Thực hiện chính sách phát triển kinh tế xã hội đối với vùng DTTS huyện nam giang, tỉnh quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

A VÔ TÔ PHƯƠNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỐI VỚI VÙNG DÂN TỘC THIỂU
SỐ HUYỆN NAM GIANG, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

A VÔ TÔ PHƯƠNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỐI VỚI VÙNG DÂN TỘC THIỂU
SỐ HUYỆN NAM GIANG, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số

:8340402

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. TRẦN MINH ĐỨC

2.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, KTXH huyện Nam Giang có liên quan đến việc
thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS....................................24
2.2. Tình hình tổ chức thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS
tại huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam.................................................................. 29
2.3. Đánh giá chung những ưu điểm và hạn chế, bất cập trong việc thực hiện chính
sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS tại huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam
53
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KTXH ĐỐI VỚI VÙNG DTTS
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN NAM GIANG TỈNH QUẢNG NAM......................60
3.1. Nhu cầu nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng
DTTS từ thực tiễn huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam......................................... 60
3.2. Phương hướng nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển KTXH đối
với vùng DTTS từ thực tiễn huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam.........................61
3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với
vùng DTTS từ thực tiễn huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam................................63
KẾT LUẬN............................................................................................................ 79
DANH MỤC THAM KHẢO


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8


1.4

Tổng mức đầu tư CSHT

1.5

Kết quả cho vay các chươ
đình đồng bào DTTS


MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển KTXH vùng dân tộc là một trong những vấn đề luôn được Đảng,
Nhà nước quan tâm, chú trọng. Điều này không chỉ nhằm chăm lo, cải thiện cuộc
sống cho đồng bào tốt hơn, mà còn hướng tới xây dựng một xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh và hạnh phúc. Để thực hiện mục tiêu to lớn trên, trong những năm
qua, bên cạnh những chính sách phát triển chung, Đảng và Nhà nước đã có nhiều
quyết sách, chủ trương lớn về phát triển KTXH, bảo đảm an ninh - quốc phòng
vùng miền núi và đồng bào dân tộc. Cụ thể như: Chương trình phát triển KTXH các
xã ĐBKK, biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc; Chính sách hỗ trợ đất sản
xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào DTTS nghèo, cùng với nhiều
chính sách phát triển kinh tế, văn hoá, y tế, giáo dục khác. Nhờ đó, sự nghiệp phát
triển vùng dân tộc đã đạt được những thành tựu quan trọng về mọi mặt, từng bước
ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, góp phần tích cực vào công cuộc phát triển
KTXH vùng DTTS nói riêng và cả nước nói chung.
Đối với tỉnh Quảng Nam, có địa bàn miền núi chiếm hơn 80% tổng diện tích

điện từ 90,3% lên 99,7%; thôn văn hóa từ 45,6% lên 75%. Đây là cố gắng lớn của
cả hệ thống chính trị từ huyện đến xã, thôn, sự đồng lòng, hưởng ứng, vào cuộc của
người dân miền núi nói chung, đồng bào DTTS nói riêng.
Tuy vậy, nhìn cách tổng quát trong toàn tỉnh và so sánh giữa vùng đồng bằng,
thành thị với miền núi thì vùng DTTS và miền núi vẫn còn rất nhiều khó khăn; nhất
là CSHT chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển chung, đời sống của người dân còn
nhiều khó khăn, thu nhập bình quân đầu người còn rất thấp, tỷ lệ hộ nghèo, cận
nghèo còn quá cao…Trong đó, có nhiều nguyên nhân như điều kiện tự nhiên khó
khăn, khắc nghiệt; ý thức và trình độ phát triển của các dân tộc thấp dẫn đến nhiều
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đầu tư, hỗ trợ chưa được phát huy có
hiệu quả thật sự, người dân chưa hiểu sâu, nắm kỹ để hưởng thụ một cách có hiệu
quả, còn tư tưởng ỷ lại, nền sản xuất còn lạc hậu, chất lượng lao động thấp, đại bộ
phận người dân còn sản xuất nương rẫy và trình độ dân trí thấp khó chuyển giao và
áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất, năng lực chỉ đạo, tổ chức thực hiện và tri
thức của đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ xã, thôn chưa ngang tầm, bên cạnh
đó kết quả triển khai thực hiện cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước kém hiệu
quả.
Đây là những vấn đề đang đặt ra cần được nghiên cứu một cách khoa học, ở
góc độ lý luận và thực tiễn và cũng là yêu cầu khách quan đặt ra trong quá trình

2


thực hiện Quyết định số 2085/QĐ-TTg về việc phê duyệt chính sách đặc thù hỗ trợ
phát triển KTXH vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2017-2020, Nghị quyết 05NQ/TU ngày 17/8/2016 của Tỉnh ủy về phát triển KTXH miền núi gắn với định
hướng thực hiện một số dự án lớn vùng tây giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến
năm 2025, Nghị quyết số 12/2017/NQ-HĐND ngày 19/04/2017 về phát triển KTXH
miền núi tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2017-2020. Từ những lý do nêu trên, tôi lựa
chọn đề tài “Thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với vùng DTTS
huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam” để nghiên cứu làm Luận văn Thạc sĩ,

thực dân đế quốc, tư bản và một số nước khác trên thế giới. Qua đó tác giả so sánh
để thấy được tính sáng tạo, đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết
vấn đề dân tộc trong cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Trên cơ sở đánh giá những thành tựu và yếu kém trong việc thực hiện chính sách
dân tộc của Đảng và Nhà nước, tác giả đề ra định hướng chính sách dân tộc, đặc
biệt là chính sách trên lĩnh vực văn hóa trong thời gian tới.
Trong cuốn Thực trạng phát triển các dân tộc ở Trung bộ và một số vấn đề
đặt ra (2012) của Bùi Minh Đạo, Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa. Tác giả trên cơ
sở khảo sát thực địa từ năm 2007 - 2010 tại các tỉnh Trung Bộ làm sáng tỏ thực
trạng phát triển các dân tộc của vùng, từ đó đề xuất những giải pháp góp phần phát
triển bền vũng các dân tộc Trung bộ.
Ngoài ra dưới góc độ là các công trình nghiên cứu cụ thể về thực hiện chính
sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số có thể kể đến các công trình như:
-

Luận văn “Thực hiện chính sách dân tộc ở vùng núi phía Bắc nước ta trong

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (2003) - Luận văn tốt nghiệp
lớp cao cấp lý luận chính trị của Bế Thu Hương.
-

Luận án “Thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (2006) - Luận án Tiến sĩ Triết học của
Nguyễn Thị Phương Thủy.
-

Luận án “Chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam”

(2014) - Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Lâm Thành.

-

Thứ nhất; Nghiên cứu những vấn đề lý luận thực hiện chính sách phát triển

KTXH đối với vùng DTTS ở nước ta.
-

Thứ hai; Nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác thực hiện chính sách phát

triển KTXH đối với vùng DTTS từ thực tiễn huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam,
phân tích một số nội dung cơ bản trong quá trình thực hiện chính sách phát triển
KTXH vùng DTTS huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam
-

Thứ ba; Tổng hợp các quan điểm chỉ đạo của Đảng, cơ chế chính sách Pháp

luật của Nhà nước đối với phát triển KTXH miền núi, vùng DTTS. Qua đó xác định
mục tiêu, định hướng và đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng công tác thực
hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS huyện Nam Giang, tỉnh
Quảng Nam.
4.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chính sách phát
triển KTXH vùng DTTS huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam, bao gồm các chương

5


vùng DTTS huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam, giai đoạn từ năm 2014 đến năm
2018.
Về không gian: Nghiên cứu chủ yếu tại địa bàn huyện Nam Giang, tỉnh
Quảng Nam.
5.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Cơ sở lý luận
Tiếp cận dựa trên cơ sở những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối chỉ đạo của Đảng, Chính sách Pháp luật
của Nhà nước Việt Nam trong công tác thực hiện chính sách phát triển KTXH miền
núi, vùng DTTS để nhận thức, đánh giá, đề ra các giải pháp thực hiện chính sách
phát triển KTXH vùng DTTS.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
thác

Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, khai


6


thông tin từ các báo cáo của HĐND, UBND huyện, các văn kiện Đại hội Đảng bộ
huyện, các tư liệu, văn bản luật và văn bản quy phạm pháp luật của Đảng, Nhà
nước, thu thập thông tin trên mạng internet, một số sách, báo, tạp chí và công trình
nghiên cứu khác có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài.
-

Phương pháp nghiên cứu định tính: Thông qua việc nghiên cứu tổng quan


hành pháp của mình để các chính sách của Nhà nước đã ban hành được thực hiện
hiệu quả, góp phần vào sự nghiệp phát triển KTXH ở địa phương.
7. Cơ cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, danh mục tài liệu tham
khảo; bố cục luận văn theo 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với
vùng DTTS .
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng
DTTS huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính
sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam

8


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI ĐỐI VỚI VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Mục tiêu thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách phát triển KTXH vùng
DTTS
Việt Nam là một quốc gia dân tộc thống nhất gồm 54 dân tộc cùng sinh sống.
Các dân tộc ở Việt Nam có đặc trưng sau : Một là, các dân tộc ở Việt Nam có truyền
thống đoàn kết gắn bó xây dựng quốc gia dân tộc thống nhất. Đây là đặc điểm nổi
bật trong quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam. Trong lịch sử dựng nước và giữ
nước của dân tộc ta, do yêu cầu khách quan dân tộc ta đã phải sớm đoàn kết thống
nhất chống thiên tai, chống giặc ngoại xâm. Vấn đề đoàn kết thống nhất đã trở thành
giá trị tinh thần truyền thống quý báu của dân tộc, là sức mạnh để dân tộc ta tiếp tục
xây dựng và phát triển đất nước; Hai là, các DTTS ở Việt Nam cư trú phân tán và

kinh tế mới. Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển kinh tế với bảo
đảm an ninh, quốc phòng. củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ
sở vùng DTTS . Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí
thức là người DTTS . Cán bộ công tác ở vùng DTTS và miền núi phải gần gũi, hiểu
phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận.
Chống các biểu hiện kì thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc”.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định, bổ sung,
phát triển chủ trương, đường lối của Đảng đối với vùng dân tộc, miền núi; quyết
tâm thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Phải đưa miền núi nhanh chóng
tiến kịp với miền xuôi”. Văn kiện Đại hội XII đã xác định: Tiếp tục hoàn thiện các
cơ chế, chính sách, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội
vùng DTTS, nhất là vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây duyên hải miền
Trung. Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm
lo xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá
kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các
cấp.
Trên cơ sở quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước ta hiện
nay như Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, Quyết định số 2085/QĐ-TTg của Thủ

tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển
KTXH vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2017-2020, Nghị quyết 05-NQ/TU
ngày 17/8/2016 của Tỉnh ủy Quảng Nam về phát triển KTXH miền núi gắn
10


với định hướng thực hiện một số dự án lớn vùng tây giai đoạn 2016 - 2020,
Nghị quyết số 12/2017/NQ-HĐND ngày 19/04/2017 của HĐND tỉnh Quảng
Nam về phát triển KTXH miền núi tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2017-2020,
định hướng đến 2025 … đã đề ra những nội dung cơ bản của chính sách phát triển
KTXH vùng DTTS trong giai đoạn hiện nay là:

tư các công trình hạ tầng quy mô nhỏ ở thôn, bản để tăng thu nhập cho người dân;
mô hình sản xuất nông, lâm kết hợp, tạo việc làm cho người nghèo gắn với trồng và
bảo vệ rừng; mô hình giảm thiểu rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu.
-

Chính sách xã hội tập trung vào các vấn đề giáo dục - đào tạo, văn hoá, y

tế… nhằm nâng cao năng lực, tạo tiền đề và cơ hội để các dân tộc có đầy đủ các
điều kiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào;
Chính sách liên quan đến quốc phòng - an ninh, nhằm củng cố các
địa bàn

11


chiến lược, giải quyết tốt vấn đề đoàn kết dân tộc và quan hệ dân tộc.
Trên quan điểm chủ trương, đường lối của Đảng, Chính sách phát triển
KTXH của Nhà nước. Có thể nói mục tiêu trọng tâm phát triển KTXH vùng DTTS
trong giai đoạn hiện nay là:
-

Tiếp tục nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS và miền

núi, tạo việc làm, phát triển sản xuất tăng thu nhập. Bảo đảm những điều kiện sống
cơ bản về lương thực, nhà ở, nước sinh hoạt, học hành và chăm sóc sức khỏe cho
nhân dân
-

Đảm bảo an sinh xã hội; nâng cao nhận thức, phát triển nguồn nhân lực,


chủ, phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển. Bảo tồn và
phát huy được những giá trị văn hóa truyền thống và tiếp thu có chọn lọc nền văn
hoá văn minh của nhân loại.

12


1.2. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của việc thực hiện chính sách phát
triển KTXH đối với vùng DTTS .
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của việc thực hiện chính sách phát triển KTXH
đối với vùng DTTS .
Để xác định được đặc điểm, vai trò của việc thực hiện chính sách phát triển
KTXH đối với vùng DTTS , cần làm rõ một số khái niệm sau :
Thứ nhất, Khái niệm dân tộc:
Khái niệm dân tộc được rất nhiều các nhà khoa học nghiên cứu, bàn luận, và
cho đến nay vẫn còn tồn tại những ý kiến khác nhau. Theo cách nhìn nhận chung
nhất, dân tộc thường được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng, dân
tộc là quốc gia - dân tộc, chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành dân một nước,
có lãnh thổ quốc gia, quốc ngữ chung và nền kinh tế, văn hóa thống nhất gắn bó với
nhau bởi các lợi ích chính trị, kinh tế, văn hóa …như dân tộc Việt Nam, dân tộc
Pháp, dân tộc Đức, dân tộc Nhật, dân tộc Nga…
Theo nghĩa hẹp, dân tộc là tộc người, chỉ một cộng đồng người có mối liên
hệ chặt chẽ, bền vững, phương thức sinh hoạt kinh tế chung, văn hóa và ngôn ngữ
riêng, xuất hiện sau bộ tộc. Theo nghĩa này, nước ta có dân tộc Kinh, dân tộc Tày,
dân tộc Mường, dân tộc HMông, dân tộc Dao, dân tộc Ê đê, dân tộc Khmer, dân tộc
Cơ Tu, dân tộc Tà Riềng, dân tộc Ve…Với nghĩa hẹp, dân tộc - tộc người sẽ là một
bộ phận của dân tộc - quốc gia.
Như vậy nội hàm khái niệm về dân tộc cần được hiểu theo hai nghĩa, dân tộc
là cộng đồng tộc người và dân tộc hiểu theo nghĩa rộng là cư dân của một quốc gia.
Thực chất hai vấn đề không giống nhau, nhưng có liên quan mật thiết hữu cơ với

phát triển KTXH đối với vùng DTTS, trước hết cần tìm hiểu khái niệm về chính
sách công. Theo tài liệu học tập chương trình cao học ngành chính sách công của
Học viện khoa học xã hội thuộc Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, thuật ngữ
chính sách công được hiểu như sau: “Chính sách công là tổng thể chương trình
hành động của chủ thể nắm quyền lực công, nhằm giải quyết các vấn đề có tính
cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm
đạt được các mục tiêu đề ra và đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững, ổn định”
Từ cách hiểu như trên, nhà nước luôn là chủ thể chủ yếu ban hành chính sách
công. Nhà nước ở đây được hiểu là cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy Nhà nước,
đối với nước ta bao gồm Quốc hội, Chính phủ, các bộ và chính quyền địa phương
các cấp. Nội hàm của chính sách công được hiểu là tổng thể các chuẩn mực, biện
pháp mà Nhà nước sử dụng để quản lý xã hội. Hay nói cách khác, chính sách là thể
hiện tập hợp các nội dung định hướng chính trị của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

14


bao gồm mục tiêu, biện pháp và công cụ thực hiện mục tiêu và được thể hiện ở các
hình thức: Hiến pháp, Luật, văn bản quy phạm Pháp luật (Nghị quyết, Nghị định,
Quyết định, Chỉ thị, Thông tư hướng dẫn...).
Thứ tư, Khái niệm chính sách phát triển KTXH.
Theo Tổ chức văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO), có thể hiểu chung nhất:
Chính sách phát triển kinh tế là tổng thể các nguyên tắc hoạt động, cách thức thực
hiện, phương pháp công cụ quản lý và nguồn lực NSNN làm cơ sở và tạo lập môi
trường cho sự phát triển kinh tế.
Thực tiễn tại nước ta và từ khái niệm về chính sách công nêu trên, có thể hiểu
chính sách KTXH là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà
Nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm giải
quyết vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục
tiêu tổng thể của xã hội.

hiệu quả thực hiện chính sách phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó năng lực quản lý
điều hành của chính quyền địa phương các cấp, đội ngũ cán bộ công chức, viên
chức Nhà nước là yếu tố đóng vai trò quyết định.
Ba là, Các biện pháp thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng
DTTS ở nước ta thực chất là một trong các công cụ quản lý của Nhà nước, được
Nhà nước sử dụng để khuyến khích việc sản xuất, đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công,
quản lý nguồn lực công một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với sự phát triển
KTXH ở địa phương
Bốn là, Việc thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS nhằm
giải quyết những vấn đề mang tính cấp thiết về sản xuất, đời sống, văn hóa, giáo
dục, y tế nhằm cải thiện các điều kiện cho người dân, nhất là người nghèo đồng bào
DTTS
Năm là, Thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS luôn
thay đổi theo thời gian, bởi những quyết định sau có thể có những điều chỉnh so với
các quyết định trước đó, hoặc do có những thay đổi để đạt được mục tiêu chính sách
đã định hướng ban đầu.
1.2.2. Vai trò thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS
Thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS là một giai đoạn rất quan
trọng của chu trình chính sách, bởi sự thành công của một chính sách phụ thuộc vào
kết quả của thực hiện chính sách. Thực tiễn trong quá trình thực hiện chính sách
phát triển KTXH vùng DTTS có ba khả năng xảy ra: (1) Chính sách tốt và thực hiện
tốt dẫn đến thành công; (2) Chính sách tốt, nhưng thực hiện kém hiệu quả dẫn đến
thất bại; (3) Chính sách không sát thực tế và thực hiện kém hiệu quả tất yếu sẽ dẫn
đến thất bại.
Như vậy, thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS có vị trí đặc biệt

16


quan trọng trong chu trình chính sách công của Nhà nước ban hành, nó là giai đoạn


Vai trò điều tiết của chính sách hỗ trợ cho định hướng và kích thích của

chính sách, tức là khuyến khích những vấn đề mà Chính phủ ưu tiên, hạn chế những
nội dung không ưu tiên và điều tiết lợi ích giữa các nhóm, khu vực trong vùng và

17


trong toàn xã hội. Vai trò điều tiết của chính sách, đặc biệt trong phân phối lợi ích
thể hiện rõ bản chất của thể chế chính trị nhà nước, quan điểm ưu tiên phát triển đối
với vùng DTTS.
-

Chính sách phát triển KTXH vùng DTTS của Nhà nước ban hành sẽ cung

cấp các nguồn lực, cơ sở vật chất giúp cho các vùng, các hộ gia đình có thêm điều
kiện thuận lợi, tư liệu và tài nguyên cho sản xuất và các mục đích sử dụng khác. Sự
trợ giúp này tập trung cho những vấn đề về nguồn lực, nhất là đất đai, giao thông,
điện, hạ tầng thương mại - dịch vụ - thị trường, để thúc đẩy sản xuất và phát triển
KTXH.
Thứ tư, Giáo dục để giúp cho người dân nâng cao dân trí, có thêm những
kiến thức, thông tin, kinh nghiệm cần thiết về tiến bộ kỹ thuật, khoa học công nghệ,
thương mại, dịch vụ và những cải tiến phục vụ cho sản xuất cũng như các hoạt
động đời sống hàng ngày. Trợ giúp giáo dục với trọng tâm chính là phát triển nguồn
nhân lực nhằm tạo ra lực lượng lao động được đào tạo có chuyên môn sâu hơn đáp
ứng yêu cầu của công cuộc phát triển KTXH vùng DTTS nói riêng và cả nước nói
chung
1.3. Các bước tổ chức thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với
vùng DTTS.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status