Quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My Tỉnh Quảng Nam (LV thạc sĩ) - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐÌNH TRUNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC LÀM CHO LAO
ĐỘNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN BẮC
TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐÌNH TRUNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC LÀM CHO LAO
ĐỘNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN BẮC
TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành

: Quản lý kinh tế

Mã số

: 8 34 04 10


VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI
HUYỆN BẮC TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM ......................................... 29
2.1. Tổng quan về huyện Bắc Trà My – Tỉnh Quảng Nam ............................ 29
2.2. Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người
dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My – Tỉnh Quảng Nam ................................ 35
2.3. Đánh giá chung về công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động
đồng bào dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My – Tỉnh Quảng Nam ……..49
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU
SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẮC TRÀ MY – TỈNH QUẢNG NAM .. 56
3.1. Định hướng và quan điểm của huyện Bắc Trà My .................................. 56
3.2. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao
động người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My – Tỉnh Quảng Nam ............. 61
3.3. Một số kiến nghị....................................................................................... 74
KẾT LUẬN .................................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT

Từ viết tắt

Viết đầy đủ

1

BCĐ


Khoa học kỹ thuật

7

KT-XH

Kinh tế - Xã hội

8

LĐNT

Lao động nông thôn

9

LĐ-TB&XH

Lao động - Thương binh và Xã hội

10

NHCSXH

Ngân hàng chính sách xã hội

11

NSNN


Văn bản vi phạm pháp luật


DANH MỤC BẢNG BIỂU

Số hiệu

Tên bảng

bảng

Trang

Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn của một số ngành chủ
2.1

yếu

32

Bảng thống kê tỷ lệ lao động DTTS trong cơ cấu lao động
2.2

toàn huyện giai đoạn 2014-2018

35

Bảng thống kê tỷ lệ lao động DTTS tham gia vào các
2.3


44


DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

Số hiệu
hình
2.1

Tên hình
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của UBND huyện Bắc Trà My

Trang

34


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý Nhà nước về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động là một
trong những vấn đề quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội (KT- XH) của mỗi quốc gia. Thực trạng việc làm và giải quyết việc
làm cho lao động nông thôn ở nước ta trong những năm trở lại đây luôn là chủ
đề nóng và được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm sâu sắc. Điều này được
thể hiện thông qua các văn kiện của Đại hội Đảng qua các thời kỳ. Văn kiện Đại
hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII khẳng định "Giải quyết tốt lao động, việc làm
và thu nhập cho người lao động, bảo đảm an sinh xã hội” [1, tr. 18].
Hiện nay, vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam chiếm 2/3 diện
tích tự nhiên của cả nước, là địa bàn cư trú chủ yếu của 53 dân tộc thiểu số
với gần 13,4 triệu người, chiếm trên 14% dân số cả nước (năm 2017). Đây là

về việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My - Tỉnh
Quảng Nam” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý kinh tế cho bản thân.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Quản lý Nhà nước về việc làm và tạo việc làm cho lao động nông thôn
nói chung và lao động người DTTS nói riêng làm một chủ trương lớn của
Đảng và Nhà nước. Vấn đề này được đề cập rất nhiều trong các văn kiện của
Đảng, hệ thống pháp luật của Nhà nước và các Nghị định của Chính phủ.
Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu có liên quan về vấn đề này. Cụ
thể như sau:
- Bob Baulch và Vũ Hoàng Đạt (2012) phân tích vai trò của đặc điểm
(đặc điểm nhân khẩu hộ gia đình, trình độ học vấn, sở hữu đất, đặc điểm xã
hội…) và hiệu quả thu nhập của các đặc điểm (do ảnh hưởng của các yếu tố
không quan sát được qua điều tra mức sống, ví dụ như: chất lượng đất, chất
lượng giáo dục, các rào cản văn hóa, định kiến và kỳ thị với đồng bào
DTTS…) đến sự khác biệt về thu nhập/chi tiêu giữa nhóm dân tộc đa số và
2


các nhóm dân tộc thiểu số, dựa trên số liệu điều tra mức sống hộ gia đình
(VHLSS 2010) (cập nhật một nghiên cứu tương tự trước đó dựa trên số liệu
VHLSS 2006). Nghiên cứu cho thấy, chính thu nhập từ việc làm là yếu tố cơ
bản làm nên sự khác biệt về đời sống của các nhóm dân tộc. Tuy nhiên, việc
làm của lao động vùng DTTS, đặc biệt là người DTTS chưa tạo ra thu nhập
cao, số lao động có hợp đồng lao động còn rất hạn chế.
- Nguyễn Hoàng Hiệp (2013), “Quản lý Nhà nước về tạo việc làm cho
thanh niên nông thôn tỉnh Long An. Luận văn thạc sỹ Quản lý công, Học viện
hành chính Quốc gia. Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về
tạo việc làm và công tác quản lý Nhà nước về tạo việc làm cho thanh niên nông
thôn trong tỉnh. Trên cơ sở lý luận trong chương 1, tác giả đã đánh giá thực
trạng công tác quản lý Nhà nước về tạo việc làm cho lao động nông thôn trên

các ngành có liên quan trong việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về
việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn nói chung và lao động
người dân tộc thiểu số nói riêng.
Trên cơ sở các công trình nghiên cứu có liên quan, tác giả nhận thấy cơ
bản các đề tài nêu trên chỉ tập trung vào công tác giải quyết việc làm cho người
lao động nói chung và người dân tộc thiểu số nói riêng. Chưa có công trình
nghiên cứu về công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho người cho lao động
người DTTS một cách cụ thể. Đề tài tác giả lựa chọn không có sự trùng lặp với
các công trình nghiên cứu trước.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn để đánh giá đúng
về thực trạng công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người dân
tộc thiểu số tại huyện Bắc Trà My - tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua. Trên
cơ sở những vấn đề còn hạn chế trong công tác quản lý Nhà nước về việc làm
cho người dân tộc thiểu số tại huyện Bắc Trà My. Tác giả xây dựng phương
hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về việc làm
4


cho lao động người dân tộc thiểu số tại huyện Bắc Trà My trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn công tác quản lý Nhà nước về
việc làm cho lao động nông thôn nói chung và lao động người dân tộc thiểu
số nói riêng tại huyện Bắc Trà My - Tỉnh Quảng Nam.
+ Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước về việc
làm cho lao động người DTTS huyện Bắc Trà My - Tỉnh Quảng Nam giai
đoạn 2014 - 2018.
+ Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về việc làm
cho lao động người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My - Tỉnh Quảng Nam

- Phương pháp thu thập dữ liệu: Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra,
tác giả đã thực hiện phân tích định tính. Tiến hành thu thập dữ liệu để phân tích
từ nhiều nguồn thông tin khác nhau, cụ thể:
+ Nguồn thông tin thứ cấp: Những vấn đề lý luận đã được đúc kết trong
các giáo trình chuyên ngành trong nước và quốc tế; các báo cáo tổng hợp, các
Nghị quyết, Chương trình, Kế hoạch tại huyện Bắc Trà My.
+ Nguồn thông tin sơ cấp: Phỏng vấn trực tiếp một số lãnh đạo, cán bộ tại
huyện Bắc Trà My và các đơn vị khác để nhận diện những mặt thành công và
các mặt tồn tại trong công tác giải quyết việc làm và quản lý nhà nước về giải
quyết việc tại huyện Bắc Trà My trong thời gian qua.
- Phương pháp thống kê: Sau khi thu thập dữ liệu có liên quan đến đề tài
nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, thu thập và xử lý
thông tin từ các nguồn khác nhau làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực
trạng công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người DTTS giai
đoạn 2014 - 2018.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sau khi sử dụng phương pháp thống
kê để tổng hợp các số liệu liên quan đến đề tài, tác giả sử dụng phương pháp
phân tích, tổng hợp, kết hợp với lý luận để đánh giá công tác công tác quản lý
Nhà nước về việc làm cho lao động người DTTS giai đoạn 2014 -2018 và đưa
6


ra giải pháp cho các năm tiếp theo.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Góp phần cung cấp những vấn đề có tính lý luận về công tác quản lý
Nhà nước về việc làm cho lao động nông thôn nói chung và lao động DTTS
nói riêng trên địa bàn huyện Bắc Trà My và tỉnh Quảng Nam.
6.1. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo,

thống nhất.
Theo nghĩa hẹp, khái niệm Dân tộc lại đồng nghĩa với cộng đồng tộc
người, cộng đồng này có thể là bộ phận chủ yếu hay thiểu số của một dân tộc
sinh sống trên cùng một lãnh thổ quốc gia hoặc ở nhiều quốc gia khác nhau
nhưng được liên kết với nhau bằng ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc
người. [3, tr. 39].
Cho đến thời điểm hiện nay, xét trên bình diện quốc tế, mặc dù quyền
của người DTTS đã được khẳng định trong Công ước quốc tế về các quyền
dân sự chính trị (ICCPR - Điều 27) và Tuyên bố về quyền của những người
thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ năm
1992, nhưng vẫn chưa có một định nghĩa nào về "dân tộc thiểu số". (Trên
thực tế, một số văn kiện về QCN của châu Âu, cụ thể như Công ước Châu Âu
về bảo vệ người thiểu số (Điều 2) hay Văn kiện Cô-pen-ha-gen, chỉ có hiệu
lực trong phạm vi khu vực).
Theo Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc đưa
8


ra khái niệm tại K2- Đ4 "DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân
tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam";
K3- Điều 4: "Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng số dân
của cả nước theo điều tra dân số quốc gia"
Từ những phân tích có thể hiểu khái niệm người dân tộc thiểu số là người
thuộc dân tộc có số dân ít hơn với dân tộc đa số trong phạm vi lãnh thổ Việt
Nam, có những đặc điểm riêng về chủng tộc, ngôn ngữ, phong tục, tập quán.
1.1.2. Khái niệm về việc làm và tạo việc làm
1.1.2.1. Khái niệm về việc làm
Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạt động lao
động được trả bằng tiền mặt và bằng hiện vật. Theo khái niệm này có thể hiểu
rằng: việc làm là một dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, có

người lao động còn mang tính xã hội hóa, coi tự tạo việc làm và chủ động tìm
kiếm việc làm là hướng quan trọng kết hợp với các chính sách của Nhà nước,
chống ỷ lại vào Nhà nước.[13. tr. 31]
1.1.3. Quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người DTTS
Quản lý nói chung được quan niệm như một quy trình mà chủ thể quản
lý tiến hành thông qua việc sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợp
nhằm tác động và điều khiển đối tượng quản lý hoạt động và phát triển phù
hợp với quy luật khách quan và đạt được các mục tiêu đã định.
Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước: “Quản lý Nhà nước là sự
tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá
trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các
mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và
nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ tổ quốc xã hội” [5, tr.37].
Quản lý Nhà nước được đề cập trong đề tài này bao gồm toàn bộ các
hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc
chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với
10


đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước. Hoạt động QLNN chủ yếu và trước
hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan Nhà nước, song có thể các tổ chức
chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu
được Nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của Nhà nước theo
quy định của pháp luật.
Theo nghĩa rộng: Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy Nhà
nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực Nhà nước trên
các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo cách hiểu này, quản lý
Nhà nước được đặt trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân
dân lao động làm chủ”

cấp chính quyền.
Với tư cách là một bộ phận cấu thành nên lực lượng lao động xã hội, lực
lượng lao động người dân tộc thiểu số cũng có đầy đủ vai trò, tính chất của
lực lượng lao động nói chung. Vì vậy, công tác quản lý Nhà nước về việc làm
cho người lao động dân tộc thiểu số cũng đóng vai trò quan trọng trong việc
phát triển kinh tế - xã hội nói chung và vùng dân tộc thiểu số nói riêng. Điều
này thể hiện thông qua các nội dung sau:
Thứ nhất, giải quyết việc làm và quản lý Nhà nước về việc làm cho
người lao động dân tộc thiểu số sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh
tế - xã hội của vùng dân tộc thiểu số.
Thứ hai, quản lý Nhà nước về việc làm cho người lao động dân tộc thiểu
số góp phần xóa đói giảm nghèo của vùng dân tộc thiểu số.
Thứ ba, giải quyết việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số góp
phần giảm tệ nạn xã hội phát sinh và an ninh quốc phòng được đảm bảo.
1.2. Nội dung quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người dân
tộc thiểu số
1.2.1. Xây dựng kế hoạch về tạo việc làm cho lao động người dân tộc
thiểu số.
Nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước được ban hành
12


và thực thi như: huy động nguồn vốn đầu tư phát triển, đẩy mạnh phát triển
kinh tế tạo nhiều việc làm; lập Quỹ quốc gia về việc làm (năm 1992) để cho
vay vốn tạo việc làm với lãi suất ưu đãi theo các dự án nhỏ; hình thành Quỹ
giải quyết việc làm địa phương; hình thành và phát triển hệ thống các Trung
tâm giới thiệu việc làm và các cơ sở đào tạo nghề xã hội; phát triển nhiều hình
thức, mô hình tổ chức giải quyết việc làm phong phú, đa dạng; quan tâm đến
hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia nhằm giải quyết việc làm với thu
nhập cao, đồng thời nâng cao trình độ tay nghề, tác phong công nghiệp cho

công, thợ lành nghề gắn với nhu cầu của thị trường lao động [7, tr. 42].
1.2.2. Tổ chức bộ máy và bố trí nguồn nhân lực quản lý Nhà nước về
việc làm cho lao động DTTS
Bộ máy quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm hiện nay ở nước ta
được tổ chức như sau:
Chính phủ: Thủ Tướng Chính phủ quyết định chương trình việc làm
quốc gia do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đệ trình. Chính phủ quyết
định chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế hoạch hằng năm và 5 năm do Bộ Kế
hoạch và Đầu tư chủ trì cùng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các
ngành có liên quan xây dựng đệ trình. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
có trách nhiệm hướng dẫn kiểm tra và báo cáo Chính phủ kết quả chỉ tiêu thực
hiện tạo việc làm mới (hằng năm và 5 năm).
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện: Lập chương trình và quỹ giải quyết
việc làm của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và tổ
chức thực hiện quyết định đó. Lập quỹ giải quyết việc làm (từ nguồn ngân
sách địa phương, khoản hỗ trợ từ quỹ quốc gia về giải quyết việc làm do
Trung ương chuyển xuống và các nguồn khác) để giải quyết việc làm cho
người lao động.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện: Có trách nhiệm đôn đốc,
kiểm tra việc thực hiện các chương trình việc làm, việc sử dụng quỹ giải
14


quyết việc làm trong phạm vi địa phương theo các quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân dân cấp xã (phường, thị trấn): Căn cứ hướng dẫn chuyên
môn của cơ quan Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện xây dựng
kế hoạch công tác lao động tháng, quý, năm và tổ chức thực hiện. Thống kê
nguồn lao động của xã để trình Ủy ban nhân dân huyện có giải pháp cân đối
nguồn lao động, tạo việc làm, học nghề, xuất khẩu lao động, thực hiện nghĩa
vụ lao động công ích.

Chủ trương của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề đã góp phần tạo ra
lực lượng sản xuất hiện đại, có chất lượng; tạo ra những lao động có kiến
thức, có kỹ năng sản xuất hiện đại, có khả năng thích ứng với ngành nghề
trong nền kinh tế. Triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã
hội cho các đối tượng lao động là người nghèo, người dân tộc thiểu số, chính
sách hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài, chính sách hỗ trợ đào
tạo, bồi dưỡng nghề cho người lao động và các chính sách hỗ trợ cho lao
động người DTTS.
Chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm và dạy nghề đã nêu rõ: “Hỗ
trợ phát triển đào tạo nghề, tạo việc làm, tăng cường xuất khẩu lao động và
phát triển thị trường lao động đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển đất nước
và hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là ở khu vực nông thôn. Nâng tỷ lệ lao động
tìm việc làm qua hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm”
Giới thiệu việc làm và học nghề: Tổ chức cho người lao động đến đăng
ký tìm việc và học nghề; liên hệ với người sử dụng lao động để tìm chỗ làm
việc mới; giới thiệu người lao động đang cần việc làm với người sử dụng lao
động đang cần tuyển lao động; giới thiệu người lao động học nghề ở những
nơi phù hợp và đủ điều kiện quy định tại Nghị định 90/CP ngày 15/12/1995
của Chính phủ và các cơ sở dạy nghề khác do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý.
Tổ chức các hoạt động thu hút, tạo điều kiện thuận lợi để các cơ sở giới
thiệu việc làm tổ chức sàn giao dịch việc làm và tư vấn đào tạo nghề và xuất
khẩu lao động tại địa phương.
16


Hỗ trợ vay vốn giải quyết việc làm cho lao động DTTS
Hỗ trợ vốn là quá trình các cơ quan quản lý Nhà nước tạo ra điều kiện để
lao động và lao động DTTS tiếp cận các nguồn tài trợ vốn tạo ra việc làm
như: tạo ra hành lang pháp lý để các tổ chức tín dụng nhận được lợi ích khi
thực hiện tài trợ hay tạo điều kiện cho các tổ chức đoàn thể lập quỹ tài trợ.

Đặc biệt với các doanh nghiệp ở nông thôn, góp phần giải quyết việc làm cho
lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm
dần lao động thuần nông.
Phát triển các hoạt động công nghiệp và dịch vụ, đặc biệt các hoạt động
công nghiệp và dịch vụ có quy mô nhỏ, thu hồi vốn nhanh, sử dụng kỹ thuật
tinh xảo và cần nhiều lao động, có khả năng tạo ra nhiều việc làm mới cho lao
động ở xã, thị trấn... Đa dạng hóa sản phẩm, tập trung vào những loại hình
đem lại giá trị cao, tăng cường lao động, phát triển chăn nuôi, phân công lao
động hợp lý giữa các thành viên trong gia đình, khôi phục những ngành nghề
truyền thống tận dụng lao động và nâng cao thu nhập.
Tiếp tục phát triển nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế hộ gia
đình, tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn, chuyển đổi cơ cấu sản xuất,
tạo nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị cao. Cần hỗ trợ người DTTS về kỹ
thuật, vốn, giống, kiến thức, kinh nghiệm và định hướng tiêu thụ sản phẩm để
họ an tâm sản xuất. Phát triển các mô hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả
như: chăn nuôi lợn siêu nạc, trồng rau, trồng chuối và các loại cây có giá trị
kinh tế cao.
Hình thức tổ chức sản xuất chính là cách thức và nơi kết hợp các yếu tố
của nguồn lực. Việc làm của người lao động được được thể hiện dưới nhiều
hình thức tổ chức sản xuất. Để thu hút nguồn lực lao động nông nhàn, việc
lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất thích hợp là một trong những giải pháp
nhằm GQVL cho người lao động, đặc biệt là đối với lao động DTTS.
Xuất khẩu lao động để giải quyết việc làm cho lao người DTTS
Xuất khẩu lao động đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status