BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐINH THỊ HỒNG THẮM
THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐINH THỊ HỒNG THẮM
THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1.1. Giảm nghèo và giảm nghèo bền vững
8
1.1.1. Giảm nghèo
8
1.1.2. Giảm nghèo bền vững
13
1.2. Thực thi chính sách giảm nghèo bền vững
21
1.2.1. Khái niệm chính sách giảm nghèo bền vững
21
1.2.2. Nội dung thực thi chính sách giảm nghèo bền vững
25
1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách giảm
nghèo bền vững
29
Tiểu kết chương 1
2.2.2. Kết quả thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trên địa
bàn huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
50
2.3. Đánh giá việc thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trên
địa bàn huyện An Minh
62
2.3.1. Thành tựu và nguyên nhân
62
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân
64
Tiểu kết chương 2
70
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI
CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
3.1. Mục tiêu nâng cao hiệu quả thực thi chính sách giảm nghèo
bền vững trên địa bàn huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
71
90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
92
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHYT
: Bảo hiểm y tế
GNBV
: Giảm nghèo bền vững
GD – ĐT
: Giáo dục – Đào tạo
HĐND
: Hội đồng nhân dân
KTXH
: Kinh tế - xã hội
39
tỉnh Kiên Giang.
Bảng 2.3. Trường học, lớp học, giáo viên và học sinh trên địa bàn
41
huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
Bảng 2.4. Cơ sở y tế, giường bệnh, cán bộ ngành y và ngành dược
42
trên địa bàn huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
Bảng 2.5. Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện An Minh, tỉnh Kiên
Giang.
46
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xóa đói, giảm nghèo (XĐGN) là mô ̣t chủ trương lớn của Đảng và Nhà
nước ta, nhằ m hướng tới mu ̣c tiêu chăm lo đời sống nhân dân, bảo đảm tiến
bộ công bằng xã hội. Đây là một trong những chính sách xã hội hướng vào
phát triển con người, tạo cơ hội cho người nghèo tham gia vào quá trình phát
triển kinh tế - xã hội (KTXH) của đất nước và được tiếp cận với các dịch vụ
cơ bản như: giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin, khoa học kỹ thuật… góp phần
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Thành tựu XĐGN của nước ta trong những năm qua đã góp phần tăng
gặp rất nhiều khó khăn, thiếu điều kiện phát triển KTXH. Hiện tại, công tác
giảm nghèo của huyện đố i mă ̣t với một số thách thức mới, như ảnh hưởng
biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn, thiên tai, tội phạm và tệ nạn xã hội
diễn biến ngày càng phức tạp làm cho sản xuất và đời sống của nhân dân gặp
khó khăn, tốc độ giảm nghèo chậm lại; nguy cơ tái nghèo mới ở khu vực nông
thôn, vùng ven biển có chiề u hướng gia tăng.
Bên cạnh đó, thực hiện chính sách XĐGN ở huyện An Minh vẫn còn
một số bất cập. Một số chương trình, chính sách còn thiếu tính đồng bộ, chưa
có sự thống nhất cao về nhận thức và hành động; công tác triển khai thực
hiện, đánh giá và giám sát việc thực thi chính sách còn hạn chế; hệ thống
chính sách chưa thật sự tạo được động lực mạnh mẽ để người nghèo thoát
nghèo; kết quả giảm nghèo còn thiếu tính bền vững... chưa tìm được những
giải pháp thiết thực phù hợp với điều kiện KTXH của địa phương. Vì vậy việc
xem xét, đánh giá hoạt động thực thi chính sách XĐGN tại huyện An Minh
nhằm tìm ra những giải pháp mang tính bền vững để thực hiện có hiệu quả
chính sách XĐGN trong thời gian tới là vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có
ý nghĩa thực tiễn.
2
Qua thực tế đó, học viên quyết định lựa chọn đề tài: “Thực thi chính
sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang”
để làm đề tài luận văn Thạc sĩ Quản lý công.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Đói nghèo là một hiện tượng KTXH ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống
và sự phát triển của toàn xã hội, vấn đề này tồn tại ở tất cả các nước, kể cả các
nước có nền kinh tế phát triển. Do đó, đói nghèo là vấn đề mang tính chất
quốc gia và toàn cầu; XĐGN là nội dung đầu tiên trong tám mục tiêu thiên
niên kỷ mà Liên hợp quốc đã đưa ra đến năm 2015 phải hoàn thành. Chính vì
Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng” [30].
+ Võ Văn Quân: “Giảm nghèo bền vững ở huyện Châu Thành, tỉnh
Đồng Tháp” [31].
+ Vũ Thị Hồng Điệp: “Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở
huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn hiện nay” [19].
- Những công trình nghiên cứu về XĐGN của tỉnh Kiên Giang có công
trình:
+ Nguyễn Văn Cảnh: “Xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Kiên
Giang” [20]
+ Võ Trọng Đường: “Phân hoá giàu nghèo của các hộ nông dân ở tỉnh
Kiên Giang - thực trạng và giải pháp” [9].
Từ các công trình nghiên cứu nêu trên, cho thấy rằng cơ bản đã đề cập
giải quyết những nội dung về lý luận và thực tiễn XĐGN ở nước ta. Các kết
quả nghiên cứu này là nguồn tài liệu tham khảo quý giá, để tác giả có cái nhìn
tổng quan về thực thi chính sách giảm nghèo bền vững (GNBV) trên địa bàn
huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Các công trình, các bài viết nêu trên đã
nghiên cứu về XĐGN ở nhiều mức độ, góc độ khác nhau và đã có đóng góp
quan trọng làm cơ sở khoa học để Nhà nước xây dựng chính sách XĐGN.
Tuy nhiên, vấn đề GNBV có vai trò rất quan trọng trong phát triển KTXH
4
nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc
tế sâu rộng như hiện nay, cho nên việc nghiên cứu đề tài GNBV vẫn luôn có ý
nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Mặt khác, hiện tại chưa có công trình nào
nghiên cứu cụ thể và toàn diện về vấn đề thực thi chính sách GNBV trên địa
bàn huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang với cách tiếp cận đầy đủ dưới góc độ
của khoa học Quản lý công.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận:
Luận văn vận dụng phương pháp luận biện chứng duy vật; Cơ sở lý
luâ ̣n là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam về XĐGN.
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
+ Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu, số liệu: sử dụng phương pháp
này trong việc thu thập thông tin, xử lý các số liệu, tài liệu khác nhau như: các
văn kiện, Nghị quyết Đảng; các sách tài liệu nghiên cứu lý luận về đói
nghèo...
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: sử dụng để phân tích các số liệu,
tài liệu thu thập được; trên cơ sở đó, tổng hợp khái quát hóa, rút ra các kết
luận phục vụ mục đích nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về mặt lý luận:
Luận văn khái quát một cách có hệ thống cơ sở lý luận về thực thi
chính sách GNBV.
6.2. Về mặt thực tiễn:
- Dựa trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng của đói nghèo trên địa bàn
huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang, luận văn chỉ rõ những ưu điểm và hạn chế
6
trong thực thi chính sách GNBV tại huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Từ đó
đề xuất phương hướng và giải pháp phù hợp, khả thi nhằm nâng cao hiệu quả
thực thi chính sách GNBV trên địa bàn huyện trong thời gian tới.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, học tập
cũng như giúp người đọc có thể hiểu thêm về những vấn đề lý luận, thực tiễn
thực thi chính sách GNBV ở huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Đồng thời,
bản này lại tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của
từng địa phương chứ không cố định.
Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới
trung bình của cộng đồng địa phương hay một nước.
Để đánh giá mức nghèo của một nước hay một địa phương, có nhiều
chỉ tiêu được áp dụng, trong đó đáng lưu ý là chỉ số nghèo của con người
(Human poverty index - HPI) và hệ số GINI.
Chỉ số HPI bao gồm: tỷ lệ người sống dưới 40 tuổi; tỷ lệ người lớn mù
chữ; tỷ lệ người không được tiếp cận nguồn nước sạch, dịch vụ y tế và tỷ lệ
trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng; mức chênh lệch về thu nhập hoặc về chỉ
tiêu giữa 20% dân cư giàu nhất với 20% dân cư nghèo nhất.
8
Hệ số GINI là hệ số đo lường mức bất bình đẳng về thu nhập và mức
sống giữa các tầng lớp dân cư. Hệ số này nằm trong khoảng 0 (bình đẳng
tuyệt đối) đến 1 (bất bình đẳng tuyệt đối). Chỉ tiêu để tính hệ số GINI có thể
là thu nhập bình quân đầu người theo dân số hoặc chi tiêu bình quân đầu
người theo dân số.
Theo quan điểm của Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội
tổ chức tại Côpenhaghen (Đan Mạch) tháng 3/1995 đã đưa ra định nghĩa về
người nghèo: “Người nghèo là người mà tất cả những thu nhập của họ nhỏ
hơn l USD/ngày, đây là số tiền coi như đủ mua những sản phẩm cần thiết để
tồn tại”.
Tại cuộc họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên hợp quốc về phát triển xã
hội, tháng 6-2000 ở Giơnevơ (Thuỵ Sĩ), cộng đồng quốc tế tiếp tục cam kết
giảm người nghèo trên thế giới. Hội nghị đã kêu gọi cộng đồng quốc tế đẩy
mạnh chiến dịch tấn công vào đói nghèo và khuyến nghị các quốc gia cần có
những chiến lược toàn diện về xoá đói, giảm nghèo. Tiếp đó, đầu tháng 92000, Hội nghị thiên niên kỷ của Liên hợp quốc tại New York (Mỹ) một lần
thiểu số.
Ở Việt Nam, Chính phủ cũng đã chỉ ra nguyên nhân của tình trạng tái
nghèo là một số chương trình, chính sách giảm nghèo chưa đồng bộ, còn
mang tính ngắn hạn, thiếu sự gắn kết chặt chẽ; cơ chế quản lý, chỉ đạo điều
hành, phân công phân cấp còn chưa hợp lý, việc tổ chức thực hiện mục tiêu
giảm nghèo ở một số nơi chưa sâu sát. Ngoài ra, một bộ phận người nghèo
còn tâm lý ỷ lại, chưa tích cực, chủ động vươn lên thoát nghèo, thậm chí thay
đổi chuẩn nghèo cũng gây ra hiện tượng tái nghèo.
1.1.1.4. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo:
Với cách hiểu đói nghèo nêu trên cho thấy chuẩn nghèo có sự biến
động theo thời gian và không gian. Chuẩn nghèo là công cụ để phân biệt
10
người nghèo và người không nghèo, đồng thời là dụng cụ đề đo lường và
giám sát đói nghèo.
* Ngân hàng thế giới đưa ra thước đo nghèo đói như sau:
- Các nước công nghiệp phát triển: 14 USD/ngày/người.
- Các nước Đông Nam Á: 4 USD/ngày/người.
- Các nước thuộc Mỹ Latinh và vùng Caribê: 2 USD/ngày/người.
- Các nước đang phát triển: l USD/ngày/người.
- Các nước nghèo: 0,5 USD/ngày/người.
* Ngân hàng phát triển Châu Á, tại Hội nghị ngày 27/8/2008 ở Hồng
Kông, đã đưa ra chuẩn đói nghèo là thu nhập dưới 1,35 USD/ngày/người [27,
tr.19-20].
Tuy nhiên, các quốc gia thường xây dựng chuẩn nghèo riêng và thường
thấp hơn chuẩn nghèo do Ngân hàng thế giới đưa ra.
* Chuẩn nghèo của Việt Nam được điều chỉnh theo không gian và thời
gian. Về không gian, chuẩn nghèo của Việt Nam biến đổi theo trình độ phát
- Chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020 được áp dụng theo Quyết định số
59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, quy định cụ thể như sau:
+ Hộ nghèo khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí
sau:
. Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở
xuống;
. Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến
1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận
các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
+ Hộ nghèo khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
. Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở
xuống;
12
. Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến
1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận
các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
(Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm
10 chỉ số: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế (BHYT); trình độ giáo dục
của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà
ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử
dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin) [38].
1.1.2. Giảm nghèo bền vững
1.1.2.1. Quan niệm chung về GNBV:
Cho đến nay, chưa có một quan niệm thống nhất về GNBV. Tuy nhiên,
vấn đề giảm nghèo luôn được đề cập khi nói đến phát triển bền vững và
GNBV là nhân tố quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững. Ngược lại, khi
kinh tế phát triển bền vững lại tạo điều kiện để GNBV.
Thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo tăng, tỷ lệ hộ nghèo
giảm theo từng năm, từng giai đoạn.
Điều kiện sống của người nghèo được cải thiện rõ rệt, trước hết là các
điều kiện sống cơ bản về y tế, giáo dục, văn hoá, nước sinh hoạt, nhà ở, và
người nghèo cũng được tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn các dịch vụ xã hội
cơ bản.
Người nghèo có được nhiều hơn các cơ hội để vươn lên tự thoát nghèo
và phát triển thông qua hệ thống các chủ trương, chính sách giảm nghèo đồng
bộ và có tính khả thi của Đảng và Nhà nước.
GNBV là việc tạo điều kiện cho người nghèo có khả năng tiếp cận với
5 nội dung cơ bản đó là: y tế, giáo dục, điều kiện sống, việc làm và tiếp cận
thông tin. Chỉ có thể giảm nghèo một cách bền vững khi chúng ta giải quyết
được vấn đề trên, giúp cho người nghèo có nhiều cơ hội được tiếp cận với văn
hóa, xã hội, thông tin và nâng cao đời sống vật chất.
14
Giảm nghèo và GNBV là một trong những nội dung của quá trình phát
triển bền vững. Bởi vậy, GNBV thực sự cần thiết và có ảnh hưởng nhiều mặt
đối với sự phát triển KTXH. Có thể khái quát sự cần thiết của GNBV trong
quá trình phát triển KTXH trên các phương diện như: đóng góp của GNBV
với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ công bằng xã hội; với ổn định chính trị,
phát triển xã hội, là điều kiện cho phát triển kinh tế.
1.1.2.2. Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về GNBV:
* Giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước:
Có thể khẳng định rằng, chiến lược toàn diện về tăng trưởng, XĐGN tại
Việt Nam là đúng đắn, hợp lòng dân, phù hợp với xu hướng chung của thế
giới. Mặc dù kinh tế đất nước còn khó khăn nhưng Đảng, Nhà nước luôn coi
công tác giảm nghèo là một trong những mục tiêu quan trọng.
người dân về giảm nghèo có khả năng chịu được những rủi ro thông thường.
Nghị quyết Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định:
Tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình giảm nghèo ở
vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Đa dạng hoá các
nguồn lực và phương thức xoá đói, giảm nghèo gắn với phát triển
nông nghiệp, nông thôn, phát triển giáo dục, dạy nghề và giải
quyết việc làm để xoá đói, GNBV; tạo điều kiện và khuyến khích
người đã thoát nghèo vươn lên làm giàu và giúp đỡ người khác
thoát nghèo [15, tr.224].
Để cụ thể hóa hơn định hướng của Đảng, Chính phủ đã đưa ra mục tiêu
cần đạt được trong giảm nghèo từ 2011 đến 2020, đặc biệt là Nghị quyết số
80/NQ-CP về định hướng GNBV thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020 đã xác
định:
GNBV là một trong những trọng tâm của Chiến lược phát triển
KTXH giai đoạn 2011 - 2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng
cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết ở khu vực miền núi,
16
vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn
diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành
thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư
[11, tr.2].
Nhằm thực hiện được các mục tiêu trên, trong giai đoạn 2011 - 2020
cần quán triệt quan điểm GNBV của Đảng trong việc thực hiện những chương
trình, dự án, chính sách giảm nghèo: Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm
nghèo, thực hiện Chương trình 135 giai đoạn 3, tiếp tục thực hiện Nghị quyết
30a của Chính phủ và các chương trình phát triển KTXH khác. Nguồn lực để
thực hiện công tác giảm nghèo sẽ được huy động tối đa, không chỉ bằng ngân