TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC
---------------------------
NGUYỄN THANH TÂM
TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP
CỦA SINH VIÊN KHOA TÂM LÝ - GIÁO DỤC
HỌC,
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Tâm lý học
Hà Nội, 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC
---------------------------
NGUYỄN THANH TÂM
TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP
CỦA SINH VIÊN KHOA TÂM LÝ - GIÁO DỤC HỌC,
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Tâm lý học
Người hướng dẫn : PGS.TS. Hoàng Thanh Thúy
ĐH
Đại học
ĐHSP HN
Đại học Sư phạm Hà Nội
GV
Giảng viên
SDT
Self – Determination Theory
SL
Số lượng
SV
Sinh viên
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
BẢNG
BIỂU
lớn, thuyết trình, làm việc nhóm…. Điều này đòi hỏi sinh viên phải có các sản
phẩm hoạt động cũng như các tri thức mang tính học thuật. Thứ hai, thái độ
học tập của sinh viên có tính tự giác cao, tích cực và chủ động trong quá trình
tiếp thu, lĩnh hội kiến thức. Động cơ học tập mang tính hiện thực gắn với nhu
cầu và xu hướng nghề nghiệp trong tương lai. Sinh viên là chủ thể lựa chọn
trường, ngành học, môn học, việc làm… . Tuy nhiên, đặc điểm hoạt động học
tập của sinh viên cũng xuất hiện sự phân hóa. Một số sinh viên học thụ động
hoặc không hứng thú với ngành học cảm thấy mệt mỏi và vô nghĩa khi ở Đại
7
học. Điều này cũng phù hợp với các nghiên cứu về vai trò của hứng thú và
ảnh hưởng của nó đối với việc đạt thành tích cao.
Đối với sinh viên khoa Tâm lý – Giáo dục học, tính tích cực học tập rất
quan trọng do: Thứ nhất, khoa Tâm lý – Giáo dục học, trường Đại học Sư
phạm Hà Nội là một khoa nghiệp vụ, đào tạo sinh viên tốt nghiệp trở thành
giảng viên đào tạo cho những giáo viên tương lai về nghiệp vụ sư phạm, lý
luận giáo dục, phương pháp giảng dạy; hoặc chuyên viên tâm lý học trường
học trợ giúp tham vấn, tư vấn, phòng ngừa cho học sinh, giáo viên, phụ
huynh. Điều đó, đòi hỏi sinh viên cần được trang bị đầy đủ và thường xuyên
cập nhật những thay đổi về tâm sinh lý của người học cũng như nghệ thuật sư
phạm, phương pháp giáo dục. Với tính tích cực học tập, SV khoa Tâm lý –
Giáo dục học sẽ chủ động tiếp cận và cập nhật được nhiều nguồn thông tin:
các vấn đề xã hội nổi cộm cần được nghiên cứu; công cụ đo lường, chẩn
đoán; các nghiên cứu khoa học; phát hiện mới… nhằm nâng cao kiến thức
cho bản thân cũng như khả năng ứng dụng khoa học vào chuyên môn. Tuy
nhiên, xét đến thời điểm hiện tại, các tài liệu về Tâm lý – Giáo dục còn ít và
hầu hết đều đi theo hướng của Liên Xô cũ, gắn Tâm lý – Giáo dục học với
quan điểm triết học chủ nghĩa Mác – Lê nin, chưa bắt kịp được xu thế và áp
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu như: tính
•
tích cực; tính tích cực học tập; tính tích cực học tập của sinh viên; các biểu
hiện, mức độ và yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực học tập; đặc điểm tâm
sinh lý của SV khoa TL-GDH, trường ĐHSPHN làm cơ sở lý luận cho vấn đề
nghiên cứu.
Khảo sát và đánh giá thực trạng tính tích cực học tập của SV khoa TL – GDH,
•
trường ĐHSPHN.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Về nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu về nhận thức, biểu hiện
và yếu tố ảnh hưởng tới tính tích cực học tập của sinh viên khoa TL –GDH
trường ĐHSP Hà Nội theo lý thuyết SDT của (Deci & Ryan, 1985, 1991;
Ryan & Deci, 2000a, 2002)
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1.
Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp nghiên cứu lý luận là tổ hợp các phương pháp nhận thức
khoa học bằng con đường suy luận dựa trên các tài liệu lý luận.
7.1.1.
trường ĐHSPHN.
Những số liệu thu được là cơ sở chính để trình bày về kết quả nghiên
cứu, từ đó đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao tính tích cực học tập của SV
khoa TL-GDH.
7.2.2.
Cách thức tiến hành:
Xây dựng phiếu hỏi gồm các câu hỏi đóng, mở, tự luận, cường độ. Các
câu hỏi tập trung khai thác biểu hiện, mức độ và yếu tố ảnh hưởng đến tính
tích cực học tập của sinh viên. Từ đó, đưa ra khái quát về thực trạng tính tích
cực học tập của SV khoa TL-GDH.
7.3.
Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp phỏng vấn sâu là phương pháp trò chuyện, đặt câu hỏi
trực tiếp nhằm thu lại các thông tin chi tiết, làm rõ hơn về hiện tượng tâm lý
được nghiên cứu.
10
7.3.1.
Mục đích nghiên cứu:
Thu thập thông tin bổ sung
Làm rõ, xem xét tương quan kết quả thu được từ các phương pháp khác
7.3.2.
7.5.2.
Cách thức tiến hành:
Thông qua SPSS, tiến hành lập bảng tần số mẫu nghiên cứu và tần số
lựa chọn
8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị và Tài liệu tham khảo
cấu trúc Khóa luận bao gồm 3 chương:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP
CỦA SINH VIÊN KHOA TÂM LÝ - GIÁO DỤC HỌC
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Nghiên cứu nước ngoài
1.1.2. Nghiên cứu trong nước
1.2. Khái niệm công cụ của đề tài
11
1.2.1. Tính tích cực
1.2.2. Hoạt động học tập
1.2.3. Tính tích cực học tập
1.2.4. Khái niệm sinh viên
1.2.5. Tính tích cực học tập của sinh viên
1.3. Tính tích cực học tập của sinh viên khoa Tâm lý - Giáo dục học
1.3.1. Đặc điểm tâm sinh lý và hoạt động học của sinh viên khoa Tâm lý –
Giáo dục học........................................................................................................
1.3.2. Vai trò của tính tích cực học tập đối với sinh viên
1.3.3. Nguồn gốc của tính tích cực học tập của sinh viên
mặt: Nhận thức – Thái độ - Hành vi
3.2. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực học tập của sinh
viên Khoa Tâm lý – Giáo dục học
3.2.1. Thực trạng động lực thúc đẩy tính tích cực học tập
3.2.2. Nhu cầu thúc đẩy tính tích cực học tập
3.3. Các biện pháp nâng cao tính tích cực học tập của sinh viên Khoa
Tâm lý – Giáo dục học trường Đại học Sư phạm Hà Nội
3.3.1.Nguyên tắc xây dựng các biện pháp
3.2.2. Một số biện pháp nâng cao tính tích cực học tập của sinh viên
Tiểu kết chương 3
13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP
CỦA SINH VIÊN KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC HỌC
1.1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1.
Nghiên cứu nước ngoài
Tính tích cực học tập của người học là một vấn đề đã đã được nhiều tác
giả quan tâm nghiên cứu và có mầm mống từ thời cổ đại.
Nhà triết học Hylạp Xôcrat đưa ra phương pháp vấn đáp Ơrístic trong
dạy học: Người thầy giáo là người dẫn dắt, gợi mở để học sinh đi tìm chân lý,
hình thành tính tự lực và phát huy trí lực của họ.
Ngay từ trước công nguyên (551-479) nhà triết học, nhà văn hóa, nhà
giáo dục (Trung Quốc) Khổng Tử đã quan tâm đến dạy học làm sao phải phát
V. Ôkôn (1987) trong cuốn “Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề”
cho rằng tính tích cực là lòng ham muốn hành động được nảy sinh một
cáchkhông chủ định và gây nên những biểu hiện bên ngoài hoặc bên trong của
sự hoạt động, chủ thể đã ý thức được mục đích của hành động.
Geoffrey Petty (1988), Dạy và học ngày nay, NXB Stanley Thornes
Anh Quốc. Cuốn sách có 4 phần, trong đó, tác giả dành riêng phần đầu tiên để
nói về nhu cầu thực tế và tình cảm của người học. Ở phần này, tác giả đi sâu
vào phân tích các cách học, các trường phái về học: 1. Học là một quá trình
tích cực và xây dựng ý nghĩa; 2. Trường phái hành vi: Khen thưởng và tạo
động cơ; 3. Học tập có tính xã hội: có cái học mà không phải dạy. Dù theo
trường phái nào, muốn nâng cao chất lượng dạy và học, cần phải nghiên cứu,
tìm hiểu về động cơ học tập, từ đó có những biện pháp khen ngợi hay phê
bình đúng mức và đúng lúc, tạo ra mối quan hệ thầy trò tích cực, có các cơ
hội bình đẳng giữa giáo viên và SV.
Carrol.E.Jzarl (1992) trong tác phẩm “Những cảm xúc của người” đã
công bố công trình nghiên cứu về hệ thống thái độ của con người – thành
phần không thể thiếu của tính tích cực của con người, tác giả đã trình bày ảnh
hưởng chi phối của cảm xúc với ý thức, mức độ phát triển cao của tính tích
cực. Tác giả còn nghiên cứu sâu sắc thành phần tâm lý quan trọng tính tích
cực của con người mà biểu hiện từ mức độ thấp là “tính tò mò” và mức độ
cao là “khát vọng nghiên cứu”, khao khát khám phá cũng như tính lựa chọn
trong tri giác và chú ý …Trong tác phẩm này, tác giả đã tiếp thu thành tựu của
các tác giả nghiên cứu về các hiện tượng trên một cách có chọn lọc, có phê
phán như Freud, Tomkins, Murphy, Mc Dougall, Berlyne, Shand…
15
Các nhà Tâm lý học, Giáo dục học phương Tây tiếp thu thành tựu
nghiên cứu sinh lý học, triết học, tâm lý học Macxit đã coi học là một hoạt
học tập hiệu quả và một hệ thống bài tập để học sinh, SV bộc lộ, hình thành
và phát triển các cách thức học tập đó, một thành phần của hoạt động học tập,
đó là hành động tích cực lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của nhân loại
chuyển thành tâm lý, ý thức của bản thân. Mỗi người học phải tự tìm ra một
cách thức học phù hợp với năng lực và mục đích học tập của chính bản thân
mình. Theo tác giả, phương pháp học là quan trọng. Nếu người học biết tìm
cho mình phương pháp học đúng sẽ làm tăng niềm đam mê và TTC học tập.
Như vậy, thành công sẽ nối tiếp thành công.
Hetty Hofman, Pamela Wright, Lê Thu Hoà và Nguyễn Hữu Cát biên
dịch, (2005) trong các công trình “Học tích cực – Bước tiếp theo để tăng
cường giáo dục y khoa tại Việt Nam”, Dự án Việt Nam – Hà Lan: “Tăng
cường giảng dạy hướng cộng đồng trong tám trường đại học Y Việt Nam”.
Theo các tác giả, để trả lời cho các câu hỏi: Tại sao SV của tôi học? Học như
thế nào? Cần học những gì để trở thành một bác sỹ giỏi? Họ muốn học những
gì, người thầy phải có những hiểu biết sâu sắc về những khái niệm cốt lõi về
nhu cầu, động lực và sự hỗ trợ xã hội và phải tạo ra được một môi trường học
tập có hiệu quả. Mặc dù tác giả không chỉ rõ những nhân tố nào ảnh hưởng tới
TTC học tập của SV nhưng qua việc phân tích những lý thuyết về học tập,
đưa ra những cơ sở của học tích cực, tác giả dường như chú trọng đến động
cơ học tập và môi trường học tập của người học.
Với những nghiên cứu gần đây về tính tích cực học tập, các nhà nghiên
cứu nước ngoài chú trọng tìm hiểu các kỹ thuật áp dụng phương pháp học tập
tích cực trong lớp học đồng thời các ứng dụng của nó trong nhiều môi trường
khác nhau. Có thể kể đến mô hình lớp học đảo ngược của Lucke và Dunn
(2017), Bishop và Verleger (2013) với phương pháp sử dụng các bài giảng
video trong bài tập về nhà, bài tập nhóm… Một số nghiên cứu của Bodnar và
Clark (2014), Dicheva et al. (2015), Barna và Fodor (2017) khám phá tác
động của việc chơi game ở học sinh ở giáo dục đại học nhận được kết quả tích
cực và đầy hứa hẹn. Hướng dẫn đồng đẳng (PI) cũng là một kỹ thuật học tập
17
được đối tượng đó” Các tác giả cũng chỉ ra việc hình thành tính tích cực học
tập ở học sinh, sinh viên chính là quá trình quá trình hoạt động học ở họ.
Muốn vậy phải thấy rõ được mối quan hệ chặt chẽ giữ dạy học và sự phát
triển trí tuệ từ đó mới đào tạo ra những con người không chỉ có tri thức phòng
18
phú về mọi lĩnh vực mà còn có các kỹ năng, kỹ xảo tương ứng phù hợp với
yêu cầu của xã hội. Theo các tác giả, dạy học phải dựa trên các thành tựu
nghiên cứu tâm lý học của S.L.Rubinstêin, L.V.Zancôp, V.V.Đavưdôp,
N.A.Mentsinscaia, tức là ứng dụng kết quả nghiên cứu tâm lý sư phạm vào
trong quá trình tổ chức, điều khiển hoạt động của học sinh, sinh viên.
Trần Bá Hoành, Lê Tràng Định, Phó Đức Hòa (2003), Áp dụng dạy và
học tích cực trong môn Tâm lý-Giáo dục học, NXB ĐHSP Hà Nội. Tại công
trình nghiên cứu này, các tác giả đã giới thiệu cơ sở lý luận, thực nghiệm, quy
trình áp dụng dạy học tích cực ở nhà trường Phổ thông cũng như Đại học.
Khái niệm TTC nhận thức được đưa ra dựa trên cơ sở tiếp thu quan niệm của
Kharlamop. Các tác giả coi “hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lý tạo nên
TTC”. TTC là phẩm chất vốn có của con người và được biểu hiện trong hoạt
động. TTC học tập là sự gắng sức cao trong hoạt động học tập mà chủ yếu
trong hoạt động nhận thức.
Đặng Vũ Hoạt (2008) cho rằng tính tích cực học tập học tập biểu hiện ở
chỗ huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý, đặc biệt là chức năng tư
duy. Trong đó, sự kết hợp thống nhất giữa các yếu tố tâm lý nhận thức với các
yếu tố tình cảm, ý chí càng linh hoạt bao nhiêu nhất thì ở người học tính tích
cực càng cao bấy nhiêu.
Hồ Ngọc Đại với công trình “Tâm lý học dạy học’’, ông cùng các cộng
sự áp dụng lý thuyết của Ganpêrin, Encônhin, Đavưdôp, Piagiê để xây dựng
công nghệ dạy học gồm 3 giai đoạn:
•
sở thực tiễn về thái độ học tập tích cực của sinh viên, là một thành phần rất
quan trọng trong tính tích cực của sinh viên.
Đỗ Thị Coỏng (2004), Nghiên cứu TTC học tập môn tâm lý học của SV
đại học Sư phạm Hải Phòng, Luận án Tiến sĩ. Tác giả cho rằng TTC học tập
môn Tâm lý học của SV chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, chủ quan và khách
quan, trong đó yếu tố chủ quan là quyết định trực tiếp đến TTC học tập của
các em. Học là hoạt động nhận thức tích cực, tự lực, sáng tạo của người học.
Do đó, sức học, sức tự học, tự phát triển của trò là nội lực quyết định sự phát
triển của bản thân người học. Tác động của thầy, của môi trường xã hội chỉ là
ngoại lực hỗ trợ, thúc đẩy, xúc tác và tạo điều kiện thuận lợi cho người học.
Vì thế, để phát huy TTC của SV, người giảng viên phải tổ chức quá trình dạy
học có nội dung môn học hấp dẫn, phương pháp dạy học tích cực, hình thức
tổ chức dạy học phong phú làm cho SV hiểu rằng muốn chiếm lĩnh được tri
20
thức tâm lý học thì phải tự giác đề ra mục đích, tự tổ chức, điều khiển hoạt
động học tập của mình một cách khoa học.
Luận án tiến sỹ của Nguyễn Xuân Thức (2005) với đề tài “Nghiên cứu
tính tích cực giao tiếp của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động vui chơi”, đã
chỉ ra cơ sở lý luận về tính tích cực nói chung và tính tích cực học tập của học
sinh nói riêng.
Nguyễn Thu Hường, Đại học Sư phạm Hà Nội (2005), Tìm hiểu TTC
trong học tập của SV đối với môn học, Đề tài NCKH đạt giải SV Nghiên cứu
khoa học cấp Bộ. TTC của người học nảy sinh trong quá trình học tập nhưng
nó lại chịu nhiều tác động khác nhau nhưng nhìn chung phụ thuộc vào những
nhân tố sau: 1.Hứng thú; 2. Nhu cầu; 3. Động cơ; 4. Năng lực; 5. Ý chí; 6.
Sức khỏe; 7. Môi trường. Trong những nhân tố trên, có những nhân tố có thể
hình thành ngay nhưng có những nhân tố chỉ được hình thành qua một quá
•
Trạng thái hoạt động.
Tính chủ động (đối lập với bị động).
Theo từ điển Tiếng Việt (Trần Kiều, Nguyễn Thị Lan Anh), tích cực là
một trạng thái tinh thần có tác dụng khẳng định và thúc đẩy sự phát triển.
Theo từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý, 1996), tính tích cực bao gồm 3
nghĩa:
•
Một là: Có ý nghĩa, có tác dụng khẳng định, tác dụng thúc đẩy sự phát triển,
•
trái với tiêu cực.
Hai là: Tính chủ động, có những hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo
•
hướng phát triển.
Ba là: Hăng hái, nhiệt tình với nhiệm vụ, với công việc .
- Quan điểm của các nhà Triết học: Các nhà triết học cho rằng mỗi sự
vật bao giờ cũng thể hiện tính tích cực của nó bởi vật chất luôn vận động và
phát triển không ngừng.
Các nhà triết học duy vật như K.Marx, F.Ăngghen… khi bàn đến tính
tích cực đều coi nó như là thuộc tính của vật chất, tạo điều kiện tiên quyết bên
trong cho sự tự vận động và tự biểu hiện của hoạt động. Tính tích cực là một
phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội, thể hiện ở sức mạnh
con người trong việc chinh phục, cải tạo thế giới tự nhien xã hội và cải tạo
phức tạp của vật chất mà ta gọi là bộ não con người. Nguyên tắc quyết định
luận là nguyên tắc chủ đạo trong chủ nghĩa duy vật khi giải thích hành động
của con người và tính tích cực hoạt động của cá nhân.
Tuy nhiên, có một số người hiểu nguyên tắc này một cách đơn giản coi
con người phản ánh những tác động bên ngoài giống như sự phản chiếu. Đồng
thời họ giải thích hoạt động của con người một cách trực tiếp từ hoàn cảnh
hiện tại và những yêu cầu của hoàn cảnh đó. Một quan niệm mà thực chất có
tính chất cơ giới như vậy sẽ đưa đến chỗ công nhận tính thụ động của cá nhân
và tính chất máy móc trong hành vi của cá nhân.
- Quan điểm của các nhà giáo dục học:
23
V.Ôkôn cho rằng: Tính tích cực là lòng mong muốn hành động được
nảy sinh một cách chủ định và gây nên những biểu hiện bên ngoài hoặc bên
trong của hoạt động.
Kharlamôp coi tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể nghĩa là
của người hành động. Một số tác giả khác lại cho tính tích cực chủ thể là một
hành động ý chí hay một phẩm chất tâm lý.
Các tác giả: B.P.Êxipôp, A.I.Secbacôp, L.Aistô; Đặng Vũ Hoạt,
Nguyễn Ngọc Bảo… xem tính tích cực như là thái độ cải tạo của chủ thể đối
với thế giới khách quan thông qua việc huy động ở mức độ cao các chức năng
tâm lý nhằm giải quyết các vấn đề nảy sinh. Tính tích cực vừa là mục đích
của hoạt động. Nó là phẩm chất hoạt động của cá nhân.
- Quan điểm của các nhà Tâm lý học:
Theo từ điển Tâm lý học: Tính tích cực là đặc điểm chung củua các cơ
thể sống. Trong mối tương quan với hoạt động. tính tích cực đóng vai trò điều
kiện động lực của các quá trình hình thành, thực hiện và thay đổi về loại hình
của hoạt động, nó là thuộc tính quan trọng của sự vận động nội sinh của hoạt
Hulơ, Skinner… có đưa vào công thức những biến số trung gian bao hàm nhu
cầu, trạng chờ đón, kinh nghiệm sống của con người hoặc hành vi tạo tác
nhằm đáp ứng những kích thích có lợi cho cơ thể, nhưng cơ bản vẫn coi con
người có hành vi mang tính chất cơ học.
- Theo tâm lý học Macxit: các nhà tâm lý học Macxit dựa vào triết học
Mac-Lênin nghiên cứu vấn đề tính tích cực hoạt động của cá nhân trên lập
trường quyết định luận xã hội cho rằng các thái độ hình thành nên trong hoạt
động và ở đặc điểm số lượng, chất lượng của hiệu số hoạt động. Nhìn nhận
tính tích cực theo góc độ này được thể hiện như sau:
+ Tính tích cực được đề cập và nhấn mạnh như là một đặc điểm chung
của sinh vật sống, là động lực đặc biệt của mối liên hệ giữa sinh vật sống và
hoàn cảnh, là khả năng đặc biệt tồn tại giúp cơ thể thích ứng với môi trường.
+ Tính tích cực gắn liền với hoạt động và hoàn cảnh bên ngoài, nó được
biểu hiện như sau:
Nó gắn liền với sự hoạt động, được thể hiện như là động lực để hình
thành và hiện thực hóa hoạt động.
Ở mức độ cao, nó thể hiện tính chế ước, chế định trạng thái bên trong
của chủ thể.
25