Đánh giá kết quả thụ tinh trong ống nghiệm tại bệnh viện đại học y hà nội giai đoạn 2015 2017 - Pdf 55

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Vô sinh là một vấn đề của toàn xã hội. Theo tổ chức y tế thế giới, vô sinh
là tình trạng cặp vợ chồng không có thai sau 12 tháng chung sống mà không
sử dụng một biện pháp tránh thai nào.
Vô sinh hiện nay có chiều hướng ngày càng gia tăng, một phần do liên
quan mật thiết với bệnh lây truyền qua đường tình dục, một phần vì độ tuổi
lập gia đình của người phụ nữ ngày càng muộn hơn, trong khi đó quá tuổi 35
người phụ nữ khó có thai hơn.
Điều trị vô sinh là nhu cầu cấp thiết cho những cặp vợ chồng hiếm con
nhằm đảm bảo hạnh phúc gia đình và sự phát triển hài hòa của toàn xã hội.
Chính vì vậy nghiên cứu và điều trị vô sinh là một việc làm mang tính nhân
văn và nhân đạo cao cả của con người.
Hiện nay, sinh học phân tử có những tiến bộ vượt bậc trong việc áp dụng
kỹ thuật công nghệ cao vào hỗ trợ sinh sản đã mang lại nhiều hy vọng cho các
cặp vợ chồng không may mắn bị hiếm muộn, vô sinh trên thế giới.
Hỗ trợ sinh sản (HTSS) là một thuật ngữ nói chung bao gồm những kỹ
thuật y học khác nhau được sử dụng trong điều trị vô sinh. Một trong những
phương pháp HTSS được sử dụng trong điều trị vô sinh là phương pháp Thụ
tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fertilization – IVF)
Việc thụ tinh giữa trứng và tinh trùng người bên ngoài cơ thể thành công
được Edwards. R.G báo cáo lần đầu vào năm 1969.
Thành công của một chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm là tạo ra được em
bé khỏe mạnh cho cặp vợ chồng hiếm muộn. Và dù IVF đã đạt đến trình độ
rất cao nhưng không phải tất cả các cặp vợ chồng đều may mắn thành công
khi làm IVF. Thậm chí, có không ít trong số họ đã không đủ kiên trì để tiếp
tục cuộc tìm kiếm con cho mình. Quãng thời gian từ ngày chuyển phôi tới


2

3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. TÌNH HÌNH VÔ SINH
1.1.1. Khái niệm vô sinh
Theo tổ chức y tế thế giới, vô sinh là tình trạng không có thai sau một
năm chung sống vợ chồng mà không dùng một biện pháp tránh thai nào, với
tần suất giao hợp khoảng 2-3 lần mỗi tuần. Với những trường hợp nguyên
nhân vô sinh đã tương đối rõ ràng, thì việc tính thời gian vô sinh không còn
được đặt ra – và như người phụ nữ bị vô kinh, người đàn ông bị liệt dương …
thì cần được khám và điều trị vô sinh sớm.
Các nhà sản khoa chia vô sinh làm 2 loại: Vô sinh nguyên phát (hay còn
gọi là vô sinh I) là người phụ nữ chưa hề có thai lần nào, vô sinh thứ phát
(hay còn gọi là vô sinh II) là người phụ nữ đã từng có thai ít nhất 1 lần.
Vô sinh nam là vô sinh có nguyên nhân hoàn toàn do người chồng, trong
khi người vợ hoàn toàn bình thường. Còn VS nữ là có nguyên nhân hoàn toàn
do người vợ và người chồng bình thường.
Thiểu sinh (còn gọi là hiếm muộn) là tình trạng khó có thai của một cặp vợ
chồng mà cả hai đều giảm khả năng sinh sản. Không có khả năng sinh sản là một
người có một yếu tố tuyệt đối nào đó, mà yếu tố này ngăn cản việc có thai.
Vô sinh không rõ nguyên nhân là trường hợp sau khi làm các xét nghiệm
thăm dò, không phát hiện được nguyên nhân nào.
Với phụ nữ trên 35 tuổi khái niệm vô sinh chỉ tính thời gian là 6 tháng.
1.1.2. Tỷ lệ và nguyên nhân vô sinh
Trên thế giới, tùy từng nước, tỷ lệ vô sinh thay đổi từ 10 -18%, đặc biệt
có nơi lên tới 40% [ 22]
Về nguyên nhân vô sinh, theo WHO (1985), khoảng 20% là không rõ
nguyên nhân, 80% có nguyên nhân trong đó vô sinh nữ chiếm 40%, vô sinh
nam chiếm 40% và do cả hai là 20%.

công kỹ thuật tiêm tinh trùng vào dưới màng trong suốt (SUZI). Năm 1989,


5

kỹ thuật đục thủng màng trong suốt (PZD) để hỗ trợ thụ tinh được Cohen báo
cáo tại Mỹ [17]
Cho đến năm 1992, với sự phát triển mạnh mẽ của kỹ thuật vi thao tác,
kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI) đã được báo cáo thành
công lần đầu tiên tại Bỉ bởi Palermo và cộng sự [17]. Các nhà khoa học có thể
tạo ra phôi với duy nhất một tinh trùng và một trứng, giúp giải quyết các vấn
đề vô sinh do kháng thể kháng tinh trùng, có thể thụ tinh không chỉ với tinh
trùng tươi có các bất thường nhẹ hoặc trung binh mà còn với tinh trùng đông
lạnh, tinh trùng có bất thường về số lượng, khả năng di động hoặc hình thái
bất thường nặng. Sau khi tiêm vào trứng, tế bào trứng vẫn có thể hồi phục, sự
thụ tinh diễn ra và sau đó phôi phát triển khá tốt. Tỷ lệ có thai lâm sàng của
kỹ thuật này luôn nhỉnh hơn sơ với kỹ thuật IVF cổ điển (tỷ lệ thụ tinh
khoảng 70 – 80 %, tỷ lệ có thai 35 – 40 %) [7]. Đây là bước ngoặt lớn trong
điều trị vô sinh do không có tinh trùng mà nguyên nhân do tắc đường dẫn tinh
và các trường hợp tinh trùng ít hoặc yếu.
Năm 1994, trường hợp có thai đầu tiên từ trứng non trưởng thành trong ống
nghiệm (IVM) và trường hợp hút tinh trùng từ mào tinh qua vi phẫu và tiêm tinh
trùng vào bào tương trứng (MESA – ICSI) lần đầu tiên được thông báo.
Năm 1995, kỹ thuật chọc hút tinh trùng từ mào tinh xuyên qua da và
tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (PESA – ICSI), kỹ thuật phân lập tinh
trùng từ tinh hoàn trong những trường hợp giảm sinh tinh tại tinh hoàn và
tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (TESE – ICSI) được báo cáo thành công.
Tỷ lệ thành công của phương pháp này tương đương với tỷ lệ thành công
chung của IVF. Với sự thành công của kỹ thuật này, vấn đề vô sinh nam hầu
như đã được giải quyết triệt để [17].

2004 [14]
IVF
26,8%
ICSI
34,9%
44,5%
Xin
trứng
30,9%
Chuyển phôi trữ

BV PS TƯ
[1]
33,5%

1.2.2. Các phương pháp hỗ trợ sinh sản:

Mỹ 2004
[14]
38,2%
36,5%
51,5%
25,5%

Châu Âu
2004 [14]
28,4%
28,7%
32,9%
16,6%

để phát triển thành phôi. Phôi hình thành được chuyển trở lại vào buồng
trứng. Quá trình phát triển của phôi và thai sẽ diễn ra bình thường trong tử


8

cung người mẹ. Tỷ lệ này phụ thuộc vào tuổi bệnh nhân chỉ định điều trị và
phác đồ điều trị của từng trung tâm [17].
Một số kỹ thuật phát sinh từ TTTON:
- Chuyển giao tử vào vòi trứng (GIFT), chuyển phôi vào vòi trứng
(TET), chuyển hợp tử vào vòi trứng (ZIFT)
Các kỹ thuật này chỉ có thể thực hiện cho những trường hợp có ít nhất
một vòi trứng hoàn toàn bình thường về mặt giải phẫu và chức năng.
Kỹ thuật chuyển giao tử hoặc phôi vào vòi trứng phải được thực hiện qua
phẫu thuật nội soi ổ bụng. Tỉ lệ thành công của các kỹ thuật này nói chung
không cao hơn kỹ thuật TTTON, trong khi đó chi phí cao hơn, cần nhiều trang
bị phức tạp hơn, tỉ lệ tai biến cao hơn và tỉ lệ thai ngoài tử cung cũng cao hơn.
Các kỹ thuật này hiện nay rất ít được áp dụng.
- Tiêm tinh trùng vào buồng trứng(ICSI – Intracytoplasmic)
Kỹ thuật ra đời nhằm khắc phục tình trạng tỷ lệ thụ tinh thấp hoặc không
thụ tinh khi thực hiện TTTON mà nguyên nhân do có bất thường quá trình thụ
tinh hay chất lượng tinh trùng thấp. Với kỹ thuật này, người ta có thể tạo một
hợp tử hoàn chỉnh bằng một trứng và một tinh trùng duy nhất với sự hỗ trợ
của hệ thống vi thao tác trên kính hiển vi đảo ngược. ICSI hiện nay đã chiếm
được khoảng 50% các chu kỳ thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ở phần lớn
các nước. Kỹ thuật này có thể cho tỉ lệ thụ tinh cao hơn, số phôi có được
nhiều hơn, do đó làm tăng khả năng chọn lọc phôi tốt để chuyển vào buồng tử
cung. Kỹ thuật ICSI hiện nay có thể thực hiện được với tinh trùng tươi hoặc
sau trữ lạnh; tinh trùng trong tinh dịch hoặc tinh trùng sinh thiết từ mào tinh
(PESA) hoặc tinh trùng sinh thiết từ tinh hoàn (TESA)[17]

 Thụ tinh nhân tạo với tinh trùng người cho thất bại
 Hiến noãn và hiến phôi
 Mang thai hộ: Mang thai hộ đã được áp dụng ở một số nước trên thế
giới [15]. Ở Việt Nam, Nghị định 12 của Chính phủ không cho phép mang
thai hộ [9].
Tại nước ta theo Nguyễn Thi Xiêm và Lê Thị Phương lan – 2002 chỉ
định TTTON đối với những trường hợp [22]:
 Vô sinh do tắc hai vòi trứng
 Vô sinh không rõ nguyên nhân
 Tinh trùng ít, yếu
 Làm IUI 3-6 lần không có kết quả.


10

1.3.2. Kỹ thuật
1.3.2.1. Kích thích buồng trứng:
Hiện nayGnRH antagonist được sử dụng phổ biến để kích thích buồng trứng
trong hỗ trợ sinh sản. GnRH antagonist ngăn ngừa được đỉnh LH trong kích
thích buồng trứng. Phác đồ này có thời gian kích thích buồng trứng ngắn hơn,
lượng thuốc sử dụng ít hơn so với phác đồ dài.
1.3.2.2. Chọc hút noãn
Theo dõi sự phát triển của nang noãn bằng định lượng nồng độ Estrogen
trong máu và siêu âm nang noãn bằng đầu dò âm đạo. Tốc độ phát triển của
nang noãn là 1 – 2 mm/ngày và nang noãn trưởng thành có đường kính 18 –
19 mm. Hàm lượng Estradiol khoáng 150 – 250 pg/mL trong một nang noãn
trưởng thành.
Hút noãn qua siêu âm đầu dò âm đạo được thực hiện sau tiêm hCG 34 –
36 giờ, sau đó sẽ thực hiện IVF hoặc ICSI.
1.3.2.3. Lọc rửa tinh trùng:

Thai lâm sàng được xác định sau khi chuyển phôi 4 tuần siêu âm đầu dò
âm đạo thấy túi ối, âm vang thai và tim thai.


12

Theo Vivien Mac Lachlan, tỷ lệ có thai lâm sàng sau chuyển phôi vào
buồng tử cung ở Australia và New Zeland năm 1992 là 14,7% và năm 1993 là
16,2 % [56].
Theo Makhseed M, Al- sharhan M và cộng sự (1998), tại một trung tâm
TTTON ở Kuwait, tỷ lệ có thai lâm sàng là 32,6% [45].
Năm 2006, theo thống kê của Brian D. Barnett tại một trung tâm TTTON
của Texas thấy ở phụ nữ độ tuổi < 35, tỷ lệ có thai lâm sàng trên tổng số
chuyển phôi là 72,7 % [30].
Tỷ lệ có thai lâm sàng theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Phương tại
BVPSTU năm 2005 đạt 40,0% [12].
1.4.2. Sảy thai lâm sàng khi đã có túi ối
Là các trường hợp sảy thai sớm trước 12 tuần, hoặc sảy muộn sau 12
tuần và trước 22 tuần. Tỷ lệ này khoảng 15 – 20 %, cao hơn trong thai nghén
tự nhiên. Sảy thai trong số những thai TTTON ở Australia và New Zeland
trong năm 1992 là 22,0% và năm 1993 là 20,9% [56]; sảy thai sau tiêm tinh
trùng vào bào tương noãn cũng chiếm tỷ lệ tương tự (khoảng 22,0%)[48]
1.4.3. Thai ngoài tử cung
Tỷ lệ thai ngoài tử cung sau IVF giống như các trường hợp có thai tự
nhiên (khoảng 5 %) [22]. Theo thống kê ở Australia và New Zeland tỷ lệ này
là 4,0%[56].
1.4.4. Trẻ sinh sống
Hiện nay đánh giá sự thành công của một trung tâm IVF người ta dựa
vào tỷ lệ trẻ đẻ sống và xuất viện về nhà, trung bình đạt khoàng 8- 10% [22]
Theo thống kê của Hiệp hội Y học Sinh sản Hoa Kỳ (1999), tỷ lệ trẻ sinh

yếu ở phác đồ dài và phác đồ antagonist – là 2 phác đồ thường áp dụng ở
bệnh nhân trẻ tuổi hơn ở phác đồ ngắn.
1.5.3. Thời gian vô sinh
Thời gian vô sinh càng dài thì tỷ lệ có thai càng giảm. Khi thời gian vô
sinh từ 3 – 5 năm thì tỷ lệ sinh sống là 19,5% trên mỗi chu kỳ chuyển phôi,


14

nếu thời gian vô sinh > 5 năm thì tỷ lệ có thai giảm xuống còn 18,7% [45].
Thời gian vô sinh càng tăng thì càng ảnh hưởng đến tâm lý, có thể gây trầm
cảm do rối loạn trục dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng do đó ảnh hưởng đến
kết quả kích thích buồng trứng. [32] [45] [23].
1.5.4. Số lượng phôi chuyển vào buồng tử cung.
Tỷ lệ có thai lâm sàng dường như tỉ lệ thuận với số lượng phôi chuyển.
Tuy số phôi chuyển ở từng nơi khác nhau nhưng để đề phòng đa thai, xu
hướng giảm số lượng phôi chuyển vào buồng tử cung là khá phổ biến. Theo
nghiên cứu của Phan Như Thảo 2010, tỉ lệ có thai khi chuyển 1 phôi là 15,4%,
chuyển 2 phôi là 34,6%, chuyển 3 phôi là 41,9% [20].
Ở Việt Nam, chưa có quy định về hạn chế số lượng phôi chuyển trong
mỗi chu kỳ. Tại trung tâm HTSS của bệnh viện Phụ sản Trung ương, số lượng
phôi chuyển trong một chu kỳ điều trị thường là 4 phôi. Những bệnh nhân lớn
tuổi, đã từng thất bại với những lần làm TTTON trước đó thường được
chuyển nhiểu phôi hơn. Tuy nhiên, với những tiến bộ về các kỹ thuật HTSS
hiện nay, cùng với sự phát triển trong việc nuôi cấy phôi và tỷ lệ có thai cao
có thể cho phép giảm số lượng phôi chuyển trong mỗi chu kỳ.


15



- Đối với nam: Xét nghiệm tinh dịch
- Đối với nữ:
 Có đầy đủ thông tin về kết quả chọc hút noãn, chất lượng phôi, quá
trình chuyển phôi.
 Có kết quả xét nghiệm βhCG sau chuyển phôi 2 tuần và kết quả siêu
âm đầu dò âm đạo sau chuyển phôi 4 tuần.
 Có thông tin theo dõi sự phát triển của thai đến khi sinh.

 Tiêu chuẩn loại trừ:
- Những hồ sơ bệnh án không đủ các tiêu chuẩn nói trên sẽ bị loại ra khỏi
nghiên cứu này.
2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
- Lập phiếu nghiên cứu
- Thu thập thông tin của từng bệnh nhân
- Phân tính số liệu thuđược dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá của Trung
tâm hỗ trợ sinh sản và công nghệ mô ghép Bệnh viện Đại học Y Hà Nội gồm:
* Theo dõi bệnh nhân sau chuyển phôi:
 Có thai: Sau chuyển phôi 14 ngày định lượng βhCG máu ≥25UI/l.
 Có thai lâm sàng: Sau chuyển phôi 4 tuần siêu âm bằng đầu dò âm đạo
thấy túi ối, âm vang thai và tim thai.
 Có thai sinh hóa: Sau khi xác định là có thai bằng định lượng βhCG
máu, nhưng thai hỏng sớm trước khi siêu âm thấy hình ảnh túi thai.
 Thai diễn tiến: Là trường hợp thai vượt qua được mốc 12 tuần
 Trẻ sinh sống: Là số lần sinh, trong đó có ít nhất 1 trẻ sống.
 Sảy thai: Là trường hợp thai bị tống ra khỏi buồng tử cung trước 22
tuần hay cân nặng của thai dưới 500g.


17

Số liệu thu thập được sẽ mã hóa và nhập vào máy tính 2 lần khác nhau;
xử lý và kiểm tra độ chính xác bằng phương pháp thống kê y học với chương
trình Epi – Info 6.0 và số liệu sẽ được xử lý bằng chương trình SPSS 13.0
Một số thuật toán được sử dụng trong nghiên cứu:
+ Tỷ lệ phầm trăm
+ Sử dụng thuật toán ᵡ để so sánh sự khác nhau giữa 2 tỷ lệ; và sử dụng
Test T để so sánh ghép cặp; sự khác biệt có ý nghĩa thống kệ nếu p < 0,05.
2.7. KHÍA CẠNH ĐẠO ĐỨC CỦA ĐỀ TÀI
 Nghiên cứu của chúng tôi nhằm mục đích góp phần đánh giá kết quả
của phương pháp điều trị vô sinh tại Trung tâm hỗ trợ sinh sản và công nghệ
mô ghép Trường đại học Y Hà Nội mà không nhằm mục đích nào khác
 Đây là nghiên cứu mô tả nên không có bất kỳ một can thiệp nào vào
đối tượng nghiên cứu
 Các thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu được đảm bảo giữ bí
mật theo đúng quy định của pháp luật hiện hành
 Nghiên cứu này được sự cho phép của ban lãnh đạo Trung tâm Hỗ
trợ sinh sản và công nghệ mô ghép, Bệnh viện đại học y Hà Nội
 Trước khi tiến hành thu thập số liệu phải có sự đồng ý của đối tượng
nghiên cứu: tham gia tự nguyện vào nghiên cứu.


19

CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. VỀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1.1. Tuổi của các đối tượng nghiên cứu
Trong số 239 đối tượng được đưa vào nghiên cứu, bệnh nhân trẻ nhất 23
tuổi, và bệnh nhân lớn tuổi nhất 44 tuổi. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
được thể hiện trong bảng 3.1

10,04

Cộng

239

100

32,51 ± 4,89

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm tuổi 30 – 34 chiếm tỷ lệ cao nhất
98/239 (41%). Tiếp đến là nhóm tuổi 25 – 29 chiếm 62/239 (25,94%), có
bệnh nhân ≤ 25 tuổi chiếm tỷ lệ 2,51%.


20

3.1.2. Thời gian vô sinh:
Được thể hiện ở biểu đồ 3.2
9.62

37.66

18.41

1 năm
2 năm
3 năm
4 năm
≥ 5 năm

phôi trữ là 183 chu kỳ (58,1%), chuyển phôi tươi là 132 chu kỳ (41,9%). Kết
cục thai theo loại chu kỳ chuyển phôi được thể hiện trong bảng 3.1 và 3.2.
Bảng 3.1. Kết cục thai theo loại chu kỳ chuyển phôi
Chung 2

Chuyển phôi Chuyển phôi

nhóm
Dươn Tỷ

tươi (n=132)
trữ (n=183)
Dương Tỷ lệ Dương Tỷ lệ

g tính

tính

lệ

%

tính

%

P


22


3,79

12

6,56

0,28

7

5,30

5

2,73

0,19

13

9,85

29

15,85 0,12

sàng
Thai
diễn

OR(95% CI)
2,25 (1,42 – 3,57)
2,12 (1,33 – 3,38)
2,29 (1,41 – 3,73)
2,22 (1,35 – 2,64)

p
0,001
0,002
0,001
0,002

Số bệnh nhân chuyển phôi 2 lần ( tươi và trữ) là 60 người ( 19,05%)
Số bệnh nhân chuyển phôi 3 lần ( tươi và trữ) là 8 người ( 2,54%)


23

Trong số các kết cục của thai, các trường hợp có thai là các trường hợp
có βHCG (+) vào ngày thứ 14 sau khi chuyển phôi là 35,61% đối với chuyển
phôi tươi, tỷ lệ này cao hơn khi chuyển phôi trữ (56,28%).
Tỷ lệ thai diễn tiến và lượt sinh sống giảm dần, đối với chuyển phôi tươi
là 25,76% và 24,24%, đối với chuyển phôi trữ là 44,26% và 41,53%.
Đối với các diễn tiến xấu, tỷ lệ trẻ sinh non chiếm tỷ lệ cao nhất ở cả
chuyển phôi tươi (9,85%) và chuyển phôi trữ (15,85%).
3.2.1 Liên quan giữa tuổi mẹ với tỷ lệ có thai
Trong số 239 bệnh nhân điều trị TTTON tại trung tâm HTSS Bệnh viện
Đại học Y Hà Nội, kết quả mối liên quan giữa tuổi của đối tượng nghiên cứu
với tỷ lệ có thai lâm sàng được thể hiện trong bảng 3.12:
Bảng 3.3. Tỷ lệ có thai sau chuyển phôi phân theo nhóm tuổi mẹ

13
18
9
6
48

50,00
39,39
33,96
29,03
54,55
36,36

1
36
44
14
8
103

0,56

trữ
p

%
25,00
65,45
60,27
48,28



0,08

74

33,64

19

46,34

0,17

44,19

67

30,45

20

48,78

0,03

0

0

15


26,83

1,00
0,01
*


25

(*) p = 0,004 giữa 2 nhóm BMI 18,5 – 22,99 và BMI > 23.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ có thai, tỷ lệ thai lâm sàng, tỷ lệ thai
diễn tiến, lượt sinh sống ở nhóm có chỉ số BMI 23 – 24,99 là thấp nhất. Khác
biệt có ý nghĩa nhất là ở tỷ lệ lượt sinh sống, nhóm BMI 18,5 – 22,99 thì tỷ lệ
này là 30,45, trongkhi ở nhóm chỉ số BMI <18,5 là 44,19và> 23 là 48,65.
Trong phân loại BMI trên, tỷ lệ sinh non thấp nhất ở nhóm BMI 18,5 – 22,99
( 10%), tuy nhiên tỷ lệ này tăng cao ở nhóm BMI > 23 ( 26,83%), sự khác biệt
này có ý nghĩa thống kê. (p = 0,004).
3.3.3. Liên quan giữa phân loại vô sinh và kết quả thụ tinh trong ống
nghiệm.
Trong 315 chu kỳ chuyển phôi, chúng tôi xem xét mối liên quan giữa
phân loại vô sinh và kết quả thụ tinh trong ống nghiệm. Kết quả được thể hiện
trong bảng 3.13.
Bảng: Mối liên quan giữa phân loại vô sinh và kết quả thụ tinh trong ống
nghiệm.

Có thai
Thai lâm sàng
Thai diễn tiến
Lượt sinh sống

31,30
4
3,48
4
3,48
15
13,04

P
0,23
0,55
0,33
0,40
0,19
0,54
0,91

Tỷ lệ có thai ở bệnh nhân vô sinh I chiếm ( 50,5%), trong khi tỷ lệ này ở
bệnh nhân vô sinh II thấp hơn ( 42,61%), tuy nhiên khác biệt này không có ý
nghĩa thống kê ( p = 0,23).



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status