ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ HƯỜNG
QUYỀN THÀNH LẬP VÀ GIA NHẬP CÔNG ĐOÀN
CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử NN&PL
Mã số
: 60.38.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đặng Minh Tuấn
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung
thực.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 09 năm 2015
Tác giả luận văn
Vũ Thị Hường
2.
Tình hình nghiên cứu của luận văn..................................................................3
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn..............................................3
4.
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.........................................................................4
5.
Phương pháp nghiên cứu của Luận văn...........................................................4
6.
Những đóng góp của luận văn...........................................................................5
7.
Ý nghĩa của Luận văn........................................................................................5
8.
Kết cấu của luận văn.........................................................................................5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN THÀNH LẬP VÀ GIA NHẬP
CÔNG ĐOÀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG.............................................................6
2.1.4. Luật bảo hiểm xã hội...................................................................................46
2.1.5. Bộ luật Hình sự Việt Nam............................................................................46
2.2 Điều kiện thành lập và gia nhập công đoàn ở Việt Nam................................47
2.2.1. Điều kiện thành lập công đoàn ở Việt Nam................................................47
2.2.2. Điều kiện gia nhập công đoàn ở Việt Nam..................................................52
2.3 Quy trình thành lập và gia nhập công đoàn ở Việt Nam...............................56
2.3.1. Quy trình, thủ tục thành lập công đoàn ở Việt Nam..................................56
2.3.2. Quy trình, thủ tục gia nhập công đoàn ở Việt Nam...................................63
2.4 Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong thành lập và gia nhập công
đoàn…..................................................................................................................... 64
2.4.1. Trách nhiệm của Nhà nước đối với Công đoàn..........................................64
2.4.2. Trách nhiệm của công đoàn trong việc thực hiện quyền thành lập và gia
nhập công đoàn của người lao động.......................................................................65
2.4.3. Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với tổ chức công đoàn.......69
2.5 Các bảo đảm từ phía người lao động trong thành lập và gia nhập công đoàn
ở Việt Nam..............................................................................................................71
2.6 Xử lý vi phạm pháp luật về Quyền thành lập và gia nhập công đoàn của
người lao động.........................................................................................................72
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀNTHÀNH LẬP VÀ
GIA NHẬP CÔNG ĐOÀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG........................................79
3.1. Quan điểm bảo đảm quyền thành lập và gia nhập công đoàn của người lao
động…..................................................................................................................... 79
3.2. Giải pháp bảo đảm quyền thành lập và gia nhập công đoàn của người lao
động…..................................................................................................................... 86
3.2.1. Giải pháp bảo đảm điều kiện thành lập và gia nhập công đoàn................87
3.2.2. Giải pháp bảo đảm quy trình thành lập và gia nhập công đoàn...............89
3.2.3. Nâng cao trách nhiệm của cá nhân tổ chức trong thành lập và gia nhập
công đoàn…............................................................................................................90
20
21
22
23
24
24
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Quan hệ Công nghiệp
ACIRRT
Úc Đại Lợi
BLHS
Bộ luật hình sự
BLLĐ
Bộ luật lao động
CĐ
Công đoàn
CĐCS
Công đoàn cơ sở
CFA
Ủy ban về tự do lập hội
CNLĐ
Công nhân lao động
Doanh nghiệp
DN
DNNN
Doanh nghiệp nhà nước
ICCPR
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong luật lao động quốc tế, tôn trọng quyền tự do công đoàn được xem như
là một nguyên tắc cơ bản trong lao động. Quyền này bao gồm quyền của người lao
động được tự do thành lập, tham gia hoặc không tham gia vào các công đoàn khác
nhau. Do đó, theo các công ước quốc tế của Liên hợp quốc và Tổ chức lao động
quốc tế, tất cả người lao động đều có quyền tự do thành lập, tham gia vào các công
đoàn, nếu việc thành lập, tham gia đó không trái với trật tự công cộng hoặc xâm
phạm an ninh, lợi ích của quốc gia sở tại. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị năm 1966 quy định “Mọi người đều có quyền tự do lập hội với những
người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình”
(Điều 22, khoản 1). Quy định này cho phép tất cả mọi người lao động thực hiện
quyền tự do công đoàn một cách không hạn chế, ngoại trừ những trường hợp pháp
luật của quốc gia thành viên quy định hạn chế đối với những đối tượng nhất định,
nhằm mục đính đảm bảo cho một xã hội dân chủ, vì lợi ích, an ninh quốc gia và trật
tự công cộng hoặc vì mục đích bảo vệ các quyền và tự do của những người khác.
Ngoài Liên hợp quốc, quyền tự do công đoàn của người lao động cũng luôn là tâm
điểm được bảo vệ bởi Tổ chức lao động quốc tế. Quyền này là một trong những yếu
tố thể hiện nền dân chủ và sự phát triển của một quốc gia. Nói cách khác, nền dân
chủ và sự phát triển bền vững về kinh tế của một quốc gia sẽ bị hạn chế rất nhiều
nếu một bộ phận người lao động bị tước đi quyền được tự thành lập tổ chức để bảo
vệ quyền và lợi ích của mình. Do đó, tôn trọng quyền tự do thành lập và gia nhập
công đoàn là việc làm quan trọng giúp bảo đảm quyền của người lao động nói riêng,
quyền con người nói chung.
Ở Việt Nam từ khi bước vào thời kì đổi mới, doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế trên cả nước đã tăng nhanh về số lượng và quy mô đầu tư, đặc biệt là
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã phát triển mạnh và thu hút số lượng lớn lao
động vào làm việc. Trước thực trạng đó, nhiều văn bản pháp luật liên quan đến
Việt Nam, từ năm 2009 - 2014, có 3.104 cuộc ngừng việc tập thể xảy ra ở 40 tỉnh,
thành cả nước, tập trung chủ yếu ở vùng kinh tế trọng điểm. Ngừng việc tập thể xảy
ra nhiều ở các doanh nghiệp có vốn nước ngoài với 2.337 cuộc (chiếm 74,9%) [35].
Như vậy, bình quân mỗi năm xảy ra từ 300 - 450 cuộc ngừng việc và hầu hết mang
tính tự phát; không do Công Đoàn tổ chức, lãnh đạo…
Cùng với đó, Luật công đoàn 2012 của Việt Nam đã được thông qua thay thế
cho Luật Công đoàn năm 1990, theo đó việc bảo vệ quyền của người lao động được
xem xét chủ yếu trong việc bảo đảm mối quan hệ giữa người lao động với người sử
dụng lao động; bảo đảm quyền của người lao động thông qua hoạt động của tổ chức
công đoàn…Sự thay đổi này có ý nghĩa quan trọng song cũng đặt ra những vấn đề
2
cần nghiên cứu về thực thi và bảo đảm quyền trên thực tế cho phù hợp với các công
ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam đã là thành viên. Trong điều kiện đó, tác giả
lựa chọn nghiên cứu về vấn đề: “Quyền thành lập và gia nhập công đoàn của
người lao động ở Việt Nam hiện nay” để chỉ ra những điểm còn hạn chế, bất cập;
từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hơn nữa cơ sở pháp lý bảo đảm quyền thành
lập và tham gia công đoàn của người lao động ở Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu của luận văn
Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu khoa học liên quan tới người lao động,
công đoàn như, đề tài, “Bảo đảm quyền của người lao động trong doanh nghiệp ơ
Việt Nam”, PGS.TS Lê Thị Hoài Thu, 2013; “Cơ chế bảo đảm quyền của người lao
động trong các loại hình doanh nghiệp ơ Việt Nam hiện nay”, PGS.TS Lê Thị Châu,
Đề tài khoa học cấp Bộ (Viện nghiên cứu lập pháp); “Bảo vệ người lao động di trú:
tập hợp các văn kiện quan trọng của quốc tế, khu vực Asean và của Việt Nam liên
quan đến vị thế và việc bảo vệ người lao động di trú, Lao động, 2009; Bảo vệ người
lao động theo pháp luật lao động Việt Nam trong nền kinh tế thị trường, Luận văn
Ths Luật: 6.01.05, Nguyễn Thị Yến; Nghd TS Nguyễn Hữu Chí, Khoa Luật, 2005;
người lao động ở Việt Nam;
- Đề xuất giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền
thành lập và gia nhập công đoàn.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, nghiên
cứu các quy định của pháp luật về quyền thành lập và gia nhập công đoàn của người
lao động. Đồng thời đánh giá thực tiễn thi hành và phân tích các luận cứ khoa học
về quyền thành lập và gia nhập công đoàn của người lao động. Trên cơ sở đó góp
phần hoàn thiện pháp luật về quyền thành lập và gia nhập công đoàn của người lao
động ở Việt Nam.
- Phạm vị nghiên cứu: Luận văn tập trung phân tích quy định pháp luật về bảo
đảm quyền thành lập và gia nhập công đoàn theo công ước quốc tế, pháp luật Việt
Nam về quyền thành lập và gia nhập công đoàn. Từ đó, đánh giá thực trạng pháp luật
về quyền thành lập và gia nhập công đoàn của người lao động ở Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu của Luận văn
Phương pháp luận: trong quá trình nghiên cứu, luận văn dựa vào phương
pháp luận là phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê nin
và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời vận dụng các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của
Đảng cộng sản Việt Nam làm định hướng nghiên cứu.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn, gồm: Phương
pháp so sánh pháp luật; Phương pháp phân tích quy phạm và phương pháp đánh giá
thực trạng pháp luật; Phương pháp tổng hợp. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng
phương pháp phân tích lịch sử. Các phương pháp được kết hợp với nhau để cùng
giải quyết vấn đề của luận văn.
4
6. Những đóng góp của luận văn
5
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN THÀNH LẬP VÀ GIA NHẬP
CÔNG ĐOÀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
1.1 Khái niệm quyền thành lập và gia nhập công đoàn
của người lao động
1.1.1. Công đoàn
1.1.1.1. Lịch sử của tổ chức công đoàn
Cuộc Cách mạng công nghiệp diễn ra ở Anh vào giữa thế kỷ 18, sau đó tiếp
tục ở nhiều nước khác. Cuộc cách mạng này bắt đầu từ việc phát minh và sử dụng
các máy kéo sợi, máy dệt và đặc biệt là máy hơi nước…chuyển lao động bằng tay
sang lao động bằng máy đưa năng suất lao động lên cao. Từ cuộc cách mạng công
nghiệp, giai cấp công nhân và giai cấp tư sản đã ra đời. Hai giai cấp này đối lập
nhau về quyền lợi. Do bị bóc lột, giai cấp công nhân đã đấu tranh chống giai cấp tư
sản từ lẻ tẻ, rời rạc, tự phát dần dần thành cuộc đấu tranh của cả một phân xưởng,
một nhà máy, một ngành, một địa phương. Trong đấu tranh, công nhân nhận thấy
cần tập hợp lực lượng, thống nhất hành động mới bảo vệ được quyền lợi của mình.
Do đó đã hình thành một tổ chức để đáp ứng yêu cầu ấy - đó là Công đoàn. Như vậy
nguyên nhân chủ yếu để công đoàn ra đời là do quan hệ lao động mâu thuẫn trong
mối quan hệ chủ thợ và để tập hợp bảo vệ quyền lợi của công nhân, công đoàn ra
đời là tất yếu khách quan. Công đoàn ra đời đầu tiên ở Anh vào đầu năm 1868, Pháp
năm 1884, Đức năm 1945…[6].
Dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác, phong trào đấu tranh của công nhân ngày
càng được củng cố. Để truyền bá Chủ nghĩa Mác vào sâu rộng trong giai cấp công
nhân, Mác và Ăng-gen đã đứng ra thành lập Hội Liên hiệp Lao động quốc tế (tức
Quốc tế thứ nhất) vào ngày 28/09/1864 ở Luân Đôn. Quốc tế thứ nhất đồng thời làm
nhiệm vụ Quốc tế công đoàn, vạch ra cương lĩnh cơ bản và tích cực đấu tranh cho
các yêu cầu cụ thể của công đoàn. Phong trào đấu tranh của công nhân và công
“...một tổ chức hợp thành chủ yếu bởi những người làm thuê, hoạt động cơ bản là
thương lượng về lương bổng và điều kiện thuê mướn cho các thành viên của nó”.
Như nhà sử học R.A Leeson, trong cuốn United We Stand (Tạm dịch: Chúng ta hãy
đoàn kết đứng lên) (1971) có viết: “Hai quan điểm mâu thuẫn nhau của phong trào
công đoàn đấu tranh với nhau để giành ưu thế trong thế kỷ mười chín: một bên là
truyền thống phường hội nghiêm ngặt có tính phòng thủ truyền lại qua các câu lạc
bộ thợ thuyền và các hội bạn thợ... bên khác là xu thế bành trướng có tính tấn công
nhằm thống nhất toàn thể “người lao động nam cũng như nữ để thiết lập một trật tự
mới...” Kinh tế gia thế kỷ XIX Adam Smith đã lưu ý sự bất cân đối về quyền lợi của
người lao động so với của người sở hữu (hay “ông chủ”). Trong chương 8, tập I
cuốn Của cải của các Quốc gia, Ad.Smith viết: Hiếm khi ta nghe nói đến sự liên
7
hiệp của các ông chủ, mà thường nghe đến hội của những người làm công. Nhưng
ai đó dựa trên điều này mà tưởng tượng rằng các ông chủ hiếm khi tập hợp lại thì kẻ
đó thật dốt nát, cả về thế giới lẫn về vấn đề này. Các ông chủ ở mọi lúc mọi nơi đều
liên hiệp với nhau một cách ngấm ngầm nhưng khư khư bất biến, hòng không nâng
lương của nhân công lên trên mức hiện hữu…[Khi những người lao động tập hợp
lại,] các ông chủ… không ngừng làm ầm ĩ lên, kêu gọi sự hỗ trợ của chính quyền
dân sự, và đòi thực thi nghiêm khắc những luật lệ ngặt nghèo được ban hành nhằm
chống lại sự liên hiệp của những người đầy tớ, người làm công và thợ thuyền. Như
vậy điều đó cho thấy, công đoàn là bất hợp pháp trong nhiều năm ở hầu hết các
nước. Đã có những hình phạt khắt khe đối với tổ chức công đoàn. Mặc dù thế, công
đoàn vẫn được thành lập và dần dần có được sức mạnh chính trị, kết quả cuối cùng
là một bộ luật lao động không chỉ hợp pháp hoá những nỗ lực tổ chức công đoàn mà
đã luật hoá mối quan hệ giữa giới chủ với những người làm thuê được tổ chức thành
những công đoàn. Quyền gia nhập công đoàn đã được nhắc đến trong điều 23 phân
đoạn 4 của bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) và được khẳng định lại
có thể tham gia vào cuộc đấu tranh chính trị hay xã hội rộng lớn hơn. Chủ nghĩa
công đoàn xã hội bao gồm nhiều công đoàn có thể dùng sức mạnh quốc tế để ủng
hộ cho những chính sách và pháp luật có lợi hơn cho người lao động.
Hiện nay, trong cơ chế thị trường đang diễn ra sôi động trên phạm vi toàn thế
giới, các tập đoàn tài chính quốc tế, các công ty đa quốc gia đã áp dụng chính sách
đầu tư linh hoạt và phương pháp quản lý mềm dẻo, đồng thời tăng cường bóc lột
công nhân. Thêm vào đó là tình hình việc làm của công nhân và người lao động trên
thế giới đang trở thành vấn đề lớn. Vì vậy, công đoàn thế giới cần phải đổi mới,
kiện toàn tổ chức công đoàn phải phấn đấu vươn lên không ngừng vì sự nghiệp hoà
bình thế giới, ổn định kinh tế xã hội và bảo vệ người lao động.
1.1.1.2. Mục đích và vai trò của Công đoàn
Thứ nhất, mục đích của Công đoàn. Công đoàn hoạt động vì mục đích xã
hội, nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động trong quan hệ lao động... Mục đích
xã hội của công đoàn thể hiện ở chỗ tổ chức này bảo vệ các quyền gắn liền với việc
bảo vệ nhân phẩm của người lao động và nâng cao vị thế của người lao động trong
mối tương quan lao động và xã hội của giới chủ.
Thứ hai, vai trò của Công đoàn. Trong xã hội tư bản, các nghiệp đoàn có vai
trò rất quan trọng. Ở đó, các tổ chức nghiệp đoàn có tư cách như là “lực lượng quân
bình” kéo cân lại vị thế vốn nhỏ bé của người lao động làm thuê so với thế lực “vạn
năng” của nhà tư bản. Nhà nước tư sản đã dùng công cụ pháp lý để xác lập quyền
thành lập và hoạt động nghiệp đoàn của người lao động, và cũng bằng công cụ pháp
lý giữ cho các nghiệp đoàn hoạt động trong khuôn khổ của trật tự xã hội tư bản. Ở
9
các nước xã hội chủ nghĩa nói chung và Việt Nam nói riêng, công đoàn cũng có một
vị trí, vai trò rất quan trọng ngoài tính chất là một tổ chức nghề nghiệp của người
lao động, công đoàn ở Việt Nam còn được xác định là một tổ chức chính trị xã hội .
Chính tính chất nghề nghiệp và tính chất chính trị xã hội đã khiến cho tổ chức công
Hiện nay ở Việt Nam, “công đoàn” không được coi là một danh từ chung.
Định nghĩa về công đoàn được quy định trong Hiến pháp “Công đoàn Việt Nam là
tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành
lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý
kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà
nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ
của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình
độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (điều
10), và được cụ thể hóa trong Luật công đoàn 2012 “Công đoàn là tổ chức chính trị
- xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên
cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức,
công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động),
cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước,
quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ
quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao
động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” (Điều 1)
Khái niệm “Công đoàn” được hiểu là tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, là
một tổ chức quần chúng rộng lớn nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Công đoàn xuất hiện khi công nhân biết ý thức về sức mạnh tập thể và biết chăm lo
bảo vệ quyền lợi cho chính mình. Tổ chức công đoàn ban đầu chỉ là một tổ chức
được lập ra nhằm đấu tranh và hạn chế sự bóc lột của giới chủ chứ chưa phải là một
tổ chức có nhiều quyền năng như ngày nay. Sự phát triển của công đoàn gắn liền
với sự lớn mạnh của giai cấp công nhân, với sự phát triển của công nghiệp, kỹ thuật
và sự liên kết của người sử dụng lao động. Chính trong sự phát triển đó, hoạt động
mạnh cả về số lượng và chất lượng, không ngừng nâng cao trình độ giác ngộ chính
trị, tính tổ chức kỷ luật, trình độ văn hóa, khoa học - kỹ thuật của công nhân, làm
cho giai cấp công nhân trở thành lực lượng nòng cốt của khối liên minh công - nông
- trí, nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Công đoàn là cơ sở vững chắc bảo
đảm vai trò lãnh đạo của Đảng và tăng cường sức mạnh của Nhà nước.
1.1.2. Quyền của người lao động
Khái niệm “Quyền” thông thường được hiểu là “cái mà luật pháp, xã hội,
phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành…và khi thiếu sẽ
được yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại”. Quyền thường gắn
với một chủ thể pháp luật. Luật pháp của các nước trên thế giới đều quy định quyền
12
và nghĩa vụ cơ bản của công dân là một chế định cơ bản, giữ vị trí quan trọng trong
Hiến pháp. Ở Việt Nam, quyền cơ bản của công dân là những quyền gắn bó mật
thiết tới cuộc sống của mỗi cá nhân - con người với tư cách là một thành viên của
cộng đồng xã hội. Nhà nước thừa nhận quyền của con người, của công dân trong
Hiến pháp và luật pháp, được bảo đảm thực hiện thông qua bộ máy công quyền từ
trung ương đến địa phương. Quyền của người lao động là một trong những nội
dung, thành tố cơ bản cấu thành quyền con người. Tuy nhiên người lao động với tư
cách là chủ thể tạo ra các sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội, quyền của
người lao động được xác định là một trong những quyền phổ biến và được quan tâm
chú ý nhiều nhất trên cả bình diện quốc gia và quốc tế, đặc biệt là trong điều kiện
hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ.
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về quyền của con người. Theo Văn
phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn
cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc
sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, tự do cơ bản của con người”. Theo Tổ chức
Ân xá quốc tế “Nhân quyền là quyền cơ bản và quyền tự do mà tất cả mọi người
thời kỳ lịch sử. Cho đến nay sau hơn hai thập kỷ xây dựng và phát triển kinh tế thị
trường định hướng XHCN, nước ta đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử
trong việc phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có việc bảo đảm quyền của người lao
động. Tuy nhiên đó mới chỉ là kết quả bước đầu, hơn nữa việc xây dựng và phát
triển kinh tế thị trường mới chỉ diễn ra trong thời gian chưa được bao lâu, với những
hạn chế, yếu kém về mặt chủ quan đã làm cho việc bảo đảm quyền của người lao
động nói chung và quyền của người lao động trong các loại hình doanh nghiệp ở
nước ta hiện nay bộc lộ nhiều bất cập. Vì vậy, việc xây dựng, hoàn thiện và vận
hành có hiệu quả cơ chế bảo đảm quyền của người lao động trong các loại hình
doanh nghiệp ở nước ta hiện nay trở thành vấn đề mang tính cấp thiết.
Thông thường, quyền của người lao động được chia thành: Quyền được làm
việc; Quyền tự do không bị lao động cưỡng bức; Quyền được hương mức lương
công bằng, hợp lý và được trả lương bằng nhau cho những công việc như nhau;
Quyền được đảm bảo điều kiện làm việc an toàn và vệ sinh; Quyền nghỉ ngơi;
Quyền công đoàn; Quyền được hương an sinh xã hội. Như vậy, quyền công đoàn là
một bộ phận cấu thành quyền của người lao động.
1.1.3. Quyền thành lập và gia nhập công đoàn
1.1.3.1. Khái niệm quyền thành lập công đoàn của người lao động
Theo từ điển Tiếng Việt thuật ngữ “thành lập” có nghĩa là: chính thức lập
nên, dựng nên (thường nói về một tổ chức quan trọng). Theo cách hiểu thông
thường, thuật ngữ thành lập được hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất, là thành lập một tổ
14
chức mới (nghĩa rộng); thứ hai, là thành lập một thành viên mới của tổ chức đó hoặc
một bộ phận mới của tổ chức đó (nghĩa hẹp). Người lao động được pháp luật hoặc
xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi để lập nên tổ chức công
đoàn bảo vệ lợi ích của mình. Thành lập công đoàn ở Việt Nam được hiểu theo
nghĩa thứ hai, đó là “thành lập một thành viên mới của tổ chức đó…”. Như vậy,
Liên hợp quốc…Người lao động được pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được
hưởng, được làm, được tham gia đứng vào hàng ngũ của tổ chức công đoàn để bảo
vệ lợi ích của mình. Bên cạnh đó, “gia nhập” còn được hiểu là một chủ thể (một
quốc gia một tổ chức, một cá nhân) đủ điều kiện tán thành những quy định của tổ
chức đã có trong xã hội và tự nguyện xin vào tổ chức đó, được tổ chức đó chấp
thuận. Việc gia nhập tổ chức phải có ít nhất hai điều kiện: một là, bên gia nhập phải
đủ điều kiện mà tổ chức yêu cầu, đồng thời phải tự nguyện xin vào tổ chức; hai là,
phải được đồng ý, chấp thuận theo quy chế nội bộ của tổ chức.
Như vậy quyền gia nhập tổ chức Công đoàn của người lao động là quyền của
người lao động dược tự do gia nhập hoặc không gia nhập tổ chức Công đoàn, không
một cá nhân, tổ chức nào có thể ngăn cản quyền tự do gia nhập Công đoàn của
người lao động.
1.1.3.3. Mối quan hệ giữa quyền lập hội và quyền thành lập và gia nhập
công đoàn
Thứ nhất, Lập hội là việc các cá nhân liên kết, tập hợp lại với nhau thành
nhóm để hướng đến những lợi ích, mục đích hay sự quan tâm chung. Trong khi các
nhóm, hội đoàn, tổ chức tự nguyện là các thành tố hạt nhân của xã hội dân sự thì
các chế độ độc đoán luôn tìm cách cản trở sự liên kết tự do của người dân, khống
chế sự hoạt động của các hội tự nguyện. Điều này đã được nhắc đến như nỗ lực
nhằm “nguyên tử hóa” (tách rời cá nhân ra thành các đơn vị riêng lẻ) của các chế độ
lạm quyền. Các hội có hình thức đa dạng, đó có thể là các câu lạc bộ, hội nghề
nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, các quỹ, công đoàn, tổ chức tôn giáo, chính đảng
và công ty. Do sự đa dạng của các nhóm, pháp luật các quốc gia thường có quy định
điều chỉnh riêng một số nhóm, hội bằng các luật riêng như: luật về doanh nghiệp,
luật về công đoàn - nghiệp đoàn, luật về các đảng phái chính trị, luật về các tổ chức
tôn giáo. Theo cách hiểu thông thường, trong tiếng Việt, danh từ "hội" có hai nghĩa
gần nhau dùng để chỉ: 1) cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo người tham dự, theo
phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt; 2) tổ chức quần chúng rộng rãi của những người
cùng chung một nghề nghiệp hoặc có chung một hoạt động [33].
hội đã có sẵn, và (iii) Hoạt động, điều hành các hội, bao gồm cả việc tìm kiếm, huy
động các nguồn kinh phí. Quyền thành lập và gia nhập các hội là nội dung chủ yếu
của quyền tự do hiệp hội. Quyền này bao hàm cả quyền thành lập và gia nhập các
công đoàn để bảo vệ lợi ích của người lao động. Cũng cần lưu ý là quyền thành lập
và gia nhập các công đoàn được bảo vệ cả trong ICCPR (Điều 22) và ICESCR
(Điều 8). Bên cạnh đó, Công ước quốc tế về quyền tự do hiệp hội và bảo vệ quyền
tổ chức 1948 (Công ước 87 của Tổ chức Lao động thế giới - ILO), tại Điều 2, xác
17
định mọi người lao động và người sử dụng lao động đều có quyền thành lập và gia
nhập các tổ chức mà họ tự lựa chọn mà không phải xin phép trước.
Thứ hai, quyền công đoàn là quyền có tính chất tập thể của người lao động
và hiểu theo nghĩa rộng. Hiểu đầy đủ thì quyền công đoàn bao gồm quyền được
thành lập, tham gia công đoàn, được thương lượng tập thể và được đình công.
Quyền tự do công đoàn của người lao động xét về tổng thể, chỉ là một khía cạnh
của quyền tự do lập hội của con người nói chung được tuyên bố tại Điều 20
UDHR “1.mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội một cách ôn hòa, 2.
Không ai bị ép buộc tham gia bất cứ tổ chức nào” [10]. Theo khoản 1, điều 4, Luật
công đoàn 2012 của Việt Nam thì “Quyền công đoàn là quyền thành lập, gia nhập
và hoạt động công đoàn của người lao động, đoàn viên công đoàn và quyền của
tổ chức công đoàn theo quy định của pháp luật và quy định của cơ quan có thẩm
quyền”. Quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn Việt Nam được quy
định “Người lao động là người Việt Nam làm việc trong cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn” (điều 5, Luật Công
đoàn 2012)
Như vậy, việc thành lập tổ chức để bảo vệ quyền của người lao động là nhu
cầu phát triển tất yếu của xã hội. Quyền thành lập và gia nhập công đoàn là một bộ
phận cấu thành của quyền tự do lập hội. Quyền lập hội nói chung và quyền thành