VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN VĂN NGHĨA
PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT ĐỐI
VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ
THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Đà Nẵng, năm 2019
1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN VĂN NGHĨA
PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT ĐỐI
VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ
THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành
: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số :
8.38.01.02
2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân
tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Nam........................................................................ 34
2.2. Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở
tỉnh Quảng Nam .............................................................................................. 39
2.3. Đánh giá chung và bài học kinh nghiệm trong công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam ..........
55
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 58
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC THIỂU SỐ .................................................................................. 60
3.1. Quan điểm tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc
thiểu số ............................................................................................................ 60
3.2. Giải pháp tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc
thiểu số ............................................................................................................ 64
KẾT LUẬN .................................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BTC
Bộ Tài chính
BTP
Bộ Tư pháp
CP
NXB
Nhà xuất bản
QĐ
Quyết định
QH
Quốc hội
TTg
Thủ tướng Chính phủ
TW
Trung ương
TT
Thông tư
UBND
Ủy ban Nhân dân
XHCN
1
giáo dục pháp luật không ngừng được tỉnh Quảng Nam đẩy mạnh thực hiện
và đặt ra những kế hoạch hoạt động phù hợp với đặc thù riêng của địa phương
mình. Tuy nhiên, trên thực tế Quảng Nam là một tỉnh có 09 huyện miền núi,
vùng cao còn nhiều khó khăn ý thức pháp luật trong nhân dân còn nhiều hạn
chế do đó đòi hỏi công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phải được tiến hành
thường xuyên liên tục với nhiều biện pháp thích hợp hơn. Là một người đã
từng gắn bó với công việc tại nới người đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS)
đang sinh sống bản thân tôi đã được tiếp cận, tìm hiểu với công tác phổ biến,
tuyên truyền và giáo dục pháp luật qua đó thấy được phần nào những khó
khăn vướng mắc cũng như những kết quả đã đạt được của công tác này tại địa
phương này. Để thể chế hóa quan điểm do Đảng đề ra, nhiều văn bản pháp
luật về giáo dục pháp luật đã được nhà nước bàn hành, ngày 25/5/2017 Thủ
tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 705/QĐ-TTg về ban hành chương
trình phổ biến giáo dục pháp luật giai đoạn 2017 - 2021. Do đó tôi chọn đề tài
" Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn
tỉnh Quảng Nam" là nội dung chính trong chuyên đề luận văn tốt nghiệp của
mình. Tuy nhiên do kiến thức còn hạn chế, thời gian công tác không nhiều
nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Rất mong nhận được ý
kiến đóng góp của thầy cô để bản thân tôi góp phần nhỏ bé vào công tác
PBGDPL nói chung và PBGDPL cho đồng bào DTTS ở Quảng Nam nói
riêng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay, công tác phổ
biến giáo dục pháp luật càng có ý nghĩa quan trọng, cần thiết. Đặc biệt, nó
càng trở nên quan trọng, bức thiết khi hiện nay Đảng, Nhà nước ta đề ra
đường lối, chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, cải cách tư pháp, đổi mới và
pháp lý - Bộ Tư pháp; Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phổ biến, giáo
dục pháp
3
luật trong công cuộc đổi mới, ; Tìm kiếm mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật
có hiệu quả trong một số dân tộc ít người”; Đề tài khoa học cấp Bộ của Viện
Nhà nước và pháp luật Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2000 “Đổi
mới giáo dục pháp luật trong hệ thống các Trường chính trị ở nước ta hiện
nay”. Vấn đề nâng cao ý thức pháp luật cũng đã được nhiều nhà khoa học
nghiên cứu với nhiều công trình khoa học được công bố như: "Nâng cao ý
thức pháp luật của đội ngũ cán bộ quản lý hành chính" của TS. Lê Đình
Khiên, 2002; "Tăng cường công tác giáo dục và nâng cao ý thức pháp luật
cho cán bộ, công chức thành phố Hồ Chí Minh" của Nguyễn Thanh Bình,
2005; "Ý thức pháp luật và vấn đề giáo dục pháp luật trong nhà trường nhằm
nâng cao ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên ở nước ta hiện nay " Luận
văn tốt nghiệp của Nguyễn Thị Thúy, năm 2011;
Trong các công trình trên các tác giả chủ yếu nói về vấn đề nâng cao ý
thức pháp luật nói chung mà chưa đi sâu nghiên cứu về vấn đề phổ biến, giáo
dục pháp luật ở cơ sở nhất là ở Quảng Nam nhằm góp phần giáo dục sự “tự
giác”, giảm bớt tội phạm, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, giảm khiếu
kiện tại một trong những trung tâm lớn nhất của Việt Nam. Do vậy, vấn đề
nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở
nói chung, ở tỉnh Quảng Nam nói riêng trong giai đoạn hiện nay cần được tiếp
tục nghiên cứu làm rõ. Nghiên cứu thành công đề tài này sẽ góp phần làm
phong phú, sinh động vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng, hiệu quả hoạt
động hành chính cấp cơ sở, góp phần cải cách hành chính, thực hiện mục tiêu
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Một số công trình khoa học trên đã diễn giải được một số vấn đề lý
luận và giải pháp PBGDPL cho một số đối tượng là người DTTS cũng như
Phạm vi nghiên cứu về nội dung: nghiên cứu thực tiễn công tác
PBGDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
5
Về mặt thời gian, luận văn tập trung nghiên cứu công tác PBGDPL trên
địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2009 đến 2018, tức là từ khi có “Quyết định
số 554/QĐ-TTg ngày 04/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ và Luật phổ biến,
giáo dục pháp luật năm 2012” và tiếp tục triển khai Quyết định số 1163/QĐTTg ngày 08/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “đẩy
mạnh công tác phổ biến pháp luật và tuyên truyền, vận động đồng bào dân
tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017 – 2021”.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về đổi mới Nhà nước và pháp luật, xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc, về nâng cao chất lượng hiệu quả công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật ở cơ sở; các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà
nước ta đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp luật học so sánh, điều tra xã hội
học, phỏng vấn trực tiếp; phương pháp khảo sát để thống kê, thu thập thông
tin, số liệu thực tế phục vụ cho việc phân tích, đánh giá thực trạng, nguyên
nhân của vấn đề nghiên cứu
6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn
6.1. Về mặt ý nghĩa lý luận
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên, nghiên cứu tương đối có hệ
thống về công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Khái niệm, ý nghĩa, đặc điểm của phổ biến, giáo dục pháp luật
1.1.1. Khái niệm về phổ biến, giáo dục pháp luật
Phổ biến giáo dục pháp luật là một từ ghép giữa “phổ biến pháp luật”
và “giáo dục pháp luật”.
Là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức, tình
cảm niềm tin pháp luật cho đối tượng từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp
luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng.
Phổ biến pháp luật có đối tượng tác động rộng rãi, mang ý nghĩa xã hội
và nhân văn sâu sắc, bởi trong lịch sử đã có lúc pháp luật được ban hành
nhưng không được phổ biến công khai mà chỉ được coi là một công cụ để nhà
nước dùng để trị dân.
1.1.2. Mục đích, ý nghĩa của PBGDPL trong đời sống xã hội
Mục đích PBGDPL là chuyển tải pháp luật đi vào cuộc sống của người
dân, quá trình truyền tải pháp luật được bắt đầu bằng hoạt động PBGDPL.
Thứ nhất: Pháp luật của Nhà nước không phải khi nào cũng được mọi
người trong xã hội biết đến, tìm hiểu, đồng tình ủng hộ và thực hiện nghiêm
chỉnh. Tuy rằng bản chất pháp luật của Nhà nước ta là tốt đẹp, nó phản ánh ý
chí, nguyện vọng, mong muốn của đông đảo quần chúng nhân dân trong xã
hội. Tuy nhiên, dù những quy định pháp luật có tốt đẹp nhưng không được
nhân dân biết đến thì vẫn không đi vào cuộc sống.
Thứ hai: Pháp luật chỉ có thể được mọi người thực hiện nghiêm chỉnh
khi họ tin tưởng vào những quy định của pháp luật.
Thứ ba là tạo ý thức tự giác của người dân với pháp luật ý thức tự giác
8
chấp hành pháp luật của nhân dân góp phần tích cực vào việc củng cố, xây
xây dựng, thi hành và bảo vệ pháp luật có nhiều chuyển biến tích cực; các cấp
ủy đảng, chính quyền, đoàn thể đã nhận thức đầy đủ hơn, xác định rõ đây là
nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Vì thế, đã tích cực lãnh đạo, chỉ đạo, tổ
chức triển khai và bảo đảm thực hiện, góp phần nâng cao nhận thức của toàn
xã hội về vị trí, vai trò của Hiến pháp và pháp luật trong quản lý đất nước và
kiến tạo sự phát triển xã hội, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ
thể.
Hoạt động PBGDPL được đổi mới cả về nội dung, hình thức. Hầu hết
các văn bản quy phạm pháp luật sau khi ban hành đều được đăng tải cộng
khai trên hệ cơ sở dữ liệu, cổng thông tin, trang tin điện tử để mọi người,
doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận, khai thác, sử dụng. Đề cương tuyên truyền,
phổ biến, giới thiệu các Luật, Pháp lệnh, nhất là những điểm mới, được sửa
đổi, bổ sung thay thế được biên soạn kịp thời, chất lượng được nâng lên, phục
vụ trực tiếp cho công tác tuyên truyền miệng. Các phương tiện thông tin,
truyền thông đại chúng, nhất là mạng lưới tại cơ sở tăng cường chuyên trang,
chuyên mục, đưa tin bài phản ánh về tình hình thực thi pháp luật; công tác
giáo dục pháp luật trong nhà trường được quan tâm đổi mới, cả về nội dung,
cách thức triển khai và phù hợp hơn với tâm sinh lý lứa tuổi; gắn với giáo dục
hình thành nhân cách con người phát triển toàn diện. Công tác PBGDPL cho
nhóm đối tượng đặc thù, giáo dục chuyên biệt, nhất là cho người dân vùng
sâu, vùng xa qua các hoạt động tư vấn, trợ giúp pháp lý lưu động được tăng
cường hơn.
PBGDPL đồng thời tạo ra khả năng đổi mới các quan hệ xã hội trong
môi trường quản lý nhà nước bằng pháp luật, hình thành các điều kiện và
nhân tố thuận lợi cho quá trình quản lý nhà nước, quản lý xã hội; tạo ra khả
năng phát hiện và loại trừ những hiện tượng tiêu cực, chống đối pháp luật
10
11
thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, đó chính là sự kết tinh của ý
Đảng, lòng dân.
Vì vậy, tuân thủ pháp luật chính là tuân thủ, thượng tôn ý chí của nhân
dân, vì lợi ích của nhân dân. Hệ thống pháp luật nước ta đang trong quá trình
được xây dựng và hoàn thiện, nên cần có sự hỗ trợ từ các phương thức điều
chỉnh khác để giữ vững ổn định xã hội, ngăn chặn những hành vi đi ngược với
lợi ích chung của người dân.
Trong suốt chặng đường đấu tranh giữ vững độc lập dân tộc, phát triển
đất nước, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã luôn phát huy phẩm chất đạo đức cách
mạng, nắm vững và bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của
Nhà nước; lấy đó làm cơ sở để vạch ra mục tiêu, phương hướng trong hành
động. Đó là nhân tố quan trọng quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Những hạn chế về trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật; sự xuống cấp
về ý thức đạo đức cách mạng của một bộ phận cán bộ, đảng viên là nguyên
nhân dẫn đến các hành vi vi phạm trong chính đội ngũ cán bộ, đảng viên,
khiến cho dư luận xã hội bưc xúc và lên án mạnh mẽ.
Để cán bộ, đảng viên nhận thức đúng và tự giác thực hiện tốt các yêu
cầu, nhiệm vụ; gương mẫu đi đầu trong chấp hành và thượng tôn pháp luật,
bảo vệ pháp chế, bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật; trong sạch về phẩm
chất, lối sống... thì giáo dục đạo đức cách mạng phải gắn chặt với giáo dục lý
tưởng cách mạng, chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Có như vậy, sức mạnh của đạo đức cùng với sưc mạnh của luật pháp mới phát
huy hiệu lực, hiệu quả; những quy phạm về đạo đức mới trở thành hệ thống
các quy tắc xử sự của cán bộ, đảng viên mang tính chuẩn mực, tiến bộ.
Theo đó, yêu cầu đặt ra trong giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng
viên phải bảo đảm đạt được các mục tiêu sau:
Một là, củng cố, bảo vệ những quan niệm, quan điểm, tư tưởng, chuẩn
biết tuân thủ, chấp hành, sử dụng và áp dụng pháp luật một cách chủ động,
tích cực và đúng đắn, nhằm phát huy vai trò, hiệu lực của pháp luật trong
công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Bởi vậy, cần kết
hợp chặt chẽ giữa giáo dục pháp luật, tăng cường kỷ luật, kỷ cương với giáo
dục đạo đức cách mạng để xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự có đủ
tâm, đủ tầm, bản lĩnh vững vàng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân [5,
tr.292].
1.1.4.2. Mối quan hệ giữa giáo dục pháp luật và giáo dục tri thức kinh tế
Pháp luật và kinh tế là quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng
tầng. Trong mối quan hệ này, pháp luật có tính độc lập tương đối. Một mặt
pháp luật phụ thuộc vào kinh tế; mặt khác pháp luật lại có sự tác động trở lại
một cách mạnh mẽ đối với kinh tế. Sự phụ thuộc của pháp luật vào kinh tế thể
hiện ở chỗ: Cơ cấu nền kinh tế, hệ thống kinh tế quyết định thành phần cơ cấu
các ngành luật.
Tính chất nội dung của các quan hệ kinh tế, của cơ chế kinh tế quyết
định tính chất, nội dung của quan hệ pháp luật, phương pháp điều chỉnh của
pháp luật. Chế độ kinh tế, thành phần kinh tế tác động quyết định tới sự hình
thành, tồn tại các cơ quan, tổ chức và thể chế pháp lý, phương thức hoạt động
của các cơ quan bảo vệ pháp luật và thủ tục pháp lý. Mặt khác pháp luật cũng
có sự tác động trở lại đối với sự phát triển của kinh tế.
Để khắc phục nhược điểm đó, các nhà nước tư sản đã nhiều lần phải
điều chỉnh, phải thay đổi đường lối để đảm bảo cho pháp luật có thể thích ứng
được với tình hình.
Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và
đông đảo nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, phản ánh
đúng đắn trình độ phát triển của chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa. Cho nên
pháp luật xã hội chủ nghĩa có nội dung tiến bộ và giữ vai trò tích cực trong
và duy trì phát triển kinh tế - xã hội ổn định, bền vững. Cần thu hút đội ngũ
người già làng, trưởng bản, tranh thủ sự ủng hộ giúp đỡ của họ trong việc phổ
biến, GDPL là rất cần thiết như Đại hội IX của Đảng đã xác định: “Động viên
phát huy vai trò của những người tiêu biểu có uy tín trong dân tộc ở địa
phương” [10, tr28].
1.2.2. Những yêu cầu của công tác giáo dục pháp luật cho đồng bào
dân tộc thiểu số
Trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật V.I. Lê-Nin đã nhấn
mạnh: “Luật là biện pháp chính trị, là chính trị”. Muốn pháp luật được
chuyển tải, thấm nhuần vào đời sống nhân dân thì phải nâng cao hiệu lực,
hiệu quả của quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật [36, tr. 423].
Công tác tuyên truyền, vận động đồng bào DTTS và miền núi giúp
đồng bào nâng cao nhận thức về các chính sách, pháp luật của Nhà nước liên
quan trực tiếp đến đời sống của đồng bào. Tuyên truyền, vận động đồng bào
thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước về công tác dân tộc, bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, di
sản văn hóa của các DTTS, vận động xóa bỏ các hủ tục lạc hậu.
Để thực hiện các chủ trương, chính sách trên cần phải kết hợp, lồng
ghép với các chương trình, đề án có nội dung về PBGDPL đang triển khai tại
vùng DTTS và miền núi. Lựa chọn xây dựng mô hình điểm ở các xã, thôn,
bản vùng sâu, vùng xa, biên giới. Thực hiện việc tuyên truyền, PBGDPL bằng
nhiều hình thức, trên các phương tiện thông tin đại chúng, chú trọng tập trung
bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ PBGDPL cho các báo cáo viên,
những người làm công tác dân tộc. Tổ chức nghiên cứu và xây dựng bộ tài
liệu chương trình khung về nội dung, kỹ năng, nghiệp vụ PBGDPL để tuyên
truyền vận động. Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức,
viên chức và đội ngũ những người trực tiếp được giao thực hiện nhiệm vụ
công tác này trong hệ thống cơ quan công tác dân tộc. Biên soạn sổ tay hỏi
phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị,
tư tưởng. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg
ngày 16/12/2004 phê duyệt Chương trình hành động quốc gia phổ biến, giáo
dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở
xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010 (Chương trình 212) và Quyết
định số 28/2006/QĐ-TTg ngày 28/01/2006 phê duyệt 4 Đề án chi tiết thuộc
Chương trình 212. Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 63/2005/TT-BTC
ngày 05/8/2005 hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm cho
công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thể hiện sự quan tâm, tạo điều kiện của
Nhà nước về cơ sở vật chất cho công tác PBGDPL. Ngày 07/12/2007, Chính
phủ đã ban hành Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP về việc tiếp tục thực hiện Chỉ
thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (gọi tắt là Nghị quyết số
61/2007/NQ-CP). Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
37/2008/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ
năm 2008 đến năm 2012.
Tại Điều 16 của Hiến pháp năm 2013 quy định “Mọi người đều bình
đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị,
dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Những quy định này của Hiến pháp phải
được thể chế hóa bằng các luật và được thi hành, đây cũng là niềm tin của
mọi người dân vào Hiến pháp và pháp luật. Vấn đề là làm thế nào để gây
dựng và nuôi dưỡng niềm tin pháp luật. Có lẽ không thể chỉ dựa vào hy vọng,
vào sự yên tâm về lòng tốt của người khác. Sự tin cậy cần được bảo vệ bởi
luật pháp [28, tr.27].
1.2.3.2. Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật đối với đồng bào DTTS
Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật cần phải phù hợp với các chủ
trương, chính sách lớn của Đảng và các luật tục của đồng bào DTTS. Nội
dung cần tập trung vào vào những văn bản pháp luật gắn liến với cuộc sống
của người dân, phù hợp với các chủ trương, chính sách của Nhà nước, lấy tiêu