Chương VII: Ngân hàng và các nghiệp vụ ngân hàng
I. Lý luận
rong phần này các lý luận chung về ngân hàng sẽ cung cấp một hệ thống kiến thức có
tính tổng hợp về ngân hàng, để từ đó các phần sau của chương sẽ được triển khai xây
dựng dựa trên cơ sở của phần này.
chung về ngân hàng
1.Sự ra đời và phát triển của hệ thống ngân hàng
Từ khi con người bắt đầu biết sử dụng tiền như là một phương tiện trao đổi và phương
tiện thanh toán, các nhu cầu về tiền tệ cũng bắt đầu nảy sinh và ngày càng trở nên đa dạng,
chính điều này đã thúc đẩy sự ra đời và phát triển của một loại hình trung gian tài chính
chuyên kinh doanh về tiền tệ: các ngân hàng.
T
a.
Sự ra gân hàng đời của n
ự ra đời của các ngân hàng được đánh dấu bởi sự gia tăng trong sản xuất xã hội,
và cùng với sự lưu hành của đồng tiền vàng. Khi vàng được sử dụng làm tiền tệ
trong xã hội, con người bắt đầu nảy sinh mong muốn cất trữ vàng của mình tại
một nơi nào đó an toàn hơn so với để trong nhà. Khi đó, sự lựa chọn tốt nhất là đem vàng đến
ký gửi t
ại các hiệu vàng, vốn là nơi trung gian mua bán vàng của khu vực. Để có thể ký gửi
vàng tại các hiệu vàng này, người dân phải nộp một khoản phí cho thợ vàng vì dịch vụ giữ hộ
này. Tuy nhiên, các chủ hiệu vàng cũng nhận ra được lợi ích của việc đem số vàng mà mình
nhận giữ hộ cho những người đang cần tiền vay để lấy lãi. Lâu dần, để có thể có thêm tiền cho
những người có nhu cầu vay lạ
i, các chủ hiệu vàng không những không thu phí giữ hộ vàng
mà còn trả tiền lãi cho những người đến gửi vàng. Như vậy, hai nghiệp vụ cơ bản của một
ngân hàng đã bắt đầu được hình thành, đó là nghiệp vụ huy động tiền gửi và nghiệp vụ cho
vay
108
Trong thời kỳ đầu, dưới chế độ xã hội nô lệ và
phong kiến, hoạt động của các ngân hàng chủ yếu dựa trên quan hệ tín dụng cho vay nặng lãi,
với lãi suất rất cao, vì vậy đã kìm hãm sự phát triển của quan hệ tín dụng trong xã hội. Chủ nợ
thường là giai cấp vua chúa phong kiến hay tầng lớp tăng lữ. Con nợ chủ yếu là những người
sản xuất nhỏ, và một bộ ph
ận là giới quý tộc phong kiến. Nhưng với mức lãi suất có thể lên
tới 100%/tháng, chế độ phong kiến đã ngăn cản sự phát triển của quan hệ sản xuất tư bản chủ 105
Ở đây được hiểu là các ngân hàng thương mại
106
Còn gọi là nghiệp vụ nợ và nghiệp vụ có của ngân hàng.
107
Bản thân từ ngân hàng có nguồn gốc từ một từ tiếng Italia “Banca”, có nghĩa là cái ghế dài “bench”
108
Có lẽ câu nói nổi tiếng “Mọi con đường đều dẫn tới thành Rome” một phần bắt nguồn từ lý do này.
Banking Practices
nghĩa, vì vậy giai cấp tư sản đã đấu tranh và giành lại cho mình quyền kiểm soát các quan hệ
tín dụng và các ngân hàng, dưới thời kỳ tư bản chủ nghĩa, lãi suất đã được điều chỉnh xuống
một mức vừa phải, phù hợp với đặc điểm của sản xuất xã hội. Do đó, các ngân hàng có điều
kiện để phát triển và mở rộng thành một hệ
thống trên phạm vi toàn xã hội.
b.
Sự phát triển của hệ thống ngân hàng
Lúc đầu, hệ thống ngân hàng chỉ có sự tồn tại của các ngân hàng thương mại, những
ngân hàng này thực hiện chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanh
toán đơn thuần. Trong giai đoạn này các ngân hàng thương mại cũng hoạt động một cách
có thể phát triển một cách đồng đều và cân bằng, sự tách biệt này là rất cần thiết. Sự khác
biệt của hệ thống ngân hàng có thể được mô tả như sau.
a.
Các hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại
Như phần trên đã phân tích, nhóm các ngân hàng thương mại chủ yếu tập trung vào hoạt động
kinh doanh tiền tệ, các ngân hàng này có những đặc trưng sau:
"
Thực hiện nghiệp vụ trung gian tín dụng
"
Thực hiện nghiệp vụ trung gian thanh toán
"
Thực hiện vai trò nhân tiền cho nền kinh tế
b.
Các hoạt động của ngân hàng trung ương
Vì đã tách khỏi hoạt động kinh doanh, các ngân hàng trung ương lúc này chỉ tập trung phục
vụ cho các mục tiêu quản lý vĩ mô của Nhà nước, có thể liệt kê dưới đây những đặc trưng
hoạt động cơ bản của ngân hàng trung ương:
"
Là ngân hàng phát hành tiền cho nền kinh tế
"
Là ngân hàng của các ngân hàng
"
Là ngân hàng của Nhà nước
99
109
không cung cấp các dịch vụ tiền tệ cho khách hàng là cá nhân hay tổ chức phi tín dụng.
2.Lý do ra đời của ngân hàng trung ương
Vốn được tách ra từ hệ thống ngân hàng thương mại, sự ra đời của ngân hàng trung
ương là một tất yếu khách quan vì những lý do sau đây:
Thứ nhất, vì hệ thống ngân hàng thương mại trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá phát triển
ở giai đoạn cao bắt đầu phát sinh những nhược điểm mà trước đó chưa có. Cạnh tranh của
các ngân hàng trở nên mạnh mẽ, các ngân hàng thương mại đứng trước nhu c
ầu vốn vay lớn
từ phía nền kinh tế nên lạm dụng khả năng cho vay tiền của mình, phát hành các khoản tiền
tín dụng mà không có lượng tiền mặt đảm bảo trong ngân hàng. Sự lạm dụng vốn huy động
này đẩy các ngân hàng thương mại đến tình trạng luôn phải đối mặt với nguy cơ mất khả
năng thanh toán. Trên thực tế, các vụ
hoảng loạn ngân hàng
111
đã diễn ra và đẩy hệ thống
ngân hàng vào tình trạng không thể chi trả nổi các yêu cầu rút tiền cấp tập, và do đó buộc
phải tuyên bố phá sản. Do đó, cần phải có một sự can thiệp từ phía Nhà nước.
Thứ hai, với việc các ngân hàng thương mại tự ý phát hành giấy bạc ngân hàng theo mẫu
của riêng mình, dẫn tới sự không thống nhất về tiền tệ trong xã hội, làm cho hoạt động của
n
ền kinh tế trở nên kém minh bạch và không hiệu quả. Điều này cũng đòi hỏi Nhà nước
phải can thiệp để thống nhất thị trường tiền tệ.
Cả hai nguyên nhân này đã làm cho ngân hàng trung ương ra đời. Với sự quản lý trực tiếp
của Nhà nước, ngân hàng trung ương đã kiểm soát được lượng cung tiền tệ, thống nhất các
loại tiền giấy trong xã hội. Đồng thời, với nhữ
ng quyền lực được Nhà nước giao phó, ngân
hàng trung ương có thể kiểm soát được việc sử dụng vốn huy động của các ngân hàng
ảm lượng cung tiền của ngân hàng trung ương. Việc phát hành tiền, do vậy, cần phải
tuân theo những nguyên tắc nhất định. Tuỳ theo các chế độ lưu hành tiền giấy khác nhau mà
những nguyên tắc phát hành tiền giấy của ngân hàng trung ương cũng khác nhau:
9 Nguyên tắc bảo đảm bằng trữ kim
113
:
Dưới thời kỳ lưu thông tiền giấy với việc quy định tiền tệ được phép đổi ra vàng
114
,
nguyên tắc này đảm bảo cho lượng tiền giấy phát hành ra nền kinh tế có thể đổi được ra
vàng bất cứ lúc nào cần, và cũng để đảm bảo cho nền kinh tế có được một lượng tiền
trong lưu thông phù hợp nhất. Nếu như việc đảm bảo bằng trữ kim được tuân thủ chính
xác, trong nền kinh tế sẽ không xảy ra hiện tượng lạm phát tiền tệ, do lúc này tiền giấy
trong lư
u thông vẫn là những đại biểu của lượng vàng dự trữ.
9 Nguyên tắc phát hành trên cơ sở đòi hỏi của nền kinh tế:
Khi chế độ lưu thông tiền tệ chuyển sang giai đoạn lưu thông tiền giấy, như chương tiền
tệ đã phân tích, lúc này giấy bạc không còn khả năng đổi ra vàng nữa, do đó nguyên tắc
trữ kim không còn thực sự cần thiết nữa, mà vào giai đoạn này, lượng tiền giấy phát
hành ra lưu thông cần đảm bảo thoả mãn những yêu cầu của sản xuất hàng hoá trong xã
hội. Nếu lượng cung ti
ền được tính toán chính xác để thoả mãn những yêu cầu của sản
xuất thì sẽ thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Trong thời kỳ này việc tung tiền giấy
ra lưu thông hay rút tiền giấy khỏi lưu thông thường dựa trên việc mua bán các loại
chứng chỉ ghi nợ ngắn hạn như tín phiếu kho bạc hay lệnh phiếu thương mại, những
giấy tờ có khả năng chuyển đổ
i thành tiền sau một thời hạn nhất định. Việc thay đổi
cung tiền bằng biện pháp này sẽ tránh được những sự thay đổi bất lợi của lượng cung
tiền trong nền kinh tế.
thương mại huy động được. Tại Việt nam tuỳ theo từng thời kỳ mà tỷ lệ dự trữ bắt
buộc là khác nhau. Và đây là một bộ phận của chính sách tiền tệ quốc gia.
115Bên cạnh việc đặt ra những quy định như vậy, ngân hàng trung ương cũng thực hiện hoạt
động tín dụng đối với các ngân hàng thương mại dưới hình thức tái chiết khấu hoặc tái cấp
vốn cho các ngân hàng thương mại để giúp các ngân hàng này có khả năng hoàn trả các khoản
nợ đến hạn và hoạt động có hiệu quả hơn.
c.
Là ngân hàng của Nhà nước
Đặt dưới sự quản lý và điều hành trực tiếp của Nhà nước, ngân hàng trung ương hoạt động vì
lợi ích chung của quốc gia, do đó ngân hàng này còn phải làm các hoạt động do Nhà nước quy
định như : làm thủ quỹ cho kho bạc Nhà nước, đảm bảo dự trữ ngoại hối quốc gia, xây dựng
và tư vấn cho các chính sách tiền tệ quốc gia, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối v
ới
hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân hàng...
III.Ngân hàng thương mại
Bên cạnh sự ra đời và hoạt động của ngân hàng trung ương, hệ thống các ngân hàng thương
mại vẫn tiếp tục thực hiện các chức năng nguyên thuỷ của mình, đồng thời với quá trình đó là
sự ra đời của một loạt các nghiệp vụ mới của hệ thống này căn cứ vào yêu cầu thực tế
và căn
cứ vào sự phát triển của nền kinh tế.
1.Định nghĩa
“Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính thực hiện kinh doanh tiền tệ với nội
dung cơ bản là nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ
thanh toán”
Như vậy, thực ra ngân hàng thương mại chính là một doanh nghiệp, nhưng đối tượng kinh