VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
UNG THỊ MỸ NHÀN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC,
PHỤNG DƯỠNG MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG Ở
THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
UNG THỊ MỸ NHÀN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC,
PHỤNG DƯỠNG MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG Ở
THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN MINH TUẤN
1.1. Các khái niệm liên quan đến đề tài ......................................................................8
1.2. Khái niệm, nội dung thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt
Nam anh hùng ...........................................................................................................12
1.3. Những nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng
mẹ Việt Nam anh hùng .............................................................................................20
1.4. Kinh nghiệm trong thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam
anh hùng ở một số tỉnh, thành phố và bài học kinh nghiệm cho thành phố Tam Kỳ,
tỉnh Quảng Nam ........................................................................................................23
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC,
PHỤNG DƯỠNG MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG Ở THÀNH PHỐ TAM KỲ,
TỈNH QUẢNG NAM ..............................................................................................29
2.1. Khái quát chung về thực trạng đời sống của mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố
Tam Kỳ......................................................................................................................29
2.2. Kết quả thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng
ở
thành
phố
Tam
Kỳ,
.....................................................................38
tỉnh
Quảng
Nam
2.3. Đánh giá chung ..................................................................................................53
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
Việt Nam với tinh thần yêu nước thương nòi, với ý chí kiên cường bất khuất
và lòng thuỷ chung, nhân hậu đã đem cả máu xương, công sức, của cải, đóng
góp công sức vào gìn giữ độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc, xây đắp giang
sơn tươi đẹp cho muôn đời con cháu.
Kế thừa truyền thống quý báu đó của dân tộc ta, trong thời đại Hồ Chí
Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã viết nên những trang sử vẻ
vang trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm để giành độc lập - tự do và thống
nhất đất nước, với cách mạng tháng Tám năm 1945, lập ra nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà; với chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đánh đổ ách
thực dân, giải phóng một nửa giang sơn. Và với ý chí "không có gì quý hơn
độc lập tự do", nhân dân ta đã tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ
và đã làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn Miền
Nam, thống nhất đất nước, cả nước cùng đi lên xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong khi những vết thương nặng nề của chiến tranh xâm lược gây ra
chưa kịp hàn gắn, chúng ta lại phải chịu đựng những hy sinh, tổn thất mới
trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Và
ngay trong xây dựng hoà bình, vẫn cũng những người con của dân tộc ta phải
hy sinh hoặc chịu thương tật để bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân và sự
phồn vinh của đất nước.
Vì nền độc lập - tự do và sự thống nhất, phồn vinh của Tổ quốc, vì hạnh
phúc của nhân dân, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc ta, mà phần lớn là
thanh niên đã hiến dâng tuổi thanh xuân và cả cuộc sống của mình cho đất
1
nước, đã ngã xuống trên chiến trường, hoặc khi trở về đã mang trên mình
thương tật suốt đời. Hàng triệu thân nhân liệt sĩ, những bậc ông bà, cha mẹ,
những người chồng, người vợ và những người con đã không thể gặp lại
chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh
Quảng Nam”, với hy vọng góp phần giải quyết những bất cập, hạn chế trong
thực thi chính sách người có công, để từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả
chăm sóc người có công trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam,
trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo.
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Những nghiên cứu, những bài viết về công tác chăm sóc người có công
với cách mạng đã được những nhà nghiên cứu và độc giả hết sức quan tâm,
với một sự biết ơn sâu sắc cùng với lòng mong muốn những Bà mẹ Việt Nam
anh hùng ngày càng có chất lượng cuộc sống cao hơn, những phẩm chất anh
hùng, yêu nước được truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay.
Đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu cũng như sách, báo, tạp chí
viết về vấn đề này. Năm 1993, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội đã xuất bản
cuốn Một số vấn đề chính sách xã hội ở nước ta hiện nay của tác giả Hoàng
Chí Bảo[9] Chính sách xã hội không ngừng thay đổi để phù hợp với đối tượng
áp dụng. Đất nước ngày càng phát triển thì việc yêu cầu các chính sách phải
xuất phát từ thực tiễn, gắn liền với lợi ích của đối tượng. Chính sách đối với
người có công được thay đổi qua các thời kỳ, sự thay đổi đó có những mặt
tích cực và tiêu cực trong việc triển khai, thực hiện chính sách.
Trong bài viết Pháp lệnh ưu đãi đối với người có công – Một đòi hỏi bức
thiết của cuộc sống, của tác giả Nguyễn Đình Liêu đăng trên tạp chí Lao động
xã hội, số 91 tháng 9/1994 tác giả đã đề cập đến những vấn đề chung nhất về
ưu đãi xã hội ở nước ta, chỉ ra những mặt tích cực cũng như những hạn chế
còn tồn tại trong chính sách ưu đãi người có công với cách mạng của Nhà
nước ta.[10] Pháp lệnh ưu đãi với người có công chính là căn cứ để thực hiện
3
những chính sách, những trợ cấp, chi trả hàng tháng, một lần, các mức ưu đãi
thời, đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách ưu đãi
với người có công.[13]
Nguyễn Thị Hằng, Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH, Tiếp tục thực hiện tốt hơn
nữa chính sách ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sỹ, người có
công với cách mạng, Tạp chí Cộng sản số 7/2005. Tác giả nêu những nét khái
quát thành tựu đạt được trong việc thực hiện ưu đãi xã hội đối với thương
binh, gia đình liệt sỹ và người có công trong 10 năm từ 1995 đến 2005, qua
đó đúc kết những kinh nghiệm và đề ra những giải pháp nhằm thực hiện tốt
hơn chính sách ưu đãi xã hội.[14]
Nguyễn Duy Kiên – Phó Cục trưởng Cục Người có công, Bộ LĐTBXH,
Chính sách Người có công – là trách nhiệm của toàn dân, Tạp chí Tuyên giáo
số 7/2012. Qua bài viết này, tác giả đã khái quát một số thành tựu của chính
sách ưu đãi người có công trong những năm qua, đi sâu vào đánh giá tìm hiểu
nguồn lực thực hiện chính sách ở nước ta. Khẳng định nguồn lực của Nhà
nước thông qua chế độ trợ cấp ưu đãi thường xuyên ngày càng giữ vai trò chủ
đạo trong việc ổn định đời sống của người có công với cách mạng, bởi đa
phần họ là những người không hưởng chế độ lương hay bảo hiểm xã hội.[18]
Nguyễn Thị Thu Hoài, Chú trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Việt Nam đối với thương binh liệt sỹ và người có công với cách mạng từ năm
1991 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013. Luận văn đã đưa ra cái nhìn tổng
thể những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với đối tượng
người có công từ năm 1991 đến năm 1995 và những đổi mới trong công tác
lãnh đạo, chỉ đạo Nhà nước cùng những chủ trương chính sách ưu đãi cho phù
hợp với tình hình mới trong giai đoạn 1996 đến 2010[17].
Các công trình nghiên cứu cũng như các sách, tạp chí trên đã góp phần
cơ bản về lý luận cho việc thực hiện chế độ ưu đãi cho người có công. Đặt
5
6
chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, các tài liệu có liên quan đến
chính sách chăm sóc phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng, phân tích các tài
liệu, văn bản, các thông tin đã thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau. Phân
tích và tổng hợp các thông tin trên cơ sở đó đưa ra các nhận xét, đánh giá.
- Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập các thông tin từ các nguồn
như sách, báo, trên mạng internet, các báo cáo liên quan đến chính sách chăm
sóc phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng. Những thông tin thu thập được xử
lí theo yêu cầu của bài thực tập nhưng vẫn đảm bảo tính khách quan.
- Phương pháp quan sát: Nhằm kiểm tra độ chính xác của những thông
tin thu thập được trong thực tiễn.
6. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn chính sách chăm sóc
phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm
nâng cao chính sách chăm sóc phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở
thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, trong giai đoạn hiện nay và những năm
tiếp theo.
7. Kết cấu của đề tài: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục, nội dung đề tài gồm 3 chương
Chương 1: Những vẫn đề lý luận về thực hiện chính sách ưu đãi người
có công với cách mạng.
Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách chăm sóc phụng
dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh việc thực hiện chính sách chăm sóc,
phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng.
7
sinh tính mạng, hy sinh một phần thân thể trong thời kỳ trước Cách mạng
tháng 8 năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ
quốc và làm nghĩa vụ quốc tế được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công
nhận.
Theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 04/2012/PLUBTVQH13 ngày 16/7/2012, Người có công với cách mạng bao gồm:
Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945
Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày
khởi nghĩa tháng Tám năm 1945
Liệt sĩ
Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân
Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến
Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh
Bệnh binh
Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học
Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày
Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm
nghĩa vụ quốc tế
Người có công giúp đỡ cách mạng. [1]
Như vậy, người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín
ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác có những đóng góp, những cống hiến xuất
sắc trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc
kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền công nhận. Người có công bao gồm người tham gia hoặc giúp
đỡ cách mạng mà hy sinh xương máu một phần hoặc một phần thân thể của
mình hoặc cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng và được các
9
10
1.1.5. Đặc điểm tâm lý của Mẹ Việt Nam anh hùng
Cũng như mọi người, các Mẹ Việt Nam anh hùng rất cần có một cuộc
sống vật chất và tinh thần đầy đủ, no ấm và hạnh phúc. Mặc khác Mẹ đã có
nhiều cống hiến hy sinh, chịu nhiều thiệt thòi mất mát vì sự nghiệp chung của
dân tộc, do đó Mẹ cần được mọi người tôn trọng, quan tâm chăm sóc, chia sẻ,
động viên nhiều hơn để Mẹ vơi đi nỗi đau mất mát người thân.
Các Mẹ Việt Nam anh hùng luôn có ý thức về quá khứ cống hiến của
mình cho cách mạng, sự hi sinh cao cả, có tinh thần trách nhiệm giữ gìn
những phẩm chất và truyền thống cách mạng. Đại bộ phận các Mẹ luôn
gương mẫu trong đời sống và công tác, thể hiện thái độ trung thành với chế độ
mà những người thân yêu nhất của mình đã đem xương máu, sức lực ra chiến
đấu, bảo vệ.
Khi hòa bình lập lại cho đến nay dù mang trong mình nỗi đau mất
chồng, mất con nhưng các Mẹ vẫn nổ lực cố gắng vươn lên trong cuộc sống,
với sức mạnh phi thường, các mẹ đã vượt qua nổi đau. Sự mất mát người thân
là sự đau đớn nhất đối với những người mẹ, người vợ mà không gì có thể bù
đắp được. Mẹ rất cần sự quan tâm chia sẻ, động viên nhất là vào những dịp lễ,
ngày tết bởi Mẹ cũng muốn sự đầm ấm hạnh phúc trong những ngày này.
Tìm hiểu kỹ đặc điểm, nhu cầu của các Mẹ có ý nghĩa rất quan trọng để
đưa ra những giải pháp chăm sóc, hỗ trợ phù hợp, đem lại hiệu quả cao, nhằm
bù đắp phần nào những hy sinh cống hiến to lớn của các Mẹ đối với cách
mạng và đất nước.
1.1.6. Sự cần thiết chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng
Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc: "Uống nước nhớ
nguồn", "Đền ơn đáp nghĩa", ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống thực
dân Pháp (năm 1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định chọn ngày 27-7 là
Ngày Thương binh - Liệt sĩ để tỏ lòng "hiếu nghĩa bác ái" với thương binh,
Việc chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng luôn được các
12
cấp, các ngành, tổ chức đoàn thể và nhân dân trên địa bàn thành phố đặc biệt
quan tâm. Mỗi đơn vị, tổ chức, cá nhân đã có những việc làm ý nghĩa thể hiện
sự tri ân sâu sắc công lao của các mẹ đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
1.2.2. Nội dung
1.2.2.1. Cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chính sách chăm sóc, phụng
dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng
Chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng thể hiện sự
quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta với thế hệ đã “sẵn sàng chiến đấu,
hi sinh vì sự độc lập tự do của Tổ quốc”. Trong đó, có rất nhiều chính sách cụ
thể: chính sách trợ cấp, chính sách bảo hiểm y tế, chính sách điều dưỡng,
chính sách chăm sóc sức khỏe, chính sách ưu đãi trong kinh tế, chính sách hỗ
trợ về nhà ở... cho người có công nói chung và bà mẹ Việt Nam anh hùng nói
riêng. Trong đề tài này, tác giả thực hiện nghiên cứu về chính sách chăm sóc,
phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng.
Pháp lệnh số 26/2005/PL/UBTVQH11 ngày 29/6/2005 về ưu đãi người
có công với cách mạng.
Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh
hùng” năm 1994
Thông tư số 13/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC hướng dẫn chế độ điều
dưỡng phục hồi sức khỏe, cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình đối
với người có công với cách mạng và thân nhân.
Thông tư số 36/2015/TT-BLĐTBXH ngày 28/9/2015 hướng dẫn hồ
sơ, trình tự, thủ tục thực hiện chế độ ưu đãi trong giáo dục đào tạo với
người có công với cách mạng và con của họ.
Thông tư số 09/2013/TT-BXD ngày 1/7/2013 hướng dẫn thực hiện
hùng tại Nghị định 56/2013/NĐ-CP, nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam
anh hùng”. Cụ thể:
14
“1. Bà mẹ được tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước“Bà mẹ Việt Nam anh
hùng” được tặng Bằng, Huy hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, được hưởng
chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng và pháp
luật về ưu đãi người có công với cách mạng.
2. Bà mẹ được truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam
anh hùng” thì thân nhân thờ cúng bà mẹ được nhận Bằng, Huy hiệu “Bà mẹ
Việt Nam anh hùng”, được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về
thi đua, khen thưởng và pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng.
3. Tổ chức lễ tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ
Việt Nam anh hùng” được quy định như sau:
a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu
trách nhiệm tổ chức lễ tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà
mẹ Việt Nam anh hùng”;
b) Lễ tặng hoặc truy tặng được tổ chức trang trọng, tiết kiệm, có ý nghĩa
giáo dục truyền thống; trang trí buổi lễ có dòng chữ: Lễ tặng hoặc truy tặng
danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.
4. Tổ chức lễ tang khi Bà mẹ Việt Nam anh hùng từ trần được quy định
như sau:
a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm tổ chức lễ tang
với thành phần đại điện cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị – xã hội; cơ
quan, đơn vị phụng dưỡng và nhân dân nơi bà mẹ cư trú;
b) Lễ tang được tổ chức trang trọng, tiết kiệm phù hợp với phong tục, tập
quán của địa phương; trang trí buổi lễ có dòng chữ: Lễ tang Bà mẹ Việt Nam
triển rộng rãi các hình thức chăm sóc người có công ở cộng đồng để mọi
người dân chủ động tham gia.
Chăm sóc sức khỏe người có công còn là đa dạng hóa các nguồn đầu tư
cho sự nghiệp phát triển, khai thác các nguồn lực đang tiềm ẩn trong cộng
đồng xã hội. Cùng với tăng dần ngân sách Nhà nước, huy động và sử dụng có
16
hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo thêm điều kiện cho các hoạt động
chăm sóc người có công phát triển cao hơn, có chất lượng hơn.
Chăm sóc sức khỏe Người có công, huy động nguồn lực trong nhân dân
không nên hiểu chỉ là biện pháp tạm thời, là giải pháp tình thế trước mắt do
Nhà nước thiếu kinh nghiệm cho hoạt động này. Sau này khi đất nước đã
phát triển, ngân sách Nhà nước đã dồi dào vẫn phải thực hiện xã hội hóa, bởi
vì chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng là một chính sách
lớn và ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của đất nước.
Như vậy cùng với hệ thống chính sách ưu đãi của Nhà nước, việc huy
động toàn dân chăm sóc sức khỏe Người có công đã góp phần chăm lo tốt
hơn đời sống mọi mặt của những Bà mẹ Việt Nam anh hùng và người có
công đúng với quy định trong Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách
mạng: việc quan tâm chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần của người có công
với nước và gia đình họ là trách nhiệm của Nhà nước và của toàn xã hội.
Theo quy định tại Thông tư số 13/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày
03/6/2014 về hướng dẫn chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe, cấp phương
tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình đối với người có công với cách mạng và
thân nhân; quản lý các công trình ghi công liệt sĩ thì bà mẹ Việt Nam anh
hùng được hưởng chế độ điều dưỡng theo quy định mỗi năm một lần, được
cấp thẻ bảo hiểm y tế khám chữa bệnh
1.2.2.4. Thực hiện xây dựng nhà tình nghĩa
xây dựng Quỹ Đền ơn đáp nghĩa bằng sự đóng góp tự nguyện với trách
nhiệm và tình cảm của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong,
ngoài nước để cùng Nhà nước chăm sóc người có công với cách mạng theo
tinh thần Nghị định số 45/2006/NĐ-CP ngày 28/4/2006 của Chính phủ.
Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam phát động đã huy động được sức mạnh của toàn xã hội tham
gia với một trách nhiệm và tình cảm sâu sắc. Bằng những việc làm thiết
18
thực, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đã trở thành nét đẹp trong đời sống
văn hóa dân tộc. Phong trào đã và đang phát triển cả chiều rộng lẫn chiều
sâu với nhiều hình thức phong phú như: nhà tình nghĩa; vườn cây tình
nghĩa; áo lụa tặng bà; áo ấm tặng mẹ; giúp đỡ, chăm sóc thương binh, bệnh
binh nặng, bố mẹ liệt sĩ già yếu, cô đơn, con liệt sĩ; phụng dưỡng Bà mẹ
Việt Nam Anh hùng… Từ kết quả vận động xây dựng Quỹ đã góp phần hỗ
trợ tu bổ nghĩa trang, đài tưởng niệm, xây dựng nhà bia ghi tên liệt sĩ, xây
dựng và sửa chữa nhà ở, thăm hỏi người có công với cách mạng hoặc thân
nhân gặp hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khi ốm đau, khám, chữa bệnh và khi
qua đời...
1.2.2.6. Chương trình tặng sổ tiết kiệm
Sổ tiết kiệm được tặng với mục đích nhằm hỗ trợ cho Mẹ Việt Nam anh
hùng về kinh phí để giải quyết các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống.
Chương trình tặng sổ tiết kiệm được các cơ quan, đơn vị và cá nhân
hưởng ứng thực hiện một cách tích cực. Đây là Chương trình có ý nghĩa nhân
văn thiết thực, góp phần động viên, chia sẻ và giúp đỡ những bà mẹ Việt Nam
có thêm điều kiện để vươn lên trong cuộc sống.
1.2.2.7. Phong trào nhận phụng dưỡng
Với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, nhiều đơn vị, cơ quan trên địa bàn
- Thể chế chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng:
Chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng là trách nhiệm
của Nhà nước và toàn xã hội, thể hiện trong việc Nhà nước tổ chức nghiên
cứu, hoạch định, ban hành hệ thống chính sách, chế độ và tổ chức thực hiện.
Chính sách này nhằm nâng cao và cải thiện hơn nữa đời sống vật chất và tinh
thần cho những bà mẹ Việt Nam anh hùng, thể hiện sự quan tâm, biết ơn của
Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với sự hy sinh, cống hiến của họ cho đất
nước. Việc tổ chức thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt
Nam anh hùng phải thích hợp, đảm bảo chắc chắn và ổn định. Chính sách
20