1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới (NKĐSDD) là bệnh thường gặp
nhất ở phụ nữ cả khi có thai và không có thai. Tác nhân gây viêm đường sinh
dục dưới có thể là kí sinh trùng (nấm, trùng roi), vi khuẩn, virus... Bệnh
thường gặp ở lứa tuổi hoạt động tình dục.
Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới không gây nguy hiểm ngay đến tính
mạng người bệnh, nhưng là nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe, khả năng
lao động và hoạt động tình dục [1]. Nếu không được phát hiện sớm và điều trị
kịp thời có thể gây hậu quả nặng nề như: viêm tiểu khung, vô sinh, thai ngoài
tử cung...[1],[2]. Đối với phụ nữ có thai có thể gây sảy thai, thai chết lưu
trong tử cung, đẻ non, nhiễm khuẩn sơ sinh, nhiễm khuẩn hậu sản [1],[3].
Khi xã hội càng phát triển, hoạt động tình dục ở thanh thiếu niên diễn
ra sớm hơn và thường xuyên hơn trước. Theo nghiên cứu, tại Mỹ có 46%
trẻ vị thành niên (VTN) đã có quan hệ tình dục. Tỷ lệ này ở Newzeland là
49% và ở Thụy Điển là 54,2% nam VTN [4]. Tại Indonesia, cơ quan kế
hoạch Quốc gia đã đưa ra thông báo hơn một nửa số thanh thiếu niên ở
Jakarta đã quan hệ tình dục trước hôn nhân [5]. Quan hệ tình dục trước hôn
nhân làm gia tăng tỷ lệ có thai ngoài ý muốn và nạo phá thai.
Vấn đề nạo phá thai ở lứa tuổi vị thành niên và thanh niên (VTN/TN)
là một thực trạng đáng báo động trên toàn thế giới. Việt Nam là quốc gia
được xếp trong các nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới nói chung và
khu vực Đông Nam Á nói riêng [6]. Theo thống kê của Hội kế hoạch hóa
gia đình Việt Nam, mỗi năm có khoảng từ 1,2 đến 1,6 triệu phụ nữ phá thai,
trong đó có khoảng 20% phụ nữ phá thai thuộc nhóm tuổi VTN/TN [7]. Do
vậy, vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản và giáo dục giới tính cũng đang
được xã hội quan tâm.
2
1.1.1. Giải phẫu
- Âm hộ: được cấu tạo gồm phần da ở ngoài và phần niêm mạc ở trong.
Phía trong âm hộ (ÂH) có tuyến Bartholin và hai bên lỗ niệu đạo có tuyến
Skène. Các tuyến này tiết dịch tham gia một phần vào hệ thống chống nhiễm
khuẩn của dịch âm đạo.
- Âm đạo: là một khoang ảo đi từ cổ tử cung (CTC) tới ÂH. Biểu mô
niêm mạc âm đạo (ÂĐ) là biểu mô lát tầng không sừng hóa có khả năng
chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn.
- Cổ tử cung: gồm có CTC ngoài và CTC trong.
+ Cổ tử cung ngoài: có cấu trúc biểu mô lát tầng giống biểu mô niêm
mạc ÂĐ nên cũng có khả năng chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn.
+ Cổ tử cung trong: có cấu trúc biểu mô tuyến có khả năng chế tiết chất
nhầy, trong chất nhầy của CTC chứa một số enzym kháng vi khuẩn [9].
Hình 1.1. Giải phẫu tử cung – buồng trứng [9]
4
1.1.2. Đặc điểm sinh lý của âm đạo
1.1.2.1. Dịch âm đạo
- Dịch âm đạo gồm các tế bào ÂĐ bong, chất tiết tuyến Bartholin, tuyến
Skeine, dịch thấm từ thành ÂĐ (tiết ra từ tổ chức và mao mạch của ÂĐ đã trưởng
thành), dịch ở cổ tử cung, dịch từ buồng tử cung và vòi tử cung. Dịch nhày từ
CTC kiềm tính. Các tuyến của tử cung cũng tiết dịch nhầy vào trong ÂĐ [10].
- Trong dịch ÂĐ có một vài bạch cầu, các vi khuẩn, đặc biệt là trực khuẩn
Doderlein (Lactobacilli), ngoài ra có thể thấy các vi khuẩn khác. Bình thường
dịch âm đạo không màu, hoặc hơi trắng, hơi quánh và thay đổi theo chu kỳ kinh
nguyệt. Vào thời gian phóng noãn, CTC mở rộng nhất, dịch tiết lấp đầy CTC,
dịch ÂĐ nhiều và loãng. Dịch tiết sinh lý ÂĐ có đặc điểm là không gây triệu
do vi khuẩn
Trong chu kì kinh nguyệt bình thường ở tuổi hoạt động tình dục
Tuổi vị thành niên cũng như sau khi mãn kinh
pH âm đạo
3,5
7
Thai nghén bình thường
5.5
Viêm âm đạo do Gardenella vaginalis
>4,5
Trichomonas vaginalis
6-7
Candida albicans
4-5
1.1.2.3. Hệ vi sinh vật âm đạo
Hệ vi sinh vật của âm đạo rất phong phú, chứa 10 8 đến 10 12 vi
khuẩn/ml. Trong đó, trực khuẩn Doderlein (Lactobacilli) (là trực khuẩn
Gram (+), dài và mảnh) là chính, khoảng 50% - 88%, có tác dụng ức chế
sự phát triển của các vi khuẩn khác qua sự duy trì tính acid của môi
trường ÂĐ. Trong trường hợp không viêm ÂĐ, các vi khuẩn trong ÂĐ ở
- Bệnh tiểu đường không được kiểm soát tốt, lao, ung thư, HIV/AIDS,
các bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD).
- Các can thiệp thủ thuật không đảm bảo vô khuẩn như thủ thuật sản
khoa, nạo hút thai, đặt dụng cụ tử cung.
7
1.1.3. Thay đổi giải phẫu và sinh lý của âm đạo, cổ tử cung
trong thời kỳ có thai
Dưới ảnh hưởng của estrogen, progesteron, niêm mạc ÂĐ và mặt ngoài
CTC có những thay đổi về giải phẫu và sinh lý.
1.1.3.1. Thay đổi về giải phẫu
- Trong thời kỳ có thai ÂĐ giãn dài và rộng ra, niêm mạc ÂĐ tăng các
nếp và nổi rõ các nhú. ÂĐ tăng sinh mạch máu, nhất là các tĩnh mạch giãn nở
làm cho ÂĐ có màu tím.
- Sự tăng estrogen làm tăng sinh các lớp tế bào của niêm mạc ÂĐ, nhất
là lớp trung gian và lớp đáy.
- Dưới ảnh hưởng của progesteron, niêm mạc ÂĐ tăng sinh các tế bào
bề mặt. Sự bong này kết hợp với dịch thấm ÂĐ và sự tăng chế tiết của niêm
mạc CTC hình thành chất dịch. Chất dịch này đặc quánh lại tạo thành nút
nhầy trong thời kỳ thai nghén làm ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn.
- Sự thay đổi của niêm mạc ÂĐ có kèm theo sự ứ trệ tuần hoàn tĩnh
mạch, bạch mạch trong mô kẽ và chính sự ứ trệ này tạo thuận lợi cho sự phát
triển của vi khuẩn.
1.1.3.2. Thay đổi về sinh lý
- Trong thời kỳ có thai, estrogen và progesteron làm tăng sự tổng hợp
glycogen trong tế bào biểu mô ÂĐ. Khi các tế bào này bong ra làm giải phóng
glycogen vào trong khoang ÂĐ. Dưới ảnh hưởng của trực khuẩn Doderlin,
glycogen chuyển thành acid lactic, từ đó làm giảm pH ÂĐ từ 3,8 đến 4,6
thôn); nhóm các yếu tố về cá nhân như tuổi, nghề nghiệp, học vấn...; yếu tố về
hành vi; nhóm các yếu tố nguy cơ khác liên quan đến sinh đẻ, nạo hút thai, sử
dụng các biện pháp tránh thai (BPTT).
Ở Việt Nam, khi nghiên cứu về NKĐSDD ở phụ nữ, hầu hết tác giả đều
quan tâm tìm hiểu những yếu tố liên quan tới tỷ lệ lưu hành và cơ cấu mắc
bệnh, đã đưa ra nhiều kết luận về các yếu tố liên quan như các hành vi tình
dục không an toàn như có nhiều bạn tình, giao hợp khi bị hành kinh, giao hợp
9
khô, vệ sinh cá nhân, vệ sinh kinh nguyệt kém, thụt rửa ÂĐ làm cho ÂĐ dễ bị
nhiễm khuẩn do mất sự cân bằng của vi khuẩn cộng sinh, các yếu tố về số lần
sinh đẻ, nạo hút thai.
1.3. CÁC BỆNH NKĐSDD THƯỜNG GẶP Ở PHỤ NỮ
Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới ở phụ nữ thường biểu hiện qua các
triệu chứng chính như: ra khí hư, ra máu bất thường và đau bụng. Trong đó, ra
khí hư là triệu chứng phổ biến nhất và tùy theo từng tác nhân gây bệnh mà khí
hư có tính chất, màu sắc khác nhau [20].
1.3.1. Viêm âm đạo do nấm Candida
1.3.1.1. Đặc điểm vi sinh vật
- Nấm Candida gây viêm ÂH-ÂĐ gồm nhiều chủng: chủ yếu là Candida
albicans (C. albicans), C. Turolopsis, C. Tropicalis. Trong đó, nấm Candida
albicans chiếm tới 80- 90% [15],[21]. Nấm Candida thuộc lớp Adelomycetes
là loại nấm hạt men với các tế bào hạt men chồi có kích thước 3 - 5m [21].
- Candida là tác nhân gây bệnh thường gặp nhất trong nhiễm khuẩn
đường sinh dục dưới của phụ nữ.
1.3.1.2. Các yếu tố nguy cơ của nhiễm nấm Candida
- Thai nghén: khi có thai, biểu mô ÂĐ quá sản giải phóng ra glycogen.
Trực khuẩn Doderlin trong ÂĐ phân hủy glycogen thành acid lactic làm pH
thạch Sabouraud trong vài giờ và ủ ấm trong nhiệt độ 37 0C. Khuẩn lạc
Candida có mầu trắng ngà và sền sệt [21].
- Đo pH ≤ 4,5 [1],[10],[21].
11
1.3.2. Viêm âm đạo do Trichomonas vaginalis
1.3.2.1. Đặc điểm vi sinh học
- Trichomonas vaginalis là một loại trùng roi chuyển động, hình tròn,
kích thước từ 10-20m thuộc loại đơn bào kỵ khí [21].
- Trichomonas vaginalis ký sinh chủ yếu trong âm đạo và trong niệu đạo
nữ, ở nam Trichomonas vaginalis cũng thường ký sinh ở niệu đạo [21].
1.3.2.2. Các yếu tố nguy cơ
- Phụ nữ có thai có tỷ lệ nhiễm Trichomonas vaginalis cao hơn phụ nữ
không có thai.
- Quan hệ tình dục với nhiều người hoặc người bị nhiễm Trichomonas
vaginalis.
- Phụ nữ mại dâm có tỷ lệ nhiễm Trichomonas vaginalis cao.
- Thiếu Estrogen và âm đạo kiềm tính, pH âm đạo >4,5 là môi trường
thuận lợi cho Trichomonas vaginalis.
- Phụ nữ bị nhiễm Trichomonas vaginalis thường bị nhiễm lậu kèm
theo [10],[22].
1.3.2.3. Triệu chứng lâm sàng
- Người bệnh có triệu chứng ra khí hư nhiều, mùi hôi, mầu vàng hay
hơi xanh, loãng, có bọt nhỏ, ngứa rát ở âm hộ, giao hợp đau.
- Đặt mỏ vịt thấy:
+ Niêm mạc âm đạo viêm đỏ, có các chấm đỏ, thậm chí sung huyết.
+ Cổ tử cung viêm đỏ, chỗ tổn thương không bắt màu lugol. Bôi
lugol sẽ thấy hình ảnh “sao đêm” khi soi cổ tử cung [1],[10],[13].
- pH âm đạo >4,5 thuận lợi cho việc nhiễm Gardnerella vaginalis [14].
1.3.3.3. Triệu chứng lâm sàng
- Ra khí hư nhiều, hôi, rất khó chịu, đặc biệt sau khi giao hợp hoặc
dùng xà phòng kiềm tính [14].
13
- Người bệnh có thể thấy ngứa và khó chịu ở âm hộ, âm đạo. Tuy
vậy, khoảng 50% phụ nữ nhiễm Gardnerella vaginalis không có các triệu
chứng nói trên.
- Khám thấy âm đạo có khí hư lỏng, thuần nhất, màu trắng hoặc xám,
mùi hôi tanh. Niêm mạc âm đạo thường không viêm đỏ.
1.3.3.4. Chẩn đoán
- Theo WHO, để chẩn đoán là viêm âm đạo do Gardnerella vaginalis
cần có ít nhất 3 trong 4 tiêu chuẩn sau [10],[14],[23].
+ Khí hư loãng, trắng, đồng nhất dính vào thành âm đạo.
+ pH dịch âm đạo >4,5.
+ Test sniff dương tính: là thấy mùi cá ươn khi nhỏ vài giọt KOH 10%
vào tiêu bản khí hư.
+ Clue cells chiếm ≥20% tế bào biểu mô âm đạo.
- Clue cells là các tế bào biểu mô gai của âm đạo được bao vây bởi
nhiều vi trùng rất nhỏ cho ra hình hạt [14].
- Nhuộm Gram khí hư tìm Clue cells có độ nhạy 93% và độ đặc hiệu 79%.
1.3.4. Viêm cổ tử cung do Chlamydia trachomatis
1.3.4.1. Đặc điểm sinh học
- Chlamydia là một nhóm vi khuẩn bắt mầu Gram âm, ký sinh nội bào
bắt buộc. Các chủng gây bệnh bao gồm C.psittasi, C.trachomatis và
C.pneumoniae [15],[10].
- Chlamydia gây viêm cổ tử cung, viêm phần phụ và viêm niệu đạo ở
1.4. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ VỊ THÀNH NIÊN VÀ THANH NIÊN
1.4.1. Vị thành niên - Thanh niên
Khái niệm vị thành niên vẫn chưa thống nhất ở nhiều Quốc gia và trong
khu vực. Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), vị thành niên là những người trong
độ tuổi từ 10-19 tuổi, phân chia lứa tuổi này thành 3 giai đoạn [17]:
15
- Giai đoạn vị thành niên sớm, tương đương với tuổi thiếu niên (nam: 1214 tuổi, nữ: 10-12 tuổi).
- Giai đoạn vị thành niên giữa, tương đương với tuổi thiếu niên lớn
(nam: 14-16 tuổi, nữ: 13-16 tuổi).
- Giai đoạn cuối vị thành niên, tương đương với tuổi thanh niên (nam:
17-19 tuổi, nữ: 16-18 tuổi).
Ở Việt Nam, vị thành niên là những người trong độ tuổi 10-19, thanh
niên trẻ là những người trong độ tuổi 15-24.
Khái niệm vị thành niên và thanh niên dùng để chỉ người trong độ
tuổi 10-24 [18].
1.4.2. Vị thành niên – thanh niên và Sức khỏe sinh sản
Sức khỏe sinh sản (SKSS) thanh, thiếu niên bắt đầu được quan tâm và
nghiên cứu tại Hội nghị Quốc tế về dân số năm 1994 tại Cairo Ai Cập [26].
Kiến thức về chăm sóc SKSS, biến đổi của cơ thể, phát triển hiểu biết
về tình dục học và sức khỏe tình dục là những mặt quan trọng của SKSS trong
suốt đời người. Ngoài ra, những vấn đề khác của tuổi thanh niên như tình yêu,
quan hệ tình dục, phòng tránh thai, nạo hút thai, sinh đẻ ở tuổi thanh niên,
viêm nhiễm đường sinh dục, các bệnh lây truyền qua đường tình dục
(BLTQĐTD), bao gồm cả HIV/AIDS cũng là những vần đề đang được Hội
nghị Quốc tế về dân số quan tâm [27].
Phụ nữ làm mẹ khi ở tuổi VTN/TN có nguy cơ tử vong cao hơn nhiều
so với mức bình thường và tăng rủi ro đau ốm, bệnh tật và tử vong cho con
1.4.4. Tình trạng hoạt động tình dục và bệnh lây truyền qua đường tình
dục ở lứa tuổi thanh niên
Ngày nay, VTN/TN phát triển sớm. Do vậy, VTN hoạt động tình dục
sớm hơn trước và cũng từ đó các BLTQĐTD có xu hướng ngày càng gia tăng
trên thế giới [33],[34].
17
Tại Châu Phi, năm 1996 một nghiên cứu cho biết 41% nữ tuổi 15-16 và
15% nam tuổi 15-16 đã có QHTD. Đến 17-18 tuổi sự khác nhau về giới
không còn. Trình độ học vấn không ảnh hưởng đến hoạt động tình dục của nữ.
Tuy nhiên, tỷ lệ hoạt động tình dục của nữ còn đang đi học thấp hơn so với
nhóm đã nghỉ học, còn tỷ lệ ở nam thì ngược lại. Thanh niên lớn tuổi hoạt
động tình dục nhiều so hơn VTN [35].
Tại Mỹ (2010), ở lứa tuổi 15 khoảng 27% VTN nữ và 33% VTN nam
có hoạt động tình dục. Đến tuổi 17 thì tỷ lệ này tăng đến 50% và 66%
tương ứng cho nam và nữ [36].
Theo điều tra quốc gia tại Croatia (2007) với học sinh phổ thông 15-19
tuổi cho thấy 28% nam, 17% nữ có QHTD trước 16 tuổi [37].
Theo đánh giá của WHO, hàng năm có 250 triệu người mới nhiễm các
BLTQĐTD, tỷ lệ này cao nhất ở độ tuổi 20-24, tiếp theo là độ tuổi 15-29.
Những người trẻ tuổi là nhóm có nguy cơ cao bởi có QHTD nhưng ít dùng
biện pháp tránh thai (BPTT) bao cao su. Nhiều người lây nhiễm và mắc
HIV/AIDS từ khi còn dưới 20 tuổi. Cũng theo WHO, 1/20 số người nữ VTN
mắc BLTQĐTD mỗi năm [38].
Hiện nay, nghiên cứu về tỷ lệ NKĐSDD ở đối tượng VTN/TN có rất ít,
chủ yếu là sự hiểu biết về BLTQĐTD.
Hậu quả của hoạt động tình dục sớm làm cho tỷ lệ BLTQĐTD và thai
nghén không mong muốn tăng lên [39].
là học sinh - sinh viên 57,5%. Trong đó, 78,5% phá thai lần đầu [43].
1.5. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG SINH DỤC Ở
PHỤ NỮ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.5.1. Trên thế giới
Viêm nhiễm đường sinh dục dưới là một vấn đề y tế công cộng. Theo
ước tính của WHO, chỉ tính riêng các bệnh lây truyền tình dục, hàng năm có
khoảng 333 triệu người mới mắc [22]. Thống kê cũng cho thấy NKĐSDD là
19
một bệnh thường gặp ở người phụ nữ, khoảng 75% số phụ nữ trong suốt đời
sống sinh sản có ít nhất một lần bị NKĐSDD [38].
Thanh niên dễ mắc các bệnh NKĐSDD, theo một số báo cáo thu được
kết quả như sau:
Tại Nigeria (1995) điều tra của Brabin L. và cs cho thấy tỷ lệ nữ giới
tuổi 17- 19 nhiễm C.trachomatis là 8% và 44% có các triệu chứng nhiễm
khuẩn đường sinh dục [44] .
Theo Nzyuko S. và cs ở Kenya (1997) cho thấy 90% nữ giới lứa tuổi 1519 đã có quan hệ tình dục và khoảng 50% có dấu hiệu mắc BLTQĐTD [45].
Năm 2001, Claeys P. và cs điều tra tình hình NKĐSDD ở 326 bệnh nhân
đến khám sản phụ khoa tại bệnh viện ở Azerbaijan thấy tỷ lệ lưu hành các
bệnh là giang mai (2,2%); C.trachomatis (3,1%); lậu cầu (2,8%); T.vaginalis
(7,1%); Candida (33,1%) và B.vaginalis (32,5%) [46].
Năm 2002, Nghiên cứu của Ness R. B. và cs ở 1200 phụ nữ có nguy cơ
cao mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục thấy thụt rửa ÂĐ ít nhất 1 lần
trong một tháng làm tăng tỷ lệ nhiễm B. vaginalis (OR= 1,3) [60].
Tại Bangladesh (2003) Begum A. và cs tiến hành điều tra tỷ lệ viêm
nhiễm đường sinh dục ở 284 phụ nữ có thai thấy rằng tỷ lệ nhiễm B.
vaginalis: là 17,7%, 1,4% trường hợp nhiễm T. vaginalis và 3% có phản
ứng giang mai dương tính. Tình trạng nhiễm B. vaginalis có liên quan với
ít nhất một hình thái tổn thương viêm đường sinh dục dưới là 83,1%. Trong
đó, viêm âm hộ là 5,9%; viêm âm đạo là 66,6%; viêm lộ tuyến cổ tử cung là
52,5%, tỷ lệ nhiễm nấm Candida là 35,3%; T.vaginalis là 0,94%; G.vaginalis
15,9%; C.trachomatis 11,9%. Tỷ lệ viêm cổ tử cung do C.trachomatis 31,6%.
Không có trường hợp nào nhiễm lậu cầu [24].
Theo Đinh Thị Hồng (2004), khi nghiên cứu tình hình NKĐSDD ở 204
phụ nữ có thai trong 3 tháng cuối ở Bệnh viện Phụ sản Trung ương, tỷ lệ viêm
âm hộ 4,4%; viêm âm đạo 57%; viêm cổ tử cung và viêm lộ tuyến cổ tử cung
21
22,5%. Trong đó, nhiễm nấm Candida 40,2%; G.vaginalis 3,9%; C.trachomatis
9,3%. Không có trường hợp nào nhiễm lậu cầu và T.vaginalis [51].
Năm 2013, Thạch Thùy Linh nghiên cứu NKĐSDD ở 62 phụ nữ có thai
3 tháng đầu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, tỷ lệ viêm âm hộ là 14,5%;
viêm âm đạo 71%; viêm lộ tuyến cổ tử cung là 25,8%. Trong đó, nhiễm nấm
Candida 11,6%; Bacterial vaginalis 5,1%; không có trường hợp nào nhiễm
Trichomonas vaginalis, NKĐSDD cao nhất ở độ tuổi 21 đến 25 (38,7%) và
thấp nhất là độ tuổi trên 35 (4,8%) [52].
Một nghiên cứu khác của Trần Thị Phương Mai (2001) trên 1000 phụ nữ
độ tuổi từ 19-44 đến khám phụ khoa tại BVPSHN, nhà hộ sinh Hai Bà Trưng
và Khoa sản Bệnh viện Thanh Nhàn – Hà Nội cho thấy, tỷ lệ viêm âm hộ
13,7%; viêm âm đạo 44,9%; viêm cổ tử cung 51,2%; viêm lộ tuyến cổ tử
cung 31,7%. Kết quả xét nghiệm vi sinh vật đã xác định tỷ lệ nhiễm Candida
11,1%; T.vaginalis 1,3%; G.vaginalis 3,8%; C.trachomatis 4,4%. Không có
trường hợp nào nhiễm Lậu cầu [53].
Năm 2010, Nguyễn Duy Ánh báo cáo tỷ lệ nhiễm khuẩn đường sinh
dục dưới ở phụ nữ có chồng ở độ tuổi 18- 49 (Hà Nội) chiếm 78,4%. Trong
đó, nhiễm khuẩn âm hộ 16,7%; nhiễm khuẩn âm đạo 36,3%; viêm cổ tử
23
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Địa điểm: khoa Kế hoạch hóa gia đình - Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.
- Thời gian: từ 01/04/2013 đến 01/11/2013.
2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Thanh niên ở lứa tuổi 15-24.
-
Có thai ≤12 tuần đến phá thai tại BVPSHN.
- Không mắc các bệnh nội khoa mãn tính nặng (nguy cơ nhiễm khuẩn cao).
- Tự nguyện tham gia nghiên cứu.
2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Đang dùng thuốc kháng sinh toàn thân.
- Đang đặt thuốc đặt ÂĐ hoặc thụt rửa âm đạo trong thời gian 02 tuần
trước khi đến khám.
- Đang ra máu.
- Phụ nữ có rối loạn tâm thần.
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu
2.3.1.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
24
25
SƠ ĐỒ LẤY MẪU
Đón tiếp khách hàng- chọn
vào đối tượng nghiên cứu
Phỏng vấn
Khám lâm sàng
Siêu âm tính tuổi thai ≤12
Lấy bệnh phẩm
Hai tăm bông từ ÂĐ
Tăng bông số 1
Đo pH
Soi tươi tìm:
- Nấm Candida
- T.vaginalis
- Bạch cầu đa nhân
Tăm bông từ CTC
Tăng bông số 2
Test Siff
Nhuộm gram:
- Candida
- Clue cells chứa