vụ
CNTT; Tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu được chủ động sử dụng nguồn
kinh phí này và tự chịu trách nhiệm về kết quả và hiệu quả nghiên cứu, đặc
biệt được hưởng lợi chính đáng, hợp pháp từ kết quả nghiên cứu của họ. Chủ
động tăng cường giao lưu và hợp tác quốc tế; khuyến khích hợp tác với tổ
chức, cá nhân Việt Nam ở nước ngoài trong lĩnh vực CNTT.
Đảng, Nhà nước cần sớm hoàn thiện và ban hành hệ thống văn bản pháp
quy về quản lý, thực hiện chính sách ứng dụng và phát triển CNTT theo
phương châm năng lực quản lý phải theo kịp tốc độ phát triển, đầu tư phải
thiết thực, hiệu quả, không được lãng phí và đảm bảo công khai, minh bạch.
1.3.3.2. Công cụ chính sách phát triển CNTT
Đối với chính sách phát triển CNTT, hệ thống các công cụ chính sách cụ
thể là: Công cụ dựa vào tổ chức; Công cụ dựa vào quyền lực; Công cụ tài
chính; Công cụ truyền thông.
Công cụ dựa vào tổ chức
Đây là cách thức chủ thể tác động lên đối tượng và quá trình thực
hiệnchính sách bằng cơ cấu tổ chức thông qua các chức năng, nhiệm vụ được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status