Rèn luyện tư duy phản biện trong dạy học văn nghị luận xã hội cho học sinh giỏi văn - Pdf 55

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT CHUYÊN LAM SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

RÈN LUYỆN TƯ DUY PHẢN BIỆN TRONG DẠY HỌC
VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH GIỎI VĂN

Người thực hiện: Trương Thị Giang
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn

THANH HOÁ NĂM 2019

1


MỤC LỤC
Trang
PHẦN I: MỞ ĐẦU .......................................................................................2
1.Lí do chọn đề tài……………………………………………………………2
2. Mục đích nghiên cứu……………………………………………………...3
3. Đối tượng nghiên cứu……………………………………………………..4
4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………4
PHẦN II: NỘI DUNG …………………………………………………… .5
1. Cơ sở lí luận………………………………………………………………..5
1.1. Nghị luận xã hội…………………………………………………………..5
1.2. Phản biện và tư duy phản biên………………………………………….....6
1.3. Tư duy phản biện trong văn nghị luận xã hội……………………………..6
2.Thực trạng rèn luyện tư duy phản biện cho học sinh ……………………7

mình. Điều đó có nghĩa phản biện là năng lực quan trọng của mỗi con người, phát
huy khả năng phản biện của học sinh là một yếu tố thúc đẩy sự tiến bộ trong giáo
dục. Đây là một trong những mục tiêu giáo dục quan trọng của những nền giáo
dục tiên tiến, dân chủ trên thế giới và cũng là một trong những đích đến của giáo
dục nước ta hiện nay. Trong quy định về tiêu chuẩn đánh giá trường trung học cơ
sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học do bộ
trưởng GD-ĐT ban hành kèm theo thông tư số 13/2012/TT- BGDĐT, ngày
06/4/2012, chương II, điều 7, mục 2c có nói: “Hướng dẫn học sinh học tập tích
cực, chủ động, sáng tạo và biết phản biện ”. Như vậy, với mỗi học sinh “biết phản
biện” chính là một trong những năng lực quan trọng hàng đầu.
2.2. Đến vai trò của tư duy phản biện trong đời sống và trong bài văn nghị luận
xã hội.
Tư duy phản biện có vai trò to lớn trong đời sống xã hội: giúp con người
vượt ra khỏi cách suy nghĩ theo khuôn mẫu, thói quen có sẵn; hướng đến cái mới,
thoát ra khỏi những rào cản của định kiến; tìm hiểu, phát hiện những ý tưởng, giá
trị mới của vấn đề; tạo tâm thế sẵn sàng tiếp nhận cái mới, cái tiến bộ trong suy
nghĩ và hành động; có ý thức nhìn nhận mọi vấn đề dưới góc nhìn mới, đưa lại kết
quả mới, kích thích khả năng sáng tạo.Tư duy phản biện giúp con người suy nghĩ
một vấn đề theo nhiều hướng khác nhau với những cách giải quyết khác nhau;
khắc phục tình trạng nhìn nhận vấn đề một chiều, phiến diện, chủ quan, duy ý chí;
suy nghĩ để giải quyết vấn đề theo hướng xem xét kỹ ở mọi góc độ, khía cạnh, đưa
3


ra nhiều phương án khác nhau và lựa chọn phương án tối ưu với những lập luận có
cơ sở vững chắc; ý thức rõ ràng hơn trong việc lắng nghe và tôn trọng ý kiến
người khác khi tranh luận; sẵn sàng chấp nhận sự thật khách quan, lắng nghe ý
kiến khác với ý kiến của mình và cố gắng tìm hiểu bản chất của vấn đề trước khi
đưa ra kết luận; dám thừa nhận cái chưa đúng, sẵn sàng thừa nhận cái đúng của
người khác và vì vậy, dễ dàng thiết lập mối quan hệ tốt đẹp với mọi người.

vấn đề một cách thấu đáo và sắc sảo nhất. Đây là một trong những tiêu chí quan
trọng đánh giá bài làm của học sinh cũng như khẳng định năng lực của một học
sinh giỏi văn. Rèn luyện tư duy phản biện, học sinh sẽ có khả năng tìm hiểu vấn
đề từ nhiều góc độ khác nhau. Nó giúp các em tránh được tình trạng đồng thuận
dễ dãi, hời hợt xuôi chiều trong bài viết. Từ đó học sinh mới có thể giải quyết vấn
đề một cách thấu đáo và thuyết phục, sắc sảo và sáng tạo. Tư duy phản biện cũng
sẽ giúp học sinh biết trình bày lập luận một cách thuyết phục và rõ ràng, logic và
chặt chẽ.
Vì những lí do trên, chúng tôi cho rằng việc hình thành và rèn luyện cho
học sinh tư duy phản biện trong dạy học văn nghị luận xã hội cho học sinh giỏi
văn là hết sức thiết thực và quan trọng .
2. Mục đích của đề tài
Đây không phải là vấn đề bây giờ mới được bàn đến. Song hi vọng với cái
nhìn và phạm vi ứng dụng cụ thể cho bài văn nghị luận xã hội, sáng kiến kinh
nghiệm sẽ giúp giáo viên và học sinh nhận thức được vai trò quan trọng của tư
duy phản biện, biết bộc lộ tư duy phản biện trong bài văn nghị luận xã hội, từ đó
phát huy được năng lực phản biện của học sinh nhằm đáp ứng những đòi hỏi thiết
thực của giáo dục hiện nay.
3. Đối tượng nghiên cứu:Đối tượng nghiên cứu là đề văn và học sinh giỏi văn
4. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Chúng tôi đã nghiên cứu những tài liệu
giáo dục học, tâm lí học, triết học, lí luận văn học, tập làm văn, báo chí... để tổng
hợp từ lí thuyết đến các ví dụ minh họa trong bài.
Phương pháp thực nghiệm: Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu, áp dụng thử
nghiệm và kiểm tra kết quả trực tiếp ở lớp 10,11,12 chuyên Văn của trường. Từ đó
chúng tôi đi đến kết luận và đề ra những giải pháp được đề cập trong sáng kiến
kinh nghiệm.

5


chất văn và chiều sâu cho bài viết.
6


1.2 Phản biện và tư duy phản biện
Phản biện là huy động vốn tri thức, kinh nghiệm và năng lực lập luận, biện bác
của mình để chỉ ra những điểm đúng/sai, hợp lí/bất hợp lí, khả thi/ bất khả thi....của
đối tượng vấn đề được đưa ra. Mục đích của phản biện nói chung là mang lại nhận
thức đúng đắn, sâu sắc về đối tượng và từ đó có giải pháp phù hợp, hiệu quả tác động
lên đối tượng
Tư duy phản biện là một quá trình tư duy biện chứng gồm phân tích đánh giá
một thông tin đã có theo cách nhìn khác cho vấn đề đặt ra nhằm làm sáng tỏ và khẳng
định lại tính chính xác của vấn đề.
1.3. Tư duy phản biện trong văn nghị luận xã hội
Đối với văn nghị luận xã hội, tư duy phản biện vừa là cách thức tư duy, vừa là
cách sàng lọc, tự vệ về tư tưởng của người cầm bút trước các vấn đề xã hội. Sở dĩ nói
như vậy là bởi, tư duy phản biện đòi hỏi người viết phải trải qua quá trình phân tích,
chứng minh, kiểm chứng, tổng hợp... một cách khoa học, logic từ đó đi đến kết luận,
phán đoán. Kết quả của quá trình tư duy đó có thể đi ngược lại với quan điểm của số
đông, thậm chí đi ngược lại với những chuẩn mực của một vài thời đại, giai đoạn
nhất định về các vấn đề xã hội. Nếu người viết đủ bản lĩnh, tự tin và kiến thức để bảo
vệ quan niệm, niềm tin của mình thì đã tạo ra cả một sự đổi thay về tư duy, nhận thức
cộng đồng. Nếu người viết không thể thuyết phục được người đọc, người nghe thì
cũng nhận ra điểm phản biện chưa thỏa đáng của mình. Từ đó, tư duy phản biện giúp
ta vượt qua niềm tin cũ (khi nó lạc hậu, lỗi thời) và xác lập niềm tin mới cho đúng
đắn, hoàn thiện nhận thức của bản thân.
Trong văn nghị luận xã hội, vấn đề đặt ra có thể không mới, nhưng đặt dưới
các góc nhìn khác nhau, nhất là trong một thời đại bùng nổ thông tin, khi học sinh
được tiếp cận với nhiều nguồn tin, nhận thức sớm phát triển, thì những bài viết có
tính phản biện vẫn có thể đem đến một kiến giải mới. Đó là lí do vì sao, nhiều khi bài

trình mài sắc tư duy phản biện cho học sinh giỏi Văn. Chẳng hạn như lối học thụ
động, tiếp nhận kiến thức một chiều từ các cấp học dưới đã ăn sâu, thành thói quen
trong học tập của nhiều em, khiến học sinh lười, ngại tư duy, động não thực sự.
Chính vì thế, trước nhiều vấn đề mới hay phức tạp, các em chưa chủ động đặt và tự
giải quyết vấn đề.
Nhiều học sinh tư duy phản biện khá tốt nhưng còn e dè, chưa mạnh dạn thể
hiện do còn thiếu tự tin. Cũng có học sinh, tư duy phản biện trước các vấn đề xã hội
rất chính xác nhưng lại thể hiện trong bài làm thiếu thuyết phục. Đó là do tính cách
rụt rè hoặc kĩ năng phản biện của các em còn chưa tốt.
8


Với sáng kiến kinh nghiệm này, chúng tôi mong muốn đóng góp một số giải
pháp đã tích lũy được trong thực tế dạy học để tận dụng những thuận lợi trong quá
trình dạy – học cũng như khắc phục những tồn tại để giúp các em phát triển năng lực
tư duy nói chung và đặc biệt là tư duy phản biện nói riêng.
II. Một số biện pháp rèn luyện tư duy phản biện trong dạy - học văn nghị luận
xã hội cho học sinh giỏi Văn.
1. Tạo không khí dân chủ cho giờ học
Người thầy đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo không khí dân chủ trong
giờ học – tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy phản biện và dám bày tỏ một
cách tự tin.
Một giờ học thật sự hiện đại phải có những đối thoại sôi nổi trong một không
khí thực sự dân chủ. Khoảng cách thầy – trò được rút ngắn, quan hệ thầy – trò trở
nên thân thiện hơn bao giờ hết. Trong một môi trường học tập như thế, HS hoàn toàn
có đầy đủ tự tin để đưa ra những phản biện để tranh luận với bạn bè, thầy cô về một
nội dung nào đó. Và các em sẽ coi đó như là những hoạt động học tập tích cực, sáng
tạo.
Bằng cách nào có thể tạo được không khí đối thoại, tự do dân chủ? Có nhiều
cách và tùy theo từng đối tượng HS khác nhau:

Nhóm 1
Nhóm 2
(Đồng ý với ý kiến trên)
(Không đồng ý với ý kiến trên)
- Từ thiện là hành vi giúp người nhưng
không phải tất cả hành động giúp
người nào cũng được gọi là từ thiện.
Từ thiện thường phải đi chung với bất
vụ lợi (làm không vì lợi ích riêng) và
thiện nguyện (tự nguyện làm vì điều
tốt), bởi vậy nên từ thiện nên diễn ra
âm thầm, lặng lẽ, mình làm, mình biết,
vậy thôi.

- Từ thiện là một việc tốt, đã là việc tốt thì
nên có sự lan tỏa trong cộng đồng, như nhạc
sĩ Trịnh Công Sơn từng viết: “Sống trong
đời sống cần có một tấm lòng... để gió cuốn
đi”, nếu việc thiện cũng được lan tỏa như
“gió cuốn đi” thì lòng tốt mới được nhân
rộng cho cả cộng đồng. Bởi vậy các hoạt
động từ thiện nên công khai để tạo ra những

- Nhưng có rất nhiều hoạt động từ hiệu ứng nhân văn, tích cực, mạnh mẽ.
thiện công khai đã bị làm cho biến
tướng, mất đi ý nghĩa nhân văn thực
sự của nó, khiến người làm từ thiện và
người nhận từ thiện đều bị soi mói,
phán xét, đặt điều. Như việc Bác sĩ
Nguyễn Ngọc Chung – Phó Giám đốc

2.2. Sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học kích thích tư duy phản biện
Giống như kiểu người kể chuyện “biết tuốt” trong các tác phẩm tự sự truyền
thống, nền giáo dục ở các nước phương Đông đề cao thậm chí tuyệt đối hóa vai trò
của người thầy. Thầy là người truyền thụ tri thức và nắm giữ chân lí. Và dù có sử
dụng các phương pháp gợi mở, đàm thoại hay nêu vấn đề ...thì cuối cùng giáo viên
vẫn là người đưa ra kết luận hoặc đảm bảo cung cấp một đáp án đúng. Đây là một
“trở lực” hạn chế sự phát triển của tư duy phản biện và tư duy sáng tạo.
Để khuyến khích tư duy phản biện ở người học, cùng với việc thiết kế câu hỏi
mở, không có đáp án duy nhất và câu trả lời cuối cùng; tư duy của người thầy cũng
cần phải thay đổi. Giáo dục phản biện phải thực hiện trong môi trường lớp học dân
chủ và có sự tương tác nhiều chiều, ở đó cả người dạy và người học đều không có
đáp án chính xác cho nội dung được học và thảo luận. Thay vì hướng dẫn HS các kĩ
thuật làm bài NLXH, hãy đánh thức sự tò mò, cách tìm hiểu, cách đặt câu hỏi và
11


phản bác một cách logic, khoa học ở người học. Một số kĩ thuật và phương pháp dạy
học hiện đại sau có thể hữu ích đối với việc rèn tư duy phản biện trong bài NLXH:
Kĩ thuật công não (brainstorming) có thể được sử dụng hiệu quả trong việc tìm
kiếm ý tưởng và xác định chủ đề cho những bài NLXH mở, chỉ nêu đề tài nghị luận.
Kĩ thuật công não do Alex Osborn (Hoa Kỳ) sáng tạo ra, nó hoạt động bằng cách nêu
ra tất cả các ý tưởng xung quanh một vấn đề, để từ đó rút ra được những giải pháp
khả thi nhất. Nguyên tắc cơ bản của kỹ thuật động não – brainstorming là: tự do suy
nghĩ, tôn trọng mọi ý tưởng đưa ra, kết nối các ý tưởng và quan tâm đến ý tưởng mới.
Ví dụ: tìm ý tưởng cho bài viết “Học để làm gì?”; HS tham gia thảo luận có thể bắt
đầu bằng những câu trả lời thông thường: học để mở mang hiểu biết, trau dồi tri thức;
học để thi đỗ đại học, có bằng cấp, có vị thế xã hội; học để có công việc ổn định, đảm
bảo cuộc sống sau này; học để có thể kiếm được nhiều tiền hơn...Khi các ý tưởng
quen thuộc, cũ mòn đã được ghi nhận, HS bắt đầu tìm kiếm các ý tưởng mới: học để
làm người, học để vươn tới các giá trị chân – thiện – mĩ của đời sống, học để tìm

duy” là một công cụ trợ giúp tư duy được Edward de Bono giới thiệu để mỗi người
quan tâm đánh giá sự việc từ nhiều góc nhìn khác nhau và đưa ra quyết định. Sử
dụng phương pháp này, HS sẽ hiểu rõ hơn mọi khía cạnh của vấn đề, nhận thức vấn
đề một cách toàn diện, sâu sắc. Nguyên tắc: mỗi màu sắc của chiếc mũ tương ứng với
một phương thức tư duy. Khi đội “Mũ trắng”, bạn sẽ đánh giá vấn đề một cách khách
quan, dựa trên những dữ kiện có sẵn. Khi đội “Mũ đỏ”, bạn sẽ đánh giá vấn đề dựa
trên trực giác và cảm xúc. Khi đội “Mũ đen”, bạn cần đánh giá vấn đề theo góc nhìn
tiêu cực, cẩn trọng và e dè. Khi đội “Mũ vàng”, bạn sẽ suy nghĩ một cách tích cực.
“Mũ xanh lá” đại diện cho lối tư duy tự do và cởi mở để tìm ra những giải pháp sáng
tạo để giải quyết vấn đề. “Mũ xanh dương” dành cho nhóm trưởng, người điều khiển
và kiểm soát thảo luận. Ví dụ: Với chủ đề thảo luận “Sống trung thực bạn được gì?”:
HS mang mũ trắng sẽ có cái nhìn khách quan: bạn được tin cậy, quý mến song cũng
bị thiệt thòi vì thiếu linh hoạt, uyển chuyển; HS mang mũ đen có cái nhìn tiêu cực:
người trung thực thường cứng nhắc và hay bị lợi dụng; HS mang mũ vàng thể hiện
cái nhìn tích cực: người trung thực là người có tư cách đạo đức, họ có sức lan tỏa và
ảnh hưởng lớn với cộng đồng; HS mang mũ đỏ có cái nhìn trực quan: người trung
thực ở đâu cũng được đánh giá cao; HS mang mũ xanh lá có cái nhìn cởi mở: sống
trung thực bạn luôn được là mình; cuối cùng HS mang mũ xanh dương sẽ tổng hợp
để xây dựng hệ thống luận điểm cho câu hỏi. Phương pháp này có thể áp dụng trong
các cuộc thảo luận nhóm để xây dựng dàn ý chi tiết cho bài NLXH.
13


Tóm lại, khi xã hội coi trọng năng lực hơn bằng cấp, mạng internet trở thành
cầu nối cho nhiều nguồn dữ liệu, khi kiến thức thay đổi nhanh chóng thì giáo dục
theo hướng truyền đạt không thể đáp ứng được nhu cầu của người học.Việc áp dụng
các phương pháp, kĩ thuật dạy học hiện đại giúp người dạy và người học cùng khai
phá kiến thức, xây dựng nguồn dữ liệu riêng cho mình; từ đó mài sắc tư duy phản
biện làm tiền đề cho tư duy sáng tạo.
2.3.Đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá, ra đề theo hướng phát huy năng lực

Đề 2: M.Gorki có câu: “Sách mở rộng trước mắt tôi những chân trời mới”. Cha ông
ta lại đúc kết một kinh nghiệm: “Đi một ngày đàng, học một sang khôn”. Anh/chị có
suy nghĩ gì về vấn đề trên/
Đề 3: Khi nói về quê hương, Đỗ Trung Quân cho rằng: “Quê hương mỗi người chỉ
một /Như là chỉ một mẹ thôi”. Còn Chế Lan Viên lại khẳng định “Tình yêu làm đất
lạ hóa quê hương”. Từ quan niệm về quê hương của hai nhà thơ, anh chị hãy bày tỏ
quan niệm của mình.
Đề 4: Có ý kiến cho rằng “Sống là không chờ đợi”. Nhưng cũng có ý kiến khác
khuyên con người nên sống chậm. Suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề trên?
Đề 5: Có người cho rằng hạnh phúc của đời người là được làm cánh chim đại bàng
bay qua biển lớn. Lại có người khuyên ta nên gom góp niềm vui bé nhỏ hàng ngày để
có hạnh phúc. Còn bạn thì sao? Bạn quan niệm thế nào về hạnh phúc?
Đề 6: Có ý kiến cho rằng: Khoan dung với người là điều cần thiết trong cuộc sống
để chúng ta sống nhân văn hơn. Lại có ý kiến cho rằng: Điều quan trọng trong cuộc
sống là phải biết khoan dung với những lỗi lầm của chính mình. Anh/chị có suy nghĩ
gì về hai ý kiến trên
Đề 7: “Dân tộc nhỏ cần có con dao lớn
Samin đã nói như vậy vào năm 1841
Dân tộc nhỏ cần có bạn bè lớn
Abutalip đã nói như vậy vào năm 1941”
Năm 2017, anh /chị sẽ nói: Dân tộc nhỏ cần gì?
Đề 8: Bàn về vết sẹo của con người trong cuộc sống, có ý kiến cho rằng: “Vết sẹo là
biểu tượng của những nỗi đau mà con người đã từng trải qua”.
Lại có ý kiến cho rằng: “Vết sẹo là minh chứng cho sức mạnh, bản lĩnh vượt
lên những nỗi đau của con người”.
Anh/chị có suy nghĩ gì về hai ý kiến trên
Đề 9:
Dân gian Việt Nam có câu:
15



16


PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trong phạm vi một báo cáo sáng kiến kinh nghiệm, chúng tôi đã trình bày
được quan điểm của mình về tư duy phản biện, phân tích được vai trò của tư duy
phản biện trong mọi lĩnh vực của đời sống; chỉ ra tầm quan trong của tư duy phản
biện trong việc dạy văn – học văn – viết văn. Báo cáo tập trung làm nổi bật ý nghĩa
của việc rèn luyện tư duy phản biện trong bài văn nghị luận, hình thành cho học sinh
những phương pháp để rèn tư duy phản biện trong từng kiểu bài nghị luận xã hội.
Với những nội dung đã trình bày, chúng tôi hi vọng sẽ đóng góp một cái nhìn, một
quan điểm, một phương pháp tích cực để giúp học sinh rèn luyện tư duy phản biện,
đồng thời cũng góp phần định hướng cho giáo viên đổi phương pháp giảng dạy, đổi
mới hình thức kiểm tra đánh giá với kiểu bài nghị luận xã hội đáp ứng yêu cầu đổi
mới chung của ngành giáo dục.
2. Chuyên đề cũng đã cung cấp hệ thống đề cùng định hướng xứ lí đề giúp học
sinh rèn tư duy phản biện trong bài văn nghị luận. Chúng tôi đã vận dụng lí thuyết về
các phương pháp rèn luyện tư duy phản biện trong từng kiểu bài nghị luận xã hội để
định hướng, giúp học sinh các kĩ năng triển khai bài viết, từ đó cung cấp cho đề tài hệ
thống các bài viết học sinh vận dụng tư duy phản biện một cách hiệu quả.
3. Xa hơn, chúng tôi mong muốn, tư duy phản biện sẽ trở thành một thói quen tư
duy của các em trong ở tất cả các bộ môn và các lĩnh vực trong cuộc sống, là hành
17


trang để các em bước vào đời một cách tự tin và bản lĩnh. Chúng tôi rất mong khi có
điều kiện sẽ hoàn thiện đề tài ở quy mô cao hơn, chất lượng hơn. Chúng tôi cũng có
một vài đề xuất như sau :
- Cần mở rộng phạm vi đề tài, hướng tới mục đích rèn tư duy phản biện cho

3. Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên), Muốn viết được bài văn hay, NXB Giáo dục,
2001.
4. Nhiều tác giả, Những bài làm văn nghị luận xã hội chọn lọc, NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội, 2010.
5. Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên), Dạy và học nghị luận xã hội, NXB Giáo dục Việt
Nam, 2010.
6. Đỗ Kiên Trung, “Về vai trò của tư duy phản biện và những yêu cầu cho việc giảng
dạy ở Việt Nam”, Tạp chí Phát triển và hội nhập (5), 2012.
7. Bùi Thế Nhưng, Phát huy khả năng phản biện của học sinh THPT trong dạy học
Văn, Sáng kiến kinh nghiệm
8. Nguyễn Thành Thi, Cần rèn luyện năng lực phản biện trong học tập cho học sinh,
sinh viên, Tạp chí khoa học văn hóa và du lịch, số 13, tháng 9 năm 2013.
9. Nguyễn Thị Tuyết Mai, Vai trò của tư duy phản biện trong đời sống,
https://www.nxbctqg.org.vn/index.php?option=com_content
10. Dạy trẻ em tư duy, Dự án Việt Bỉ lược dịch, Hà Nội, 1999
11.Bồi dưỡng và phát triển tư duy phản biện cho học sinh trong quá trình dạy học,
Tạp chí Giáo dục, số 311, 6/2013

19


DANH MỤC SKKN ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NGHÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH XẾP LOẠI
Họ và tên tác giả: Trương Thị Giang
Chức vụ và đơn vị công tác: Trường THPT Chuyên Lam Sơn
Kết
TT

Tên đề tài SKKN


bản văn học
Rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh

Ngành GD

thông qua dạy đọc hiểu văn bản học

cấp tỉnh

lớp 12
Rèn luyện thao tác so sánh cho học

Ngành GD

sinh khi đọc hiểu văn bản văn học ở

cấp tỉnh

SGK lớp 11, tập 2
Một vài kinh nghiệm về cách ra đề Ngành GD

B

2006-2007

B

2007-2008

B


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status