Quản lý nhà nước về việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số huyện bắc trà my tỉnh quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐÌNH TRUNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC LÀM CHO LAO
ĐỘNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN BẮC
TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐÌNH TRUNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC LÀM CHO LAO
ĐỘNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN BẮC
TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành

: Quản lý kinh tế

Mã số

: 8 34 04 10


VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI
HUYỆN BẮC TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM ......................................... 29
2.1. Tổng quan về huyện Bắc Trà My – Tỉnh Quảng Nam ............................ 29
2.2. Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người
dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My – Tỉnh Quảng Nam ................................ 35
2.3. Đánh giá chung về công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động
đồng bào dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My – Tỉnh Quảng Nam ……..49
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU
SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẮC TRÀ MY – TỈNH QUẢNG NAM .. 56
3.1. Định hướng và quan điểm của huyện Bắc Trà My ..................................
56
3.2. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao
động người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My – Tỉnh Quảng Nam............. 61
3.3. Một số kiến nghị....................................................................................... 74
KẾT LUẬN .................................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
S T
T ừ
1
2 C C
N ô
3
D
t
4 GQG
qu



DANH MỤC BẢNG BIỂU
S
T

ra
h
iệ T n

2n 3
.g 2
B

2n 3
.g 5
B

2n 3
.g 6
B

2n 3
.g 9
B
á
2o 4
. cá 0
B


Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII khẳng định "Giải quyết tốt lao
động, việc làm và thu nhập cho người lao động, bảo đảm an sinh xã hội” [1, tr.
18].
Hiện nay, vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam chiếm 2/3 diện
tích tự nhiên của cả nước, là địa bàn cư trú chủ yếu của 53 dân tộc thiểu số
với gần 13,4 triệu người, chiếm trên 14% dân số cả nước (năm 2017). Đây là
địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng an ninh, có
tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, đây cũng là địa bàn có điều
kiện tự nhiên khắc nghiệt, cơ sở hạ tầng yếu kém; xuất phát điểm và trình độ
phát triển kinh tế - xã hội thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, mặt bằng dân trí thấp,
thường bị ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt... Cuộc sống và việc làm của người
dân vùng dân tộc dễ rơi vào tình trạng bấp bênh, không ổn định, khó duy trì,
trình độ dân trí thấp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ về mất ổn định an ninh, chính trị.
Huyện Bắc Trà My là một huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam có địa
hình rất phức tạp, địa thế núi cao, đất dốc hiểm trở, có nhiều sông suối chằng
chịt, có núi rừng trùng điệp. Lao động người DTTS chiếm tỷ trọng gần 52%
dân số toàn huyện. Đa số người lao động người DTTS tại đây sống chủ yếu
bằng nghề nông, lâm nghiệp. Cùng với xu thế đô thị hóa làm cho diện tích
đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp
đã khiến cho thời gian nông nhàn của người lao động tăng cao. Lao động
1


người DTTS bị đẩy vào thị trường lao động khi chưa trang bị đầy đủ những
yêu cầu cần thiết để đáp ứng với yêu cầu của thị trường lao động hiện nay.
Bên cạnh đó, công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động nông thôn
nói chung và lao động người DTTS nói riêng vẫn còn một số hạn chế nhất
định. Việc triển khai các văn bản hướng dẫn liên quan đến công tác đào tạo
nghề, giải quyết việc làm cho lao động và các văn bản pháp luật liên quan
đến việc làm cho lao động chưa được thực hiện đầy đủ. Công tác đào tạo

- Nguyễn Hoàng Hiệp (2013), “Quản lý Nhà nước về tạo việc làm cho
thanh niên nông thôn tỉnh Long An. Luận văn thạc sỹ Quản lý công, Học viện
hành chính Quốc gia. Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về
tạo việc làm và công tác quản lý Nhà nước về tạo việc làm cho thanh niên
nông thôn trong tỉnh. Trên cơ sở lý luận trong chương 1, tác giả đã đánh giá
thực trạng công tác quản lý Nhà nước về tạo việc làm cho lao động nông thôn
trên địa bàn tỉnh Long An. Trên cơ sở những vấn đề còn tồn tại, hạn chế của
vấn đề nghiên cứu. Tác giả xây dựng các giải pháp nhằm tăng cường công tác
quản lý Nhà nước về tạo việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh
Long An. Song các giải pháp còn mang tính định hướng, chưa thực hiện việc
dự báo nhu cầu nguồn nhân lực của địa phương trong thời gian đến, chưa thực
hiện việc điều tra khảo sát để đánh giá trình độ, tay nghề của thanh niên để có
các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong điều kiện mới.
- Ngô Thị Hồng Nhung (2010), “Nhìn lại một năm đào tạo nghề và giải
quyết việc làm cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg của
Thủ tướng Chính phủ”.Tác giả đã đưa ra đánh giá tổng quan sau một năm
thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về vấn đề giải
quyết việc làm cho nông thôn. Bài viết đưa ra những kết quả đã đạt được,
đồng thời cũng phản ánh những khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện
Đề án. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những kiến nghị để nhằm nâng cao hiệu
quả của việc thực hiện đề án, tổ chức đào tạo nghề hiệu quả, hợp lý góp phần
tạo công ăn việc làm cho nông dân.
3


- Trần Văn Tùng (2014) “Nghiên cứu giải pháp giải quyết việc làm cho
lao động người dân tộc thiểu số tỉnh Lạng Sơn”. Luận văn thạc sĩ chuyên
ngành quản lý kinh tế của Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Luận văn đã trình
bày khái quát những lý luận liên quan đến công tác giải quyết việc làm cho
lao động người dân tộc thiểu số, trên cơ sở lý luận đã trình bày, tác giả tiến

số nói riêng tại huyện Bắc Trà My - Tỉnh Quảng Nam.
+ Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước về việc
làm cho lao động người DTTS huyện Bắc Trà My - Tỉnh Quảng Nam giai
đoạn 2014 - 2018.
+ Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về việc làm
cho lao động người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My - Tỉnh Quảng Nam
trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý Nhà nước về việc làm cho
lao động người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My - Tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến
công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số
huyện Bắc Trà My - Tỉnh Quảng Nam.
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Bắc Trà My - Tỉnh
Quảng Nam.
- Về thời gian: Phân tích thực trạng giai đoạn 2014 - 2018 và xây dựng
giải pháp giai đoạn 2019 - 2025.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với các quan điểm, đường lối chính sách của
Đảng về công tác giải quyết việc làm cho lao động nông thôn nói chung và
lao động là người DTTS nói riêng. Đồng thời, sử dụng những kiến thức kinh

5


tế tổng hợp về công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động nông
thôn. Ngoài ra, luận văn còn kế thừa có chọn lọc và vận dụng phù hợp những

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Góp phần cung cấp những vấn đề có tính lý luận về công tác quản lý
Nhà nước về việc làm cho lao động nông thôn nói chung và lao động DTTS
nói riêng trên địa bàn huyện Bắc Trà My và tỉnh Quảng Nam.
6.1. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo,
phục vụ đào tạo, giảng dạy, học tập và nghiên cứu những chuyên đề thực tế
liên quan đến công tác quản Nhà nước về việc làm. Nguồn tài liệu sử dụng
cho các cơ quan quản lý cấp huyện tham khảo để đề xuất giải pháp hoàn thiện
công tác QLNN về việc làm cho lao động nông thôn nói chung và người
DTTS trong thời gian tới.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được kết cấu thành 3 chương. Cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động
người DTTS.
Chương 2: Thực trạng quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người
DTTS huyện Bắc Trà My – Tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công quản lý Nhà nước về việc làm cho
lao động người DTTS huyện Bắc Trà My – Tỉnh Quảng Nam.

7


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1. Khái niệm về người dân tộc thiếu số

thuộc dân tộc có số dân ít hơn với dân tộc đa số trong phạm vi lãnh thổ Việt
Nam, có những đặc điểm riêng về chủng tộc, ngôn ngữ, phong tục, tập quán.
1.1.2. Khái niệm về việc làm và tạo việc làm
1.1.2.1. Khái niệm về việc làm
Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạt động lao
động được trả bằng tiền mặt và bằng hiện vật. Theo khái niệm này có thể hiểu
rằng: việc làm là một dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, có
thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thu nhập cho bản thân, người thân, gia đình
hoặc cộng đồng.
Theo điều 9, Bộ luật lao động năm 2012 quy định: “Việc làm là hoạt
động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm, Nhà nước, người
sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo
đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm”.
Như vậy, có thể kết luận rằng: Việc làm là những hoạt động lao động
trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mang lại thu nhập cho người lao
động mà không bị pháp luật ngăn cấm.
1.1.1.2. Khái niệm về tạo việc làm
Tạo việc làm là quá trình đưa người lao động vào làm việc, tạo ra những
điều kiện cần thiết cho sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất và sức lao động, tạo
việc làm có thể được hiểu theo hai khía cạnh khác nhau:
- Theo nghĩa rộng: Tạo việc làm bao gồm những vấn đề liên quan đến
việc phát triển nguồn nhân lực. Nghĩa là quá trình diễn ra từ vấn đề giáo dục
đào tạo và phổ cập nghề nghiệp để chuẩn bị cho người lao động, đến vấn đề
tự do lao
9


động và hưởng thụ xứng đáng với giá trị mà lao động của họ tạo ra, cải thiện
và nâng cao chất lượng cuộc sống. Theo nghĩa này, vấn đề tạo việc làm gắn
liền và được thực hiện thông qua các chính sách và các chương trình phát triển

hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan Nhà nước, song có thể các tổ chức
chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu
được Nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của Nhà nước theo
quy định của pháp luật.
Theo nghĩa rộng: Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy Nhà
nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực Nhà nước trên
các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo cách hiểu này, quản lý
Nhà nước được đặt trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân
dân lao động làm chủ”
Theo nghĩa hẹp: Quản lý Nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức,
điều hành của hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước đối với các quá trình
xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được
những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ QLNN. Ngoài ra, các cơ quan Nhà nước
nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính
chất hành chính Nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ
công tác nội bộ của mình. Chẳng hạn: ban hành Quyết định thành lập, chia
tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng,
kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ.
1.1.4. Vai trò quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người dân
tộc thiểu số
Chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định: Bất kỳ một quá trình sản xuất nào
cũng đều là sự kết hợp của ba yếu tố cơ bản đó là sức lao động, tư liệu lao
động và đối tượng lao động. Đó là những yếu tố vật chất cho quá trình lao
động diễn ra. Tư liệu sản xuất tự nó không thể tạo ra các sản phẩm phục vụ
cho nhu cầu cần thiết của con người và xã hội, nếu không có sự kết hợp của
sức lao động. Sức lao động của con người luôn đóng vai trò quyết định trong
quá trình sản xuất ở mọi thời đại. Nhân tố con người vừa là chủ thể vừa là
11




và thực thi như: huy động nguồn vốn đầu tư phát triển, đẩy mạnh phát triển
kinh tế tạo nhiều việc làm; lập Quỹ quốc gia về việc làm (năm 1992) để cho
vay vốn tạo việc làm với lãi suất ưu đãi theo các dự án nhỏ; hình thành Quỹ
giải quyết việc làm địa phương; hình thành và phát triển hệ thống các Trung
tâm giới thiệu việc làm và các cơ sở đào tạo nghề xã hội; phát triển nhiều hình
thức, mô hình tổ chức giải quyết việc làm phong phú, đa dạng; quan tâm đến
hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia nhằm giải quyết việc làm với thu
nhập cao, đồng thời nâng cao trình độ tay nghề, tác phong công nghiệp cho
người lao động…, góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về tạo
việc làm cho người lao động. Qua đó, huy động được mọi nguồn lực cho đầu
tư phát triển và tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, bước đầu chuyển đổi cơ
cấu và chất lượng lao động theo hướng tích cực.
Bên cạnh đó, Nhà nước rất coi trọng xây dựng và thực hiện các chương
trình mục tiêu để tập trung nguồn lực giải quyết các vấn đề bức xúc nhất về thị
trường lao động và việc làm bảo đảm thu nhập tối thiểu và giảm nghèo như:
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và dạy nghề; Chương trình
mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm; Chương trình mục tiêu
quốc gia Giảm nghèo bền vững (giai đoạn 2012 - 2015, 2016 - 2020); Chương
trình tăng cường nâng cao năng lực đào tạo nghề (giai đoạn 2001- 2005, 2006
-2010); Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn, bộ đội xuất ngũ;
Chương trình 135, Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP… các Chương trình này
hướng vào hỗ trợ người thất nghiệp, người chưa có việc làm, người nghèo
và nhóm xã hội yếu thế tự tạo việc làm hoặc tìm việc làm trên thị trường lao
động, nhằm đảm bảo an sinh xã hội, trong đó lao động vùng nông thôn là
đối tượng liên quan chủ yếu.
Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” (gọi tắt là
Đề án 1956). Với mục tiêu đến năm 2020, sẽ đào tạo nghề cho gần 10 triệu lao
động nông thôn làm việc ở khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp và bồi
dưỡng đào

kiểm tra việc thực hiện các chương trình việc làm, việc sử dụng quỹ giải
14


quyết việc làm trong phạm vi địa phương theo các quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân dân cấp xã (phường, thị trấn): Căn cứ hướng dẫn chuyên
môn của cơ quan Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện xây dựng
kế hoạch công tác lao động tháng, quý, năm và tổ chức thực hiện. Thống kê
nguồn lao động của xã để trình Ủy ban nhân dân huyện có giải pháp cân đối
nguồn lao động, tạo việc làm, học nghề, xuất khẩu lao động, thực hiện nghĩa
vụ lao động công ích.
1.2.3. Tổ chức thực hiện quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động
người DTTS
Tổ chức đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: Đào tạo nghề là nhằm cung
cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ
liên quan tới công việc, nghề nghiệp được giao.
Theo tác giả Tack Soo Chung (1982): Đào tạo nghề là hoạt động đào tạo
phát triển năng lực lao động (tri thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp) cần
thiết để đảm nhận công việc được áp dụng đối với những người lao động và
những đối tượng sắp trở thành người lao động.
Đào tạo nghề là con đường cơ bản để giúp cho con người lĩnh hội, hình
thành và phát triển tri thức, các kỹ năng chuyên môn. Người lao động có trình
độ đào tạo nghề càng cao, khả năng có việc làm và mức thu nhập càng cao.
Phát triển đào tạo nghề là biện pháp giảm nghèo bền vững trên cơ sở phát huy
năng lực nội sinh của mỗi cá nhân, để họ tham gia vào quá trình sản xuất xã
hội, tạo ra thu nhập đảm bảo cuộc sống của chính bản thân và gia đình họ.
Hoạt động đào tạo nghề cho lao động ngày càng phát triển, giúp người
lao động có khả năng làm chủ được công nghệ từ đơn giản đến phức tạp và
hiện đại. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, nhà đầu tư nước ngoài “Người

của Chính phủ và các cơ sở dạy nghề khác do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý.
Tổ chức các hoạt động thu hút, tạo điều kiện thuận lợi để các cơ sở giới
thiệu việc làm tổ chức sàn giao dịch việc làm và tư vấn đào tạo nghề và xuất
khẩu lao động tại địa phương.
16


Hỗ trợ vay vốn giải quyết việc làm cho lao động DTTS
Hỗ trợ vốn là quá trình các cơ quan quản lý Nhà nước tạo ra điều kiện để
lao động và lao động DTTS tiếp cận các nguồn tài trợ vốn tạo ra việc làm
như: tạo ra hành lang pháp lý để các tổ chức tín dụng nhận được lợi ích khi
thực hiện tài trợ hay tạo điều kiện cho các tổ chức đoàn thể lập quỹ tài trợ.
Ngoài ra, Nhà nước đứng ra trực tiếp tài trợ vốn cho họ.
Vốn vay từ Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm với lãi suất ưu đãi là biện pháp
tài chính quan trọng để kích thích các cơ sở sản xuất kinh doanh, các hộ gia
đình được vay vốn phát triển sản xuất tạo việc làm và tăng thu nhập. Đây là
chương trình tạo ra ngành nghề mới, thu hút được lao động DTTS, tạo ra việc
làm cho người lao động chưa có việc làm, thất nghiệp và người thiếu việc
làm. Để họ có thu nhập để nuôi sống bản thân, gia đình và đóng góp một phần
cho xã hội.
Chương trình vay vốn tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm với mục
tiêu là cho vay ưu đãi với lãi suất thấp từ Quỹ quốc gia về việc làm để hỗ trợ
tạo việc làm cho lao động.
Xây dựng các mô hình phát triển kinh tế, dự án phát triển sản xuất
Phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh là một trong những yếu tố góp
phần GQVL đem lại hiệu quả cao cho người lao động. Phát triển sản xuất gắn
liền với nhu cầu cao về nguồn nhân lực, trong đó có lao động người DTTS.
Xây dựng các mô hình phát triển kinh tế, dự án phát triển sản xuất. Cần
có các chính sách tài chính, tín dụng, đất đai, tạo điều kiện thuận lợi để lao
động DTTS có thể tự tạo việc làm thông qua phát triển kinh tế hộ gia đình,

của nguồn lực. Việc làm của người lao động được được thể hiện dưới nhiều
hình thức tổ chức sản xuất. Để thu hút nguồn lực lao động nông nhàn, việc
lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất thích hợp là một trong những giải pháp
nhằm GQVL cho người lao động, đặc biệt là đối với lao động DTTS.
Xuất khẩu lao động để giải quyết việc làm cho lao người DTTS
Xuất khẩu lao động đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status