THỰC TRẠNG rối LOẠN tâm THẦN ở NGƯỜI BỆNH sử DỤNG ATSVÀ một số yếu tố LIÊN QUAN đến CHĂM sóc tại BỆNH VIỆN tâm THẦN hà nội năm 2019 - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
---------------------------------------

LÊ QUỐC DÂN

THỰC TRẠNG RỐI LOẠN TÂM THẦN
Ở NGƯỜI BỆNH SỬ DỤNG ATS VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHĂM SÓC TẠI
BỆNH VIỆN TÂM THẦN HÀ NỘI NĂM 2019

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
---------------------------------------

LÊ QUỐC DÂN

THỰC TRẠNG RỐI LOẠN TÂM THẦN
Ở NGƯỜI BỆNH SỬ DỤNG ATS VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHĂM SÓC TẠI
BỆNH VIỆN TÂM THẦN HÀ NỘI NĂM 2019
Chuyên ngành: Điều dưỡng
Mã số: 60720501

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG


Nghiện ma túy là một vấn đềảnh hưởng lớn đến sức khỏe bản thân người
nghiện và cộng đồng, hiện nay ngày càng có nhiều loại ma túy xuất hiện, đặc biệt là
ma túytổng hợp. Số lượng người nghiện ngày càng tăng, chủ yếu là độ tuổi thanh
thiếu niên. Nghiện ma túy ảnh hưởng xấu đến tương lai của nhiều thế hệ, gây ảnh
hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống, kinh tế gia đình, an ninh xã hội.
Thêm vào đó, nguy cơ người nghiện mắc phải nhiều bệnh nguy hiểm như
HIV/AIDS, rối loạn tâm thần... Theo báo cáo vừa được cơ quan phòng chống ma
túy và tội phạm của Liên hợp Hợp Quốc (UNODC) công bố trên thế giới năm 2016
số người sử dụng chất ma túy khoảng 275 triệu người chiếm 5,6% dân số toàn cầu ở
độ tuổi từ 15 đến 64.
Ở Việt Nam theo báo cáo của Thứ trưởng Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội
năm 2017 cả nước có trên 222.000 nghìn người nghiện có hồ sơ quản lý, trong đó
gần 50% sử dụng ma túy tổng hợp (ATS) và chất hướng thần.
Tại Bệnh viện Tâm thần Hà nội, mỗi năm có hàng trăm người bệnh rối loạn
tâm thẩn (RLTT) do sử dụng ma túy phải nhập viện, trong đó phần lớn là nghiện ma
tuy chất dạng Amphetamine “ma túy đá”.
Việc sử dụng rộng rãi và ngày càng nhiều các chất ma túy như: Cocain, Cần
sa, “Cỏ Mỹ”, nhóm ATS (Amphetamine type Stimulants)... là những chất ma túy có
tác dụng kích thích mạnh, nhất thời lên hệ thống thần kinh trung ương gây cảm giác
hưng phấn, rối loạn tri giác (ảo thanh, ảo thị...), mất kiểm soát được hành vi, phá
hoại tâm sinh lý con người. Nó còn làm suy sụp tinh thần và đạo đức người
nghiện.Các tệ nạn xã hội, tội ác luôn đi kèm với tình trạng nghiện ma túy. Chính vì
vậy điều trị cai nghiện ma túy là một vấn đề bức thiết hiện nay của toàn xã hội,
trong đó ngành y tế đóng vai trò hết sức quan trọng. Để điều trị và chăm sóc cho
người bệnh đạt được kết quả cao đòi hỏi người điều dưỡng đóng vai trò quan trong
việc chăm sóc hàng ngày, tuy nhiên đến nay chưa có nghiên cứu nào đưa ra về chăm
sóc người bệnh cai nghiện ma túy có rối loạn tâm thần, đó là lý do đề tài “Thực


8

+ Người nghiện biết tác hại của chất ma túy đến cá nhân và xã hội mà vẫn
tiếp tục dùng.
- Ba trạng thái cơ bản trong nghiện ma túy là trạng thái dung nạp, trạng thái lệ
thuộc về mặt cơ thể và trạng thái lệ thuộc về mặt tâm thần.
+ Trạng thái dung nạp: Tác dụng của chất ma túy sẽ giảm bớt nếu dung nạp
lặp lại, muốn đạt được tác dụng của những lần trước phải tăng liều và cứ thế cơ thể
dần dần dung nạp được một liều chất ma túy rất cao. Liều này nếu dùng cho một
người không nghiện thì không thể dung nạp được và có thể gây tử vong.


10

+ Hội chứng cai hay trạng thái lệ thuộc về mặt cơ thể: Bao gồm nhiều triệu
chứng cơ thể và tâm thần xuất hiện khi người nghiện ngừng sử dụng chất ma túy
hoặc dùng liều thấp không đáp ứng được nhu cầu chất ma túy của cơ thể.
Hội chứng cai làm cho người nghiện lệ thuộc vào chất ma túy về mặt cơ thể,
người nghiện không chịu đựng được phải tim mọi cách để có được chất ma túy dẫn
đến các hành vi phạm pháp.
Hội chứng cai là một tiêu chuẩn quan trọng để chẩn đoán xác định trạng thái
nghiện ma túy, nếu đột ngột cắt chất ma túy mà không thấy xuất hiện hội chứng cai
thì có thể xem như người ấy chưa nghiện.
Hội chứng cai sẽ tự mất đi sau từ 1 đến 2 tuần không cần dùng đến một loại
thuốc nào. Bằng chứng cho thấy ở những phạm nhân nghiện ma túy khi vào trại
giam, hội chứng cai nhanh chóng tự mất đi không cần đến thuốc điều trị.
+ Trạng thái lệ thuộc về mặt tâm thần (hay thèm ma túy):thì tồn tại rất dai dẳng, ở
một số người xem như tồn tại suốt đời. Đó là trạng thái thèm chất ma túy trường
diễn, thèm mãnh liệt như người đói lâu ngày thèm ăn.
1.2. Cơ chế tác dụng
1.2.1. Dược động học
ATS thường được sử dụng qua đường hít, hút, uống hoặc tiêm (có tác dụng

Trong các nghiên cứu, lúc đầu dùng với liều thấp và sau vẫn dùng với liều thấp thì
phải nhắc lại nhiều lần mới đạt tác dụng mong muốn [11].
1.2.3. Tác dụng dược lý
1.2.3.1. Cơ chế tác dụng
ATS làm tăng cả hoạt tính catecholamin và serotonin. Serotonin được coi là
chất dẫn truyền thần kinh đóng vai trò chủ yếu gây ra ảo giác, gây ra cảm giác phiêu
diêu, huyền ảo, say đắm.


12

Các cơ chế tác động:
 Tăng giải phóng các monoamin vào khe synap.
 Ức chế tái hấp thu các monoamin.
 Ức chế phá hủy monoamin bởi MAO.

1.2.3.2. Biểu hiện lâm sàng
Một người chưa từng dùng amphetamin bao giờ thì chỉ cần liều 5mg cũng
có thể gây ra cảm giác “phê”, khoái cảm, tăng khí sắc, thân thiện với mọi người. Liều
nhỏ hơn thường có tác dụng làm tăng cường sự chú ý, tăng cường hiệu suất công việc
(trong nói, viết và một số nhiệm vụ khác). Thuốc còn có thể làm giảm mệt mỏi, gây
chán ăn, làm tăng ngưỡng kích thích đau, tăng hoạt động tình dục, tăng năng lượng…
ATS còn có tác dụng làm cho người nghiện xuất hiện các ảo giác, có thể gây
rối loạn định hướng và các lệch lạc, méo mó về tri giác, cảm giác say đắm, thấy
những ánh hào quang rực rỡ… Do vậy còn được gọi là các chất gây ảo giác và các
chất ma túy thực sự.
1.2.3.3. Các tác dụng phụ
Với liều cao kéo dài: các triệu chứng của rối loạn lo âu lan toả, rối loạn
hoảng sợ, rối loạn giấc ngủ, giảm tình dục. Có thể xuất hiện hội chứng paranoid với
các ý tưởng liên hệ, hoang tưởng bị theo dõi, ảo giác (thị giác, thính giác…) cũng

- Được chia làm 3 loại.
+ Marijuana: là sản phẩm lá và hoa khô.
+ Le Hascchich: triết xuất từ dễ cây cái mạnh gấp 10 lần marijuna.
+ Dầu: sền sệt, nhựa đen, lồng độ THC rất cao.
1.3.3. Amphetamine và các chế phẩm.
+ Amphetamine là một sản phẩm tổng hợp được tìm ra vào năm 1927 để
chữa một số bệnh tâm thần. Được đóng viên hoặc bột trắng, dễ hòa tan trong nước
nên dễ bị lạm dụng đường tiêm trích.
+ Gây dung nạp, phụ thuộc tâm thần, nhiễm độc tâm thần mạnh.
1.3.4. Cocaine và Crack.
+ Sản phẩm từ hoa và lá khô của cây coca
+ Crack là chế phẩm của cocaine nhưng hiệu quả mạnh hơn.


14

+ Không gây dung nạp và không gây phụ thuộc về mặt cơ thể.
1.3.5. Các thuốc giải lo âu, gây ngủ.
+ Các thuốc Benzodiazepinc và Barbiturique: Là thuốc hướng thần để điều
trị chứng mất ngủ và lo âu nhưng bị nhiều người lạm dụng.
+ Thường sử dụng dưới dạng uống hoặc tiêm tĩnh mạch với liều cao hơn rất
nhiều liều điều trị.
+ Gây dung nạp, gây phụ thuộc cơ thể và tâm thần.
1.3.6. Các dung môi hữu cơ.
+ Đó là hồ keo, essence, gaz bật lửa, ethez, benzen, dung môi hòa tan, các
chất tẩy.
+ Thường bị trẻ em lạm dụng. Hít trực tiếp hoặc đổ vào túi nilon áp vào mặt hít.
+ Dung nạp chậm, phụ thuộc cơ thể nhẹ, phụ thuộc tâm thần và gây độc tâm thần.
1.3.7. Các chất gây ảo giác.
+ Mescaline, psilocybine, LSD 25 gây dung nạp, phụ thuộc tâm thần, gây

- Nhân cách thay đổi: Thiếu tình cảm với người thân, lối sống buông thả, tính
tình trở nên cáu gắt, dễ bị kích thích, hung hãn liều lĩnh, chểnh mảng, không tập
trung công việc, không tôn trọng giờ giấc, thức đêm ngủ ngày. Thay đổi thái độ, ăn
trộm, ăn cắp, nói dối, phần lớn thời gian dành cho việc tìm kiếm và sử dụng ma túy.


16

- Rối loạn về mặt tâm thần: Rối loạn tri giác (trầm cảm, lo âu, hoang tưởng bị
theo dõi, bị hại, ảo thanh, ảo thị…). Rối loạn hành vi tác phong (leo trèo, nhảy múa,
lột bỏ quần áo…).
- Mối quan hệ gia đình bị giảm sút nặng nề, thường xẩy ra xung đột do nghi kỵ
đổ lỗi trách nhiệm cho nhau. Kinh tế gia đình giảm sút dẫn đến tình trạng ly hôn, ly
thân, con cái không nơi nương tựa…
1.5. Nguyên nhân dẫn đến nghiện ma tuý [11, 12,13,14].
1.5.1. Nguyên nhân tâm lý
- Do tính tò mò và mạo hiểm của lứa tuổi thanh thiếu liên, muốn thử trải
nghiệm những điều ngăn cấm, muốn tự khẳng định mình, tự cho mình đẵ trưởng
thành, có thể có hành vi độc lập tùy thích.
- Có những thanh thiếu niên có những vấn đề bất toại với gia đình và xã hội
tìm đến ma túy hoặc muốn thoát ly khỏi các stress (như mâu thuẫn giữa các thế hệ,
cha mẹ bất hòa, ly thân, ly hôn, cái chết của người gắn bó nhất…).
- Thường gặp nhất do ảnh hưởng và áp lực của bạn bè nghiện ma túy trong
cùng băng nhóm.
- Một số do các trạng thái bênh lý tâm thần nhất thời hay trường diễn như lo
âu, trầm cảm, hay nhân cách bệnh.
1.5.2. Nguyên nhân gia đình.
- Gia đình lơ là giáo dục, chăm sóc, quản lý con cái.
- Gia đình có người nghiện ma túy, hoặc giầu có cho con em mình tiền tự
tiêu sài không kiểm soát hoặc gia đình thường xuyrên có xung đột nội bộ dễ đẩy

+ Không tôn trọng giờ giấc, về nhà muộn.
+ Thay đổi thái độ.
1.7. Các rối loạn tâm thần do sử dụng ATS
Trong thực hành lâm sàng, chúng ta thường gặp các rối loạn về tâm thần do sử
dụng ATS như sau [10]:
- Nhiễm độc cấp
- Lạm dụng chất
- Hội chứng nghiện
- Hội chứng cai
- Rối loạn loạn thần


18

- Rối loạn cảm xúc
- Rối loạn chức năng tình dục
- Rối loạn giấc ngủ

1.7.1. Nhiễm độc cấp
Nhiễm độc ATS có thể xảy ra bằng một liều đơn độc ở người không dung nạp
nhưng thường thấy hơn ở những người lạm dụng hoặc lệ thuộc. Các triệu chứng
nhiễm độc ATS hầu như thoái triển sau 24 giờ và thoái triển hoàn toàn sau 48 giờ.
Chẩn đoán nhiễm độc ATS theo DSM IV [10]:
 Các triệu chứng này xuất hiện trong khi sử dụng hay một thời gian ngắn

sau khi sử dụng ATS.
 Có 2 hoặc nhiều các triệu chứng sau:


Tăng hay giảm nhịp tim.


Sút cân.



Buồn nôn hay nôn.

 Các triệu chứng này không phải là do một bệnh cơ thể nào khác gây ra và

không ghép được vào một rối loạn tâm thần nào khác.
1.7.2. Lạm dụng chất.
Tiêu chuẩn chẩn đoán lạm dụng ATS là tiêu chuẩn đoán lạm dụng chất nói
chung của ICD-10 và DSM-IV [15],[10]:
A. Có bằng chứng rõ ràng về việc sử dụng chất gây ra (hoặc đóng góp phần
nào vào) các tổn hại về tâm thần và cơ thể, bao gồm: rối loạn sự xét đoán hoặc rối


19

loạn hành vi chức năng, có thể dẫn tới sự mất khả năng hoặc hậu quả có hại với mối
quan hệ giữa các cá nhân.
B. Bản chất tồn tại được xác định rõ ràng.
C. Phương thức sử dụng kéo dài trong vòng ít nhất hoặc lặp đi lặp lại trong
khoảng thời gian 12 tháng.
D. Rối loạn này không đáp ứng các tiêu chuẩn đối với bất kỳ rối loạn hành
vihoặc rối loạn tâm thần khác liên quan tới loại ma túy và thời gian sử dụng loại ma
túy đó (ngoại trừ nhiễm độc cấp).
1.7.3. Hội chứng nghiện ATS
Là tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện ma túy chung theo tiêu chuẩn chẩn đoán của
ICD-10 và DMS-IV. Song đối với ATS người nghiện không có sự lệ thuộc nghiêm

thái cai ATS.
• Các triệu chứng và dấu hiệu không thể quy cho một bệnh nội khoa không

liên quan đến việc sử dụng ATS, và không thể quy cho một rối loạn tâm
thần hoặc một rối loạn hành vi khác.
B. Có rối loạn khí sắc (buồn hoặc mất khoái cảm).
C. Hai trong số các dấu hiệu sau phải có mặt:
• Mệt mỏi.
• Chậm chạp hoặc kích động tâm thần vận động.
• Cảm giác thèm khát đối với một thuốc kích thích.
• Tăng khẩu vị.
• Mất ngủ hoặc ngủ nhiều.
• Có các giấc mơ khó chịu hoặc kỳ quặc.


Tiêu chuẩn chẩn đoán theo DSM- IV[10]:
A. Hội chứng xảy ra do ngừng hay giảm sử dụng ATS ở người nghiện (đã

dùng liều cao và kéo dài...).
B. Có rối loạn khí sắc và có 2 hoặc nhiều hơn các rối loạn sau đây (xuất hiện
sau khi ngừng sử dụng ATS một vài giờ hay một vài ngày).
• Mệt mỏi
• Có những giấc mơ đáng sợ.
• Mất ngủ hay ngủ nhiều.
• Tăng cảm giác ngon miệng.
• Kích thích hoặc ức chế tâm thần vận động.

C. Các triệu chứng này thể hiện rõ rệt và gây rối loạn các hoạt động xã hội, lao động.
D. Các triệu chứng này không phải do một bệnh lý cơ thể hay rối loạn thần


Khởi đầu của rối loạn cảm xúc có thể xảy ra trong quá trình nhiễm độc hoặc
hội chứng cai. Nói chung, nhiễm độc đi kèm với tính chất cảm xúc thất thường,
trong khi hội chứng cai thường gây ra trầm cảm. Các triệu chứng cảm xúc thất
thường hoặc hưng phấn nhẹ thường thấy trong dùngATS. Trong những tình huống


22

này nên xem xét đến chẩn đoán rối loạn cảm xúc do ATS. Tuy nhiên, thường thì khó
phân biệt rối loạn cảm xúc do các chất này với rối loạn cảm xúc nguyên phát đặc
biệt ở những bệnh nhân có tiền sử trầm cảm trước khi sử dụng ATS. Việc sử dụng
chất này có thể làm trầm trọng hơn những rối loại trầm cảm nguyên phát[2],[17].
Khởi đầu của rối loạn lo âu do ATS có thể xảy ra trong nhiễm độc hoặc sau
cai. Giống như cocain, có thể gây ra các triệu chứng giống như thấy trong rối loạn
ám ảnh nghi thức với các hành vi nhắc lại, rập khuôn. Tuy nhiên, những triệu chứng
này không kéo dài sau giai đoạn ngộ độc. ATS cũng có thể gây ra các cơn hoảng sợ
ở những cá nhân chưa có tiền sử hoảng sợ [18].
1.7.7. Rối loạn nhân cách
Thường là nhân cách chống đối xã hội: Chống lại những chuẩn mực xã hội,
những nội quy, phản ứng mang tính bùng nổ dữ dội.
1.8. Điều trị
Rối loạn tâm thần có thể có nhiều nguyên nhân gây bệnh khác nhau. Điều trị
nhiềuphương pháp khác nhau như hóa dược, liệu pháp sốc điện, kích thích từ xuyên
sọ, liệu pháp tâm lý... Tuy nhiên tùy vào nguyên nhân gây bệnh mà chúng ta ưu tiên
và sử dụng phương pháp điều trị và phối kết hợp điều trị hợp lý.
Điều trị rối loạn tâm thần trong sử dụng ATS và lệ thuộc ATS là một vấn đề
[31]. Điều trị hành vi cần được chú ý trong điều trị lệ thuộc ATSvàđiều trị hóa dược
dường như hiệu quả trong nghiện ATS. Trong thực tế, bệnh nhân sử dụng ATS vào
viện phần lớn là do rối loạn loạn thần (hoang tưởng, ảo giác, kích động) ảnh hưởng
tối cảm xúc và hành vi của bệnh nhân.

không xa lánh NB, luôn phải tiếp cận người bệnh, xoa bóp cho NB.
+ Nếu có tình trạng nguy kịch phải báo cáo bác sĩ kịp thời xử trí.
+ Đảm bảo chế độ dinh dưỡng cho người bệnh, tăng cường hoa quả, chất
dinh dưỡng.
+ Nhân viên trực theo dõi sát người bệnh uống thuốc, các hội chứng cai, theo
dõi chức năng sống theo chỉ định.
+ Phát hiện những hành vi của người bệnh, quan hệ xung quanh, người thân
đến thăm có những khả nghi mang ma túy vào cho người bệnh.
+ Trường hợp người bệnh chống đối không chấp nhận cai báo bác sĩ giải quyết
kịp thời.
+ Ghi nhận xét diễn biến bất thường, hội chứng cai vào phiếu theo dõi, phiếu


24

chăm sóc điều dưỡng.
1.10. Các nghiên cứu về đặc điểm ở bệnh nhân sử dụng ATS
1.10.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về các rối loạn tâm thần do sử dụng ATS,
trong đó rối loạn trầm cảm là một trong các rối loạn tâm thần được các tác giả đề
cập đến nhiều.
 Tại Mỹ

Angrist (1978) phỏng vấn 74 người nghiện ATS, nhận thấy các triệu chứng
tâm thần hay gặp là căng thẳng, kích động và lo âu thường hay gặp và đã nhấn
mạnh tới sự xuất hiện của trầm cảm, tăng cảm giác thèm ăn, ngủ nhiều, chậm chạp
tâm thần vận động khi bệnh nhân ngùng sử dụng ATS [35].
Nghiên cứu của Zweben và cộng sự (năm 2004) đã tiến hành điều tra tình
trạng tâm thần trong số 1016 người sử dụng methamphetamin tại Mỹ, mức độ cao
của triệu chứng tâm thần đặc biệt là trầm cảm (34% nữ và 24% nam) và tự tử (28%

 Tại một số quốc gia khác

Kết quả nghiên cứu hồi cứu ở 50 bệnh nhân nghiện ATS tại Anh, Cantwell B.
và McBride A.J (năm 1998) đã chỉ ra phần lớn (86%) bệnh nhân trải qua triệu chứng
cai khi ngừng sử dụng, chủ yếu với các biểu hiện như: cảm giác khó chịu, đau nhức
và triệu chứng trầm cảm[18].
Các triệu chứng của lo âu và trầm cảm đều có mối liên quan đến sử dụng
ATS. Theo Morgan 2000, sử dụng thường xuyên ATS liên quan đến rối loạn giấc
ngủ, giảm khí sắc, lo âu dai dẳng và những người sử dụng ATS có thang điểm đánh
giá trầm cảm, lo âu cao hơn so với người không sử dụng. Theo Nutting và cộng sự
có 85% người sử dụng ATS có triệu chứng trầm cảm và lo âu so với 7% có tình
trạng loạn thần [27].
1.10.2. Các nghiên cứu trong nước.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trong lĩnh vực y học về các rối loạn tâm thần do
sử dụng ATS còn hạn chế. Tuy nhiên có một vài nghiên cứu có đề cập tới tỷ lệ rối



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status