Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (LV thạc sĩ) - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HÀ XUÂN MINH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐẠI LỘC,
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HÀ XUÂN MINH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐẠI LỘC,
TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số

: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. TRẦN THỊ LAN HƯƠNG


Lộc .............................................................................................................................43
2.4. Đánh giá tình hình thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn
huyện Đại Lộc thời gian qua .....................................................................................46
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TỪ THỰC
TIỄN HUYỆN ĐẠI LỘC, TỈNH QUẢNG NAM .................................................59
3.1. Quan điểm, mục tiêu ..........................................................................................59
3.2. Một số giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền
vững từ thực tiễn huyện Đại Lộc ..............................................................................63
3.3. Một số kiến nghị, đề xuất để hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả việc thực hiện
chính sách giảm nghèo bền vững trong thời gian tới ................................................76
KẾT LUẬN ..............................................................................................................79
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

bảng
1.1

Chuẩn nghèo qua các giai đoạn

Trang
11

Kết quả điều tra hộ nghèo, cận nghèo năm 2016 theo
2.1

triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc; nó gây ra những hậu quả nghiêm
trọng về kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái. Vì vậy, trong những năm
gần đây nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế đã quan tâm tìm các giải pháp
nhằm giảm nghèo đói và giảm dần khoảng cách phân hoá giàu, nghèo giữa
các vùng, miền và các quốc gia trên toàn thế giới.
Ðảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính
sách xã hội, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững, ổn
định chính trị - xã hội, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Nhờ đó, đã đạt nhiều
thành tựu quan trọng, trên các lĩnh vực như: giảm nghèo, tạo việc làm, ưu đãi người
có công, giáo dục, đào tạo, y tế, trợ giúp người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn,
công tác gia đình và bình đẳng giới. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm bình quân 1,5 2%/năm; các huyện, xã đặc biệt khó khăn giảm 4%/năm theo tiêu chí chuẩn nghèo
của từng giai đoạn. Năm 1993, tỷ lệ hộ nghèo cả nước 58,1%; năm 2011 giảm còn
9,5%; năm 2013 còn 7,8% [21]; năm 2016 còn 8,23% [5] (theo chuẩn nghèo đa
chiều giai đoạn 2016 - 2020). Thành tựu xoá đói, giảm nghèo của Việt Nam trong
những năm qua đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, giữ vững sự ổn
định chính trị - xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, được Liên hiệp quốc
và cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, giảm nghèo ở Việt Nam còn thiếu
bền vững, chưa hình thành cơ chế đồng bộ về giảm nghèo đa chiều, đa mục tiêu.
Đại Lộc là huyện miền núi nằm ở phía Bắc của tỉnh Quảng Nam, Đại Lộc có
vị trí địa lý khá thuận lợi cho việc giao lưu, phát triển kinh tế xã hội. Nhân dân sống
chủ yếu bằng nghề nông lâm nghiệp. Trong những năm qua, các cấp, các ngành
trong huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội,
giảm nghèo; triển khai thực hiện đồng bộ các chủ trương, đường lối của Đảng,

1


chính sách của Nhà nước về công tác giảm nghèo; đã lồng ghép chương trình xoá
đói giảm nghèo với các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, ban hành các
chương trình, đề án kinh tế - xã hội, giảm nghèo, giải quyết việc làm… Nhờ vậy,


Thứ hai, các công trình nghiên cứu liên quan đến kinh nghiệm quốc tế và
trong nước:
- Đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu khoa học, các bài viết trên các
sách, báo, tạp chí về lĩnh vực xóa đói, giảm nghèo, như:
- Hội nghị bàn về giảm đói nghèo trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
do ESCAP (Uỷ ban kinh tế - xã hội Châu Á - Thái Bình Dương) tổ chức tại Băng
Cốc - Thái Lan, tháng 9 năm 1993, đã đưa ra khái niệm chung về nghèo đói, thực
trạng của nghèo đói và những giải pháp chống nghèo đói trong khu vực.
- Hội nghị về phát triển xã hội do Liên hợp quốc chủ trì, tại Copenhaghen Đan Mạch, tháng 3 năm 1995, gồm các nguyên thủ quốc gia, đã tập trung thảo luận
vấn đề giảm nghèo đói, hoà hợp xã hội và nêu lên trách nhiệm của các tổ chức quốc
tế và các nước phát triển trong việc hỗ trợ, giúp đỡ các nước đang phát triển thực hiện
xóa đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giữa những nước giàu và nước nghèo.
- Hội nghị trực tuyến về giảm nghèo toàn quốc do Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội tổ chức ngày 23 tháng 4 năm 2014, đã tập trung đánh giá kết quả
thực hiện chính sách, pháp luật về giảm nghèo giai đoạn (2005 – 2012), kết quả
thực hiện mục tiêu giảm nghèo năm 2013, mục tiêu nhiệm vụ công tác giảm nghèo
năm 2014 và định hướng đến năm 2015.
- Lê Quốc Lý: Chính sách xóa đói giảm nghèo, thực trạng và giải pháp, Nxb
Chính trị Quốc gia, 2012. Hà Quế Lâm: Xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu
số nước ta hiện nay - Thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2002. Trần Thị Bích Hạnh: Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh
duyên hải miền Trung trong những năm qua và những giải pháp cho thời gian tới
(chuyên đề sách kinh tế - xã hội các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên những năm đầu
thế kỷ XXI - Thực trạng và xu hướng phát triển, PGS,TS. Phạm Hảo chủ biên). Võ
Thị Thu Nguyệt: Xóa đói giảm nghèo ở Malaixia và Thái Lan. Bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, 2010. Bùi Thị Lan, luận văn thạc sỹ Quản lý
Hành chính công: Chính sách xóa đói giảm nghèo ở một số huyện miền núi tỉnh Bắc
Giang trong giai đoạn hiện nay, Hà Nội, 2013. Trương Bảo Thanh, luận văn thạc sỹ
khoa học kinh tế: Xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Quảng Bình - Thực trạng và giải pháp,

giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Đại Lộc;
- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng thực hiện các chính sách giảm nghèo
bền vững từ thực tiễn huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam để từ đó tìm ra những
bất cập trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với huyện Đại
Lộc.

4


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thực hiện
chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số, hướng đến
mục tiêu giảm nghèo bền vững trong những năm tiếp theo. Hệ thống hóa lại
một số vấn đề lý luận chung về đói nghèo và chính sách giảm nghèo bền vững.
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ
thực tiễn huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm
nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Đại Lộc.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.
- Về thời gian: Đánh giá việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ
năm 2016 đến năm 2018. Quan điểm, mục tiêu và giải pháp thực hiện có hiệu quả
chính sách giảm nghèo bền vững đến năm 2020.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy
vật. Cơ sở lý luận là quan điểm, đường lối của Đảng về giảm nghèo bền vững; đặc

định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm (2011 – 2020).
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo; Luận văn được
kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách giảm nghèo bền
vững ở nước ta
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực
tiễn huyện Đại Lộc trong thời gian qua.
Chương 3: Quan điểm, mục tiêu và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.

6


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở NƯỚC TA
1.1. Lý luận chung về xóa đói, giảm nghèo và giảm nghèo bền vững
1.1.1. Khái niệm đói, nghèo
1.1.1.1. Quan niệm về đói, nghèo
Đói, nghèo hiện đang là vấn đề xã hội bức xúc mang tính toàn cầu, là thách
thức cản trở lớn đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc. Đói,
nghèo là một hiện tượng kinh tế - xã hội, không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền
kinh tế kém phát triển, mà còn tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Tuy
nhiên, tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, thể chế chính trị xã hội và điều kiện kinh tế
của mỗi quốc gia nên tính chất, mức độ nghèo đói của từng quốc gia có khác nhau.
Đói, nghèo là một khái niệm có tính động, không bất biến mà phụ thuộc vào
trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia, ở từng giai đoạn nhất định.
Cùng với thời gian, quá trình nhận thức về đói, nghèo của con người ngày càng đa
dạng và phong phú, mở rộng và đầy đủ hơn. Hiện nay, chưa có sự thống nhất tuyệt

nhau của các học giả, các nhà khoa học. Hội nghị bàn về giảm đói nghèo trong khu
vực Châu Á – Thái Bình Dương do ASCAP tổ chức tháng 9/1993 tại Băng Cốc
(Thái Lan) đã định nghĩa về nghèo như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân
cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những
nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và
phong tục tập quán của địa phương”. Đây là khái niệm khá đầy đủ về đói, nghèo,
được nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam sử dụng.
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhaghen
(Đan Mạch) tháng 3/1995 đã đưa ra định nghĩa về đói nghèo như sau: “Người
nghèo là người mà tất cả những thu nhập của họ nhỏ hơn 1USD/ngày, đây là số tiền
được coi như đủ mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại”.
Theo quan niệm của Liên hợp quốc, nghèo có hai dạng: Nghèo tuyệt đối và
nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả
năng thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống về ăn (thiếu ăn nhưng
không đứt bữa), mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục. Nghèo tương đối là tình trạng một bộ
phận dân cư có mức sống dưới trung bình của cộng đồng địa phương hay một nước.

8


Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới, nghèo là bần cùng hoá về phúc lợi.
Theo nghĩa hẹp thì nghèo khổ được hiểu là sự thiếu thốn các điều kiện thiết yếu của
cuộc sống. Tuy vậy, nghèo khổ cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn từ khía cạnh về
phát triển toàn diện con người, tức là nghèo khổ xét theo gốc độ đa chiều là việc
loại bỏ các cơ hội và sự lựa chọn cơ bản nhất cho phát triển toàn diện con người.
Nghèo khổ đa chiều là nghèo khổ tổng hợp hay nghèo khổ con người. Nghèo khổ đa
chiều bao gồm nghèo về vật chất, nghèo về con người và nghèo về xã hội. Biểu hiện
của nghèo về con người là sức khoẻ yếu do không tiếp cận đến dinh dưỡng và chăm
sóc sức khoẻ đầy đủ; không có kiến thức (mù chữ) và trình độ chuyên môn, do
không được tiếp cận đến giáo dục. Biểu hiện của nghèo về xã hội chính là sự tách

chuẩn nghèo nghĩa là mốc giới hạn do Nhà nước hay tổ chức quốc tế quy định về
mức thu nhập mà nếu ai có thu nhập thấp hơn mức này gọi là nghèo, còn ai vượt
qua giới hạn đó thì họ không phải là người nghèo. Chuẩn nghèo là công cụ để phân
biệt giữa người nghèo và người không nghèo. Giữa chuẩn nghèo và tỷ lệ hộ nghèo
có quan hệ tỷ lệ thuận với nhau, nếu chuẩn nghèo cao thì tỷ lệ hộ nghèo cao và
ngược lại. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo đói là công cụ quan trọng để xác định
mức độ và tình hình đói nghèo. Đây là khái niệm “động”, nó khác nhau giữa các
quốc gia, giữa những tổ chức quốc tế và thay đổi theo thời gian.
- Chỉ số xác định đói nghèo của thế giới: Chuẩn nghèo có sự biến động theo
thời gian và không gian. Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra thước đo nghèo đói như
sau: Các nước công nghiệp phát triển 14USD/ngày/người; các nước Đông Á:
4USD/ngày/người; các nước thuộc Mỹ latinh và vùng Caribê 2USD/ngày/người;
các nước đang phát triển 1USD/ngày/người; các nước nghèo, một số người được coi
là đói nghèo: thu nhập dưới 0,5USD/ngày/người [28, tr 19]. Tuy nhiên, các quốc gia
đều đưa ra chuẩn đói, nghèo riêng của nước mình và thường thấp hơn chuẩn đói
nghèo mà WB khuyến nghị. Chẳng hạn, Mỹ đưa ra chuẩn đói nghèo là thu nhập
dưới 16.000 USD đối với một bộ phận gia đình (04 người) trong 1 năm, tương ứng
11,1 USD/ngày/người. Trung Quốc chuẩn nghèo là 960 NDT/năm/người, tương
đương 0,33 USD/ngày/người [28, tr 20].
- Chuẩn đói, nghèo ở Việt Nam:
Ở Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội là cơ quan thường trực thực
hiện chương trình mục tiêu Quốc gia về xóa đói giảm nghèo, đã tiến hành rà soát chuẩn
nghèo qua các thời kỳ. Đã có 06 lần công bố chuẩn nghèo đói cho từng khu vực khác
nhau, được điều chỉnh theo từng giai đoạn, phù hợp với sự phát triển của đất nước.

10


Chuẩn nghèo là công cụ để đo lường và giám sát nghèo đói. Một thước đo
nghèo đói tốt sẽ cho phép đánh giá tác động các chính sách của Chính phủ tới nghèo


-

-

Dưới 25kg

Dưới 20kg

Dưới 15kg

(≈ 90.000đ)

(≈ 70.000đ)

(≈ 55.000đ)

2001 - 2005

150.000đ

100.000đ

80.000đ

2006 - 2010

260.000đ

200.000đ



Trong giai đoạn (2016 – 2020), chuẩn nghèo Việt Nam áp dụng tiêu chí tiếp
cận đo lường nghèo đa chiều. Theo đó, Chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn, là hộ
đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: (i) Có thu nhập bình quân đầu ngườ/tháng từ đủ
700.000 đồng trở xuống; (ii) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000
đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 tiêu chí đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận
các dịch vụ xã hội cơ bản. Chuẩn hộ nghèo khu vực đô thị, là hộ đáp ứng một trong
hai tiêu chí sau: (i) Có thu nhập bình quân đầu ngườ/tháng từ đủ 900.000 đồng trở
xuống; (ii) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000
đồng và thiếu hụt từ 03 tiêu chí đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản [43].
1.1.2. Xóa đói, giảm nghèo và giảm nghèo bền vững
1.1.2.1. Khái niệm Xóa đói, giảm nghèo
Xóa đói giảm nghèo là một trong 08 trụ cột của Mục tiêu phát triển thiên
niên kỷ (MDGs) đã được 189 quốc gia phê chuẩn và là một trong mười vấn đề của
phát triển xã hội đã được Hội nghị thượng đỉnh về phát triển xã hội tại
Copenhaghen tháng 5 năm 1995 thông qua.
Như vậy, có thể thấy xoá đói giảm nghèo là một trong những vấn đề xã hội
được các quốc gia đặt vào vị trí ưu tiên cần được giải quyết trong phát triển xã hội;
là một trong những chính sách quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội ở các quốc
gia trên thế giới; là tổng thể các hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm thực hiện
mục đích hỗ trợ những điều kiện cơ bản (như ăn, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh, tiếp
xúc văn hóa xã hội…) để người nghèo có thể tồn tại và phát triển dần đạt đến mức
trung bình như các thành viên khác trong cộng đồng; làm cho bộ phận dân cư đói
nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi đói nghèo, biểu hiện ở tỷ lệ phần
trăm và số lượng người đói nghèo giảm xuống.
Cũng như khái niệm đói nghèo, khái niệm xóa đói giảm nghèo chỉ là tương
đối. Bởi đói nghèo có thể tái sinh hoặc khi khái niệm đói nghèo và chuẩn đói nghèo
thay đổi. Do đó, việc đánh giá mức độ xóa đói giảm nghèo phải được đánh giá trong

Ở góc độ người nghèo: Xóa đói giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện giúp
đỡ người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách
nhanh nhất, giúp họ có nhiều khả năng lựa chọn hơn nhằm từng bước thoát khỏi
tình trạng đói, nghèo.

13


Trong tiến trình phát triển, tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo có mối
quan hệ biện chứng. Tăng trưởng kinh tế tạo ra cơ sở, điều kiện vật chất để xóa đói
giảm nghèo. Ngược lại xóa đói giảm nghèo là nhân tố đảm bảo sự tăng trưởng kinh
tế mang tính bền vững. Tuy nhiên, trong mối quan hệ này thì xóa đói giảm nghèo
vẫn là yếu tố chịu sự chi phối, phụ thuộc vào yếu tố tăng trưởng kinh tế. Trong nền
kinh tế, nếu tăng trưởng kinh tế chịu tác động của các quy luật kinh tế như: quy luật
cung cầu, quy luật giá trị, cạnh tranh, lợi nhuận, năng suất lao động… thì xóa đói
giảm nghèo lại chịu tác động quy luật phân hóa giàu nghèo, vấn đề phân phối và thu
nhập, vấn đề lao động và việc làm, các chính sách xã hội… Trong quá trình vận
động các yếu tố, các quy luật tác động lên tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm
nghèo theo nhiều chiều hướng, có khi trái ngược nhau. Do vậy, để đảm bảo được
tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo đòi hỏi Nhà nước có sự can thiệp sao cho
sự tác động của các quy luật có hướng đồng thuận. Đây là vấn đề không hề đơn giản
và không phải quốc gia nào cũng làm được trong quá trình phát triển.
1.1.2.2. Khái niệm về giảm nghèo bền vững
Theo PGS,TS. Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam thì
giảm nghèo bền vững là : “…không thể giúp người nghèo bằng cách tặng nhà, tặng
phương tiện sống. Bởi vì, đây là cách giảm nghèo, xóa nghèo nhanh nhưng chỉ tức
thời, không bền vững. Muốn giảm nghèo, xóa nghèo bền vững thì Nhà nước, cơ
quan chức năng cần phải cấp cho người nghèo một phương thức phát triển mới mà
tự họ không thể tiếp cận và duy trì. Bên cạnh đó là sự hỗ trợ, ngăn ngừa, loại trừ
các yếu tố gây rủi ro chứ không chỉ là sự nỗ lực khắc phục hậu quả sau rủi ro. Đặc

1.1.2.3. Các tiêu chí đánh giá giảm nghèo bền vững
Để đánh giá mức độ bền vững trong giảm nghèo, không thể chỉ đánh giá dựa
trên số lượng người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghèo giảm xuống mà phải
căn cứ trên nhiều tiêu chí khác nhau như:
- Thu nhập thực tế của người nghèo, hộ nghèo được cải thiện, vượt qua được
chuẩn nghèo, hạn chế tối đa tình trạng tái nghèo về thu nhập nếu gặp rủi ro hoặc sự
thay đổi của chuẩn nghèo.
- Được tạo cơ hội và có khả năng tiếp cận đầy đủ với các nguồn lực sản xuất
được xã hội tạo ra, các dịch vụ hỗ trợ người nghèo và được quyền tham gia và có
tiếng nói của mình đối với các hoạt động lập kế hoạch phát triển kinh tế, giảm

15


nghèo cho bản thân và địa phương.
- Được trang bị một số điều kiện "tối thiểu" để có khả năng tránh được tình
trạng tái nghèo khi gặp phải những rủi ro khách quan như thiên tai, lũ lụt, dịch
bệnh... hoặc sự thay đổi của chuẩn nghèo.
- Được đảm bảo tiếp cận bình đẳng về giáo dục dạy nghề và chăm sóc sức
khoẻ, để về lâu dài người nghèo, người mới thoát nghèo và con em họ có được kiến
thức, kinh nghiệm làm ăn, tay nghề nhằm tạo ra thu nhập ổn định trong cuộc sống.
1.2. Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
1.2.1. Thực hiện chính sách trong chu trình chính sách công
Thuật ngữ “Chính sách công” được sử dụng rất phổ biến. Có thể nêu ra một
số quan niệm sau:
Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do Chính phủ tiến hành
(Peter Aucoin, 1971).
Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một
nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục
tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó (William Jenkin, 1978).

Nếu đưa vào thực thi một chính sách tốt không những mang lại lợi ích to lớn
cho các nhóm đối tượng thụ hưởng mà còn góp phần làm tăng uy tín của Nhà nước
trong quá trình quản lý xã hội. Tuy nhiên, để có được một chính sách tốt các nhà
quản lý phải trải qua một quá trình nghiên cứu, tìm kiếm rất công phu. Nhưng dù tốt
đến đâu nó cũng trở thành vô nghĩa nếu nó không được đưa vào thực hiện hoặc thực
hiện không tốt. Vì vậy, những luận giải trên đây cho chúng ta nhận thức đầy đủ về
vị trí tầm quan trọng của thực hiện chính sách, từ đó có ý thức tự giác trong thực
hiện chính sách công.
Để điều hành có hiệu quả công tác thực hiện chính sách, cần tuân thủ các
bước cơ bản, bao gồm: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện; phổ biến,tuyên
truyền chính sách; phân công, phối hợp thực hiện chính sách; duy trì chính sách
(đây là những hoạt động nhằm đảm bảo cho chính sách tồn tại được và phát huy tác
dụng trong thực tế); điều chỉnh chính sách (được thực hiện bởi cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền nhằm để cho chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và
tình hình thực tế); theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện chính sách;
đánh giá tổng kết, rút kinh nghiệm.

17


1.2.2. Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
- Khái niệm:
Chính sách giảm nghèo bền vững là những quyết định, quy định của Nhà
nước nhằm cụ thể hoá các chương trình, dự án cùng với nguồn lực, vật lực, các thể
thức, quy trình hay cơ chế thực hiện nhằm tác động đối tượng cụ thể như người
nghèo, hộ nghèo hay xã nghèo với mục đích cuối cùng là xoá đói giảm nghèo.
- Nội dung chính sách:
Chính sách hỗ trợ về y tế đối với nghèo, cận nghèo; chính sách hỗ trợ nhà ở
hộ nghèo; chính sách hỗ trợ tiền điện; chính sách hỗ trợ về giáo dục cho người
nghèo; chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo; chính sách tín dụng ưu đãi cho

nâng cao phúc lợi cho người dân, trước hết người dân phải thoát khỏi đói nghèo;
chính sách giảm nghèo sẽ tạo cơ hội tối thiểu nhất cho bộ phận người dân yếu thế
thoát khỏi nghèo đói kinh niên, có được cơ hội về thu nhập, cơ hội tiêu dùng với tư
cách như là con người sống trong xã hội.
1.2.4. Các yếu tố ánh hưởng đến việc thực hiện chính sách giảm nghèo
bền vững
1.2.5.Thuận lợi:
- Đường lối xây dựng đất nước, phát triển KT - XH không ngừng được bổ
sung, hoàn thiện qua các kỳ đại hội Đảng, được triển khai tổ chức thực hiện trong
thực tiễn đã và đang đi vào cuộc sống, phát huy tính tích cực, tạo điều kiện, môi
trường, động lực cho sự phát triển KT - XH. Đây là điều kiện thuận lợi để các địa
phương xác định chiến lược phát triển KT - XH và tập trung lãnh đạo, đẩy nhanh
phát triển kinh tế, giải quyết cơ bản vấn đề đói nghèo.
- Vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc được Đảng ta xác
định có ví trí chiến lược quan trọng trong cách mạng nước ta. Vì thế Đảng và Nhà
nước, các cấp, các ngành luôn giành sự quan tâm đặc biệt đối với các DTTS và
vùng miền núi. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa IX
về công tác dân tộc đã khẳng định: “Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng
trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc;
quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ
DTTS; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống các

19


DTTS…”; “Ưu tiên đầu tư phát triển KT - XH các vùng dân tộc và miền núi, trước
hết, tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, XĐGN…tăng cường sự
quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước”.
Đối với vùng DTTS, miền núi thời gian qua đã được Trung ương, bộ, ban, ngành,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status