Quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My Tỉnh Quảng Nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐÌNH TRUNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC LÀM CHO LAO
ĐỘNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN BẮC
TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành

: Quản lý kinh tế

Mã số

: 8 34 04 10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN HÙNG

HÀ NỘI, năm 2019


LỜI CAM ĐOAN
Trong quá trình thực hiện luận văn này, tác giả có tham khảo, kế thừa và
sử dụng những thông tin, số liệu từ một số tài liệu như: sách chuyên ngành,
luận văn, tạp chí, bài tham luận… theo danh mục tài liệu tham khảo.
Tác giả cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng mình và chịu
hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan của mình.
Tác giả luận văn


KẾT LUẬN .................................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT

Từ viết tắt

Viết đầy đủ

1

BCĐ

Ban chỉ đạo

2

CNH – HĐH

Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

3

DTTS

Dân tộc thiểu số


9

LĐ-TB&XH

Lao động - Thương binh và Xã hội

10

NHCSXH

Ngân hàng chính sách xã hội

11

NSNN

Ngân sách nhà nước

12

QCN

Quyền con người

13

QLNN

Quản lý nhà nước


2.1

yếu

32

Bảng thống kê tỷ lệ lao động DTTS trong cơ cấu lao động
2.2

toàn huyện giai đoạn 2014-2018

35

Bảng thống kê tỷ lệ lao động DTTS tham gia vào các
2.3

thành phần kinh tế giai đoạn 2014-2018

36

Bảng thống kê lao động thất nghiệp của huyện Bắc Trà
2.4

My giai đoạn 2014-2018

39

Báo cáo kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn và
2.5


34


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý Nhà nước về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động là một
trong những vấn đề quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội (KT- XH) của mỗi quốc gia. Thực trạng việc làm và giải quyết việc
làm cho lao động nông thôn ở nước ta trong những năm trở lại đây luôn là chủ
đề nóng và được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm sâu sắc. Điều này được
thể hiện thông qua các văn kiện của Đại hội Đảng qua các thời kỳ. Văn kiện Đại
hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII khẳng định "Giải quyết tốt lao động, việc làm
và thu nhập cho người lao động, bảo đảm an sinh xã hội” [1, tr. 18].
Hiện nay, vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam chiếm 2/3 diện
tích tự nhiên của cả nước, là địa bàn cư trú chủ yếu của 53 dân tộc thiểu số
với gần 13,4 triệu người, chiếm trên 14% dân số cả nước (năm 2017). Đây là
địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng an ninh, có
tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, đây cũng là địa bàn có điều
kiện tự nhiên khắc nghiệt, cơ sở hạ tầng yếu kém; xuất phát điểm và trình độ
phát triển kinh tế - xã hội thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, mặt bằng dân trí thấp,
thường bị ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt... Cuộc sống và việc làm của người
dân vùng dân tộc dễ rơi vào tình trạng bấp bênh, không ổn định, khó duy trì,
trình độ dân trí thấp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ về mất ổn định an ninh, chính trị.
Huyện Bắc Trà My là một huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam có địa
hình rất phức tạp, địa thế núi cao, đất dốc hiểm trở, có nhiều sông suối chằng
chịt, có núi rừng trùng điệp. Lao động người DTTS chiếm tỷ trọng gần 52%
dân số toàn huyện. Đa số người lao động người DTTS tại đây sống chủ yếu
bằng nghề nông, lâm nghiệp. Cùng với xu thế đô thị hóa làm cho diện tích
đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp
đã khiến cho thời gian nông nhàn của người lao động tăng cao. Lao động

DTTS…) đến sự khác biệt về thu nhập/chi tiêu giữa nhóm dân tộc đa số và
2


các nhóm dân tộc thiểu số, dựa trên số liệu điều tra mức sống hộ gia đình
(VHLSS 2010) (cập nhật một nghiên cứu tương tự trước đó dựa trên số liệu
VHLSS 2006). Nghiên cứu cho thấy, chính thu nhập từ việc làm là yếu tố cơ
bản làm nên sự khác biệt về đời sống của các nhóm dân tộc. Tuy nhiên, việc
làm của lao động vùng DTTS, đặc biệt là người DTTS chưa tạo ra thu nhập
cao, số lao động có hợp đồng lao động còn rất hạn chế.
- Nguyễn Hoàng Hiệp (2013), “Quản lý Nhà nước về tạo việc làm cho
thanh niên nông thôn tỉnh Long An. Luận văn thạc sỹ Quản lý công, Học viện
hành chính Quốc gia. Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về
tạo việc làm và công tác quản lý Nhà nước về tạo việc làm cho thanh niên nông
thôn trong tỉnh. Trên cơ sở lý luận trong chương 1, tác giả đã đánh giá thực
trạng công tác quản lý Nhà nước về tạo việc làm cho lao động nông thôn trên
địa bàn tỉnh Long An. Trên cơ sở những vấn đề còn tồn tại, hạn chế của vấn đề
nghiên cứu. Tác giả xây dựng các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý
Nhà nước về tạo việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Long An.
Song các giải pháp còn mang tính định hướng, chưa thực hiện việc dự báo nhu
cầu nguồn nhân lực của địa phương trong thời gian đến, chưa thực hiện việc
điều tra khảo sát để đánh giá trình độ, tay nghề của thanh niên để có các giải
pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong điều kiện mới.
- Ngô Thị Hồng Nhung (2010), “Nhìn lại một năm đào tạo nghề và giải
quyết việc làm cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg của
Thủ tướng Chính phủ”.Tác giả đã đưa ra đánh giá tổng quan sau một năm
thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về vấn đề giải
quyết việc làm cho nông thôn. Bài viết đưa ra những kết quả đã đạt được,
đồng thời cũng phản ánh những khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện
Đề án. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những kiến nghị để nhằm nâng cao hiệu

cơ sở những vấn đề còn hạn chế trong công tác quản lý Nhà nước về việc làm
cho người dân tộc thiểu số tại huyện Bắc Trà My. Tác giả xây dựng phương
hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về việc làm
4


cho lao động người dân tộc thiểu số tại huyện Bắc Trà My trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn công tác quản lý Nhà nước về
việc làm cho lao động nông thôn nói chung và lao động người dân tộc thiểu
số nói riêng tại huyện Bắc Trà My - Tỉnh Quảng Nam.
+ Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước về việc
làm cho lao động người DTTS huyện Bắc Trà My - Tỉnh Quảng Nam giai
đoạn 2014 - 2018.
+ Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về việc làm
cho lao động người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My - Tỉnh Quảng Nam
trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý Nhà nước về việc làm cho
lao động người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My - Tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến
công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số
huyện Bắc Trà My - Tỉnh Quảng Nam.
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Bắc Trà My - Tỉnh
Quảng Nam.
- Về thời gian: Phân tích thực trạng giai đoạn 2014 - 2018 và xây dựng
giải pháp giai đoạn 2019 - 2025.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận

đoạn 2014 - 2018.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sau khi sử dụng phương pháp thống
kê để tổng hợp các số liệu liên quan đến đề tài, tác giả sử dụng phương pháp
phân tích, tổng hợp, kết hợp với lý luận để đánh giá công tác công tác quản lý
Nhà nước về việc làm cho lao động người DTTS giai đoạn 2014 -2018 và đưa
6


ra giải pháp cho các năm tiếp theo.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Góp phần cung cấp những vấn đề có tính lý luận về công tác quản lý
Nhà nước về việc làm cho lao động nông thôn nói chung và lao động DTTS
nói riêng trên địa bàn huyện Bắc Trà My và tỉnh Quảng Nam.
6.1. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo,
phục vụ đào tạo, giảng dạy, học tập và nghiên cứu những chuyên đề thực tế
liên quan đến công tác quản Nhà nước về việc làm. Nguồn tài liệu sử dụng
cho các cơ quan quản lý cấp huyện tham khảo để đề xuất giải pháp hoàn thiện
công tác QLNN về việc làm cho lao động nông thôn nói chung và người
DTTS trong thời gian tới.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được kết cấu thành 3 chương. Cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động
người DTTS.
Chương 2: Thực trạng quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người
DTTS huyện Bắc Trà My – Tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công quản lý Nhà nước về việc làm cho
lao động người DTTS huyện Bắc Trà My – Tỉnh Quảng Nam.

Theo Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc đưa
8


ra khái niệm tại K2- Đ4 "DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân
tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam";
K3- Điều 4: "Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng số dân
của cả nước theo điều tra dân số quốc gia"
Từ những phân tích có thể hiểu khái niệm người dân tộc thiểu số là người
thuộc dân tộc có số dân ít hơn với dân tộc đa số trong phạm vi lãnh thổ Việt
Nam, có những đặc điểm riêng về chủng tộc, ngôn ngữ, phong tục, tập quán.
1.1.2. Khái niệm về việc làm và tạo việc làm
1.1.2.1. Khái niệm về việc làm
Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạt động lao
động được trả bằng tiền mặt và bằng hiện vật. Theo khái niệm này có thể hiểu
rằng: việc làm là một dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, có
thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thu nhập cho bản thân, người thân, gia đình
hoặc cộng đồng.
Theo điều 9, Bộ luật lao động năm 2012 quy định: “Việc làm là hoạt
động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm, Nhà nước, người
sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo
đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm”.
Như vậy, có thể kết luận rằng: Việc làm là những hoạt động lao động
trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mang lại thu nhập cho người lao
động mà không bị pháp luật ngăn cấm.
1.1.1.2. Khái niệm về tạo việc làm
Tạo việc làm là quá trình đưa người lao động vào làm việc, tạo ra những
điều kiện cần thiết cho sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất và sức lao động, tạo
việc làm có thể được hiểu theo hai khía cạnh khác nhau:
- Theo nghĩa rộng: Tạo việc làm bao gồm những vấn đề liên quan đến việc

Quản lý Nhà nước được đề cập trong đề tài này bao gồm toàn bộ các
hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc
chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với
10


đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước. Hoạt động QLNN chủ yếu và trước
hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan Nhà nước, song có thể các tổ chức
chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu
được Nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của Nhà nước theo
quy định của pháp luật.
Theo nghĩa rộng: Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy Nhà
nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực Nhà nước trên
các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo cách hiểu này, quản lý
Nhà nước được đặt trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân
dân lao động làm chủ”
Theo nghĩa hẹp: Quản lý Nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều
hành của hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước đối với các quá trình xã hội
và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục
tiêu yêu cầu nhiệm vụ QLNN. Ngoài ra, các cơ quan Nhà nước nói chung còn
thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính
Nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ
của mình. Chẳng hạn: ban hành Quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các
đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ,
công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ.
1.1.4. Vai trò quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người dân
tộc thiểu số
Chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định: Bất kỳ một quá trình sản xuất nào
cũng đều là sự kết hợp của ba yếu tố cơ bản đó là sức lao động, tư liệu lao
động và đối tượng lao động. Đó là những yếu tố vật chất cho quá trình lao

1.2. Nội dung quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người dân
tộc thiểu số
1.2.1. Xây dựng kế hoạch về tạo việc làm cho lao động người dân tộc
thiểu số.
Nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước được ban hành
12


và thực thi như: huy động nguồn vốn đầu tư phát triển, đẩy mạnh phát triển
kinh tế tạo nhiều việc làm; lập Quỹ quốc gia về việc làm (năm 1992) để cho
vay vốn tạo việc làm với lãi suất ưu đãi theo các dự án nhỏ; hình thành Quỹ
giải quyết việc làm địa phương; hình thành và phát triển hệ thống các Trung
tâm giới thiệu việc làm và các cơ sở đào tạo nghề xã hội; phát triển nhiều hình
thức, mô hình tổ chức giải quyết việc làm phong phú, đa dạng; quan tâm đến
hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia nhằm giải quyết việc làm với thu
nhập cao, đồng thời nâng cao trình độ tay nghề, tác phong công nghiệp cho
người lao động…, góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về tạo
việc làm cho người lao động. Qua đó, huy động được mọi nguồn lực cho đầu
tư phát triển và tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, bước đầu chuyển đổi cơ
cấu và chất lượng lao động theo hướng tích cực.
Bên cạnh đó, Nhà nước rất coi trọng xây dựng và thực hiện các chương
trình mục tiêu để tập trung nguồn lực giải quyết các vấn đề bức xúc nhất về thị
trường lao động và việc làm bảo đảm thu nhập tối thiểu và giảm nghèo như:
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và dạy nghề; Chương trình mục
tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm; Chương trình mục tiêu quốc gia
Giảm nghèo bền vững (giai đoạn 2012 - 2015, 2016 - 2020); Chương trình tăng
cường nâng cao năng lực đào tạo nghề (giai đoạn 2001- 2005, 2006 -2010);
Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn, bộ đội xuất ngũ; Chương
trình 135, Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP… các Chương trình này hướng vào hỗ
trợ người thất nghiệp, người chưa có việc làm, người nghèo và nhóm xã hội

chức thực hiện quyết định đó. Lập quỹ giải quyết việc làm (từ nguồn ngân
sách địa phương, khoản hỗ trợ từ quỹ quốc gia về giải quyết việc làm do
Trung ương chuyển xuống và các nguồn khác) để giải quyết việc làm cho
người lao động.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện: Có trách nhiệm đôn đốc,
kiểm tra việc thực hiện các chương trình việc làm, việc sử dụng quỹ giải
14


quyết việc làm trong phạm vi địa phương theo các quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân dân cấp xã (phường, thị trấn): Căn cứ hướng dẫn chuyên
môn của cơ quan Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện xây dựng
kế hoạch công tác lao động tháng, quý, năm và tổ chức thực hiện. Thống kê
nguồn lao động của xã để trình Ủy ban nhân dân huyện có giải pháp cân đối
nguồn lao động, tạo việc làm, học nghề, xuất khẩu lao động, thực hiện nghĩa
vụ lao động công ích.
1.2.3. Tổ chức thực hiện quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động
người DTTS
Tổ chức đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: Đào tạo nghề là nhằm cung
cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ
liên quan tới công việc, nghề nghiệp được giao.
Theo tác giả Tack Soo Chung (1982): Đào tạo nghề là hoạt động đào tạo
phát triển năng lực lao động (tri thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp) cần
thiết để đảm nhận công việc được áp dụng đối với những người lao động và
những đối tượng sắp trở thành người lao động.
Đào tạo nghề là con đường cơ bản để giúp cho con người lĩnh hội, hình
thành và phát triển tri thức, các kỹ năng chuyên môn. Người lao động có trình
độ đào tạo nghề càng cao, khả năng có việc làm và mức thu nhập càng cao.
Phát triển đào tạo nghề là biện pháp giảm nghèo bền vững trên cơ sở phát huy

ký tìm việc và học nghề; liên hệ với người sử dụng lao động để tìm chỗ làm
việc mới; giới thiệu người lao động đang cần việc làm với người sử dụng lao
động đang cần tuyển lao động; giới thiệu người lao động học nghề ở những
nơi phù hợp và đủ điều kiện quy định tại Nghị định 90/CP ngày 15/12/1995
của Chính phủ và các cơ sở dạy nghề khác do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý.
Tổ chức các hoạt động thu hút, tạo điều kiện thuận lợi để các cơ sở giới
thiệu việc làm tổ chức sàn giao dịch việc làm và tư vấn đào tạo nghề và xuất
khẩu lao động tại địa phương.
16


Hỗ trợ vay vốn giải quyết việc làm cho lao động DTTS
Hỗ trợ vốn là quá trình các cơ quan quản lý Nhà nước tạo ra điều kiện để
lao động và lao động DTTS tiếp cận các nguồn tài trợ vốn tạo ra việc làm
như: tạo ra hành lang pháp lý để các tổ chức tín dụng nhận được lợi ích khi
thực hiện tài trợ hay tạo điều kiện cho các tổ chức đoàn thể lập quỹ tài trợ.
Ngoài ra, Nhà nước đứng ra trực tiếp tài trợ vốn cho họ.
Vốn vay từ Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm với lãi suất ưu đãi là biện pháp
tài chính quan trọng để kích thích các cơ sở sản xuất kinh doanh, các hộ gia
đình được vay vốn phát triển sản xuất tạo việc làm và tăng thu nhập. Đây là
chương trình tạo ra ngành nghề mới, thu hút được lao động DTTS, tạo ra việc
làm cho người lao động chưa có việc làm, thất nghiệp và người thiếu việc
làm. Để họ có thu nhập để nuôi sống bản thân, gia đình và đóng góp một phần
cho xã hội.
Chương trình vay vốn tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm với mục
tiêu là cho vay ưu đãi với lãi suất thấp từ Quỹ quốc gia về việc làm để hỗ trợ
tạo việc làm cho lao động.
Xây dựng các mô hình phát triển kinh tế, dự án phát triển sản xuất
Phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh là một trong những yếu tố góp
phần GQVL đem lại hiệu quả cao cho người lao động. Phát triển sản xuất gắn

họ an tâm sản xuất. Phát triển các mô hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả
như: chăn nuôi lợn siêu nạc, trồng rau, trồng chuối và các loại cây có giá trị
kinh tế cao.
Hình thức tổ chức sản xuất chính là cách thức và nơi kết hợp các yếu tố
của nguồn lực. Việc làm của người lao động được được thể hiện dưới nhiều
hình thức tổ chức sản xuất. Để thu hút nguồn lực lao động nông nhàn, việc
lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất thích hợp là một trong những giải pháp
nhằm GQVL cho người lao động, đặc biệt là đối với lao động DTTS.
Xuất khẩu lao động để giải quyết việc làm cho lao người DTTS
Xuất khẩu lao động đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát
18


triển KT-XH và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại. Xuất khẩu lao động góp
phần trực tiếp hoặc gián tiếp GQVL cho người lao động và người lao động
DTTS nói riêng.
Xuất khẩu lao động góp phần vào việc sử dụng nguồn nhân lực đất nước
làm tăng thu nhập quốc gia; tạo cơ hội cho một bộ phận lao động và lao động
DTTS thất nghiệp hoặc thiếu việc làm có cơ hội sản xuất ra hàng hóa và dịch
vụ ở nước ngoài, góp phần gia tăng thu nhập cho người lao động, gia đình và
tạo chuyển biến mới về phân công lao động xã hội cả về chiều rộng, từng
bước theo chiều sâu.
Người lao động khi làm việc ở nước ngoài được tiếp cận với các công
nghệ hiện đại, các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, họ có thể học hỏi và khi về
nước áp dụng các kiến thức, kinh nghiệm của mình vào sản xuất kinh doanh
tại quê nhà, đặc biệt là người DTTS. Đây là hoạt động đóng vai trò to lớn
trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia GQVL
và giảm nghèo bền vững.
Phối hợp công tác giữa cơ quan quản lý Nhà nước với các tổ chức chính
trị - xã hội trong giải quyết việc làm cho lao động người DTTS


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status