MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Truyền máu là một liệu pháp điều trị rất có hiệu quả trong nhiều bệnh lý
và đã góp phần hỗ trợ quan trọng trong điều trị và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Cũng như mọi liệu pháp y học khác, truyền máu cần được sử dụng đúng đắn,
hợp lý nhằm phát huy tối đa hiệu quả và hạn chế tối thiểu những tai biến
truyền máu [1].[2].
Trước đây việc sử dụng máu toàn phần là phổ biến, nhưng ngày nay với
sự phát triển của khoa học kỹ thuật, từ những đơn vị máu của người hiến con
người đã sản xuất ra những chế phẩm máu khác nhau: huyết tương, hồng cầu
khối, tiểu cầu... cùng với sự hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực truyền máu mà
nguyên tắc cơ bản của truyền máu hiện đại có sự thay đổi : “Chỉ định hợp lý;
truyền đúng; truyền đủ; cần gì truyền nấy; không cần không truyền”.
Máu được coi là một loại thuốc đặc biệt vì thế lợi ích và vai trò của
truyền máu phụ thuộc vào từng điều kiện cụ thể, cho đến nay người ta khẳng
định truyền máu có hiệu quả trong những mục đích điều trị như:
1. Khôi phục lượng huyết sắc tố nhằm duy trì chức năng vận chuyển oxy
của máu.
2. Khôi phục thể tích máu nhằm duy trì chức năng sống của cơ thể.
3. Khôi phục khả năng đông cầm máu tránh các nguy cơ mất máu tiếp diễn.
4. Trợ giúp khả năng chống nhiễm trùng của cơ thể thông qua vai trò của
bạch cầu hạt [1].
Trong thực tế lâm sàng có rất nhiều tình huống xảy ra, vì thế việc sử
dụng máu hay chế phẩm máu cần sự phối hợp của nhiều yếu tố nhiều thành
phần, ví dụ như tình trạng bệnh nhân, tình hình ngân hàng máu, chỉ định của
Nghiên cứu đặc điểm sử dụng máu và chế phẩm máu ở bệnh nhân chấn
thương được truyền máu tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2019 - 2020.
2.
Mô tả một số tai biến truyền máu sớm trong lâm sàng.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lịch sử truyền máu trên thế giới và tại Việt Nam
1.1.1. Lịch sử truyền máu trên thế giới
Những ý tưởng về truyền máu xuất hiện từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại
tuy nhiên do hạn chế hiểu biết về máu và sinh lý tuần hoàn nên truyền máu
chưa được biết đến rộng rãi.
Đầu thập niên 1600 một bác sĩ người Pháp, đã tiêm máu bê non vào cơ
thể người điên và kết quả thật bi thảm, người đàn ông đổ mồ hôi, nôn mửa
tiểu ra nước màu đen rồi qua đời sau đợt truyền máu kế tiếp.
Vào năm 1628 bác sĩ người Anh là William Harvey (1578 - 1657) mô tả
được chức năng của tim và sự tuần hoàn của máu trong lòng mạch. Ông chỉ ra
rằng tim là một cái bơm và sự co bóp của tim đẩy máu vào trong động mạch,
máu đó trở lại tim sau khi đã lưu thông qua tĩnh mạch, do đó máu lưu thông
tuần hoàn trong cơ thể [4], [5].
Người đầu tiên ghi nhận truyền máu từ người này sang người khác là
James Blundell, một bác sĩ sản khoa tại bệnh viện Guy and St. Thomas tại
London, ông đã chứng kiến nhiều trường hợp xuất huyết sau sinh, điều này đã
thôi thúc ông nghiên cứu truyền máu trên chó, ông nhận thấy rằng xuất huyết
Các chất chống đông, nuôi dưỡng và bảo quản máu ngày càng được phát
minh và cải tiến. Vào năm 1905, Richard Lewinsohn bác sĩ tại bệnh viện
Mount Sinai ở New Jork, công bố dung dịch natri citrat 0.2 % có tác dụng
chống đông, đồng thời không có độc tính ngay cả khi truyền 2500 ml máu,
tuy nhiên nó chỉ được sử dụng vài giờ sau khi hiến không được sử dụng với
mục đích lưu trữ lâu dài, năm sau ông tiến hành nghiên cứu trên thỏ ông nhận
thấy rằng sau khi đã thêm dextrose vào máu với thời gian bảo quản 2 tuần vẫn
có hiệu quả điều trị sau khi truyền cho thỏ. Từ đó đến nay dung dịch chống
đông ngày càng được cải thiện, ACD (acide citrate dextrose), CPD (citrate
6
phosphat dextrose), CPDA-1 (citrate phosphat dextrose adenin) bảo quản máu
được 42 ngày ở nhiệt độ 2 - 6o C.[4],[5]
Vào năm 1921, tổ chức tiếp nhận máu đầu tiên được thành lập ở London,
do Percy Olive là người sáng lập (1878-1944) ông là thư ký của tổ chức
Camberwell trực thuộc hội chữ thập đỏ Anh. Tháng 10 năm 1921, tổ chức của
ông đã nhận được cuộc gọi điện thoại từ đại học King, tình nguyện hiến máu cho
bệnh nhân, điều này đã thôi thúc ông thành lập những nhóm người tình nguyện
trong số những người quen của ông để có thể liên lạc được nhanh nhất để có
máu tươi truyền. Những người hiến máu tình nguyện được kiểm tra về thể chất
và xét nghiệm huyết thanh học để xác định nhóm máu và phát hiện nhiễm giang
mai. Quyền và trách nhiệm của người hiến máu cũng dần được hình thành.
Tuy nhiên việc gọi người hiến máu đến trong khoảng thời gian ngắn để
hiến máu là rất khó khăn, vì thế vào năm 1937, ngân hàng máu đầu tiên đã
được xây dựng ở Chicago- Mỹ do Bernard Fantus thuộc bệnh viện Cook Cook
thành lập, lúc này máu vẫn thu thập bằng chai và được lưu trữ trong tủ lạnh 10
ngày. Ở Nga do nguồn máu còn rất hạn chế nên đã khiến các bác sĩ lấy máu từ
những người chết . Tới năm 1940, đại chiến thế giới thứ hai, do nhu cầu máu cho
động hiến máu nhân đạo, cho tới nay đã có khoảng 90% máu đang dùng là
donhững người hiến máu tình nguyện. Các trang thiết bị tiếp nhận, bảo quản
máu cũng ngày càng đươc đổi mới. Số lượng máu trong toàn quốc thu được
liên tục tăng đội ngũ cán bộ, nhân viên huyết học - truyền máu cũng đã được
bổ sung nhiều và được đào tạo chuyên sâu ở trong và ngoài nước.
Sản xuất và chuẩn hoá các chế phẩm máu bao gồm: khối hồng cầu nghèo
bạch cầu, khối tiểu cầu pool, khối tiểu cầu được tách từ một cá thể trên hệ
thống máy tự động, huyết tương tươi, huyết tương tươi đông lạnh, tủa lạnh
yếu tố VIII và khối bạch cầu hạt trung tính.
Năm 1992, Bộ Y Tế ban hành “Điều lệnh truyền máu”, năm 2007 là
“Quy chế truyền máu” và tháng 9/2013 thay bằng thông tư 26/2013/TTBYT hướng dẫn hoạt động truyền máu. [7]
8
Phát triển truyền máu lâm sàng: chỉ định và sử dụng hợp lý máu và các
sản phẩm máu. Truyền máu từng phần giúp tránh được những tác dụng phụ
của truyền máu toàn phần như phản ứng tan máu, sốt, dị ứng, tăng sắt huyết
thanh, các biến chứng chuyển hóa, nguy cơ lây truyền các bệnh truyền nhiễm.
Truyền máu từng phần là sử dụng hiệu quả nhất nguồn máu quý giá, tránh
lãng phí do một đơn vị máu có thể tách ra các thành phần máu khác nhau và
được truyền cho nhiều bệnh nhân. [8]
1.2. Đặc điểm của hệ nhóm máu hệ ABO, Rh và các hệ nhóm máu khác
Máu của những người khác nhau có những đặc tính kháng nguyên và
kháng thể khác nhau vì thế kháng thể trong huyết thanh của người này có thể
phản ứng với kháng nguyên trên hồng cầu người khác gây tai biến.
Hiện nay, trên màng hồng cầu người, người ta đã tìm thấy >300 kháng
nguyên trong đó có khoảng 30 kháng nguyên thường gặp. Việc phát hiện thêm
nhiều nhóm kháng nguyên này đã góp phần làm tăng hiệu quả an toàn truyền
máu.
Không có
Chống A và chống B
AB
O
9
Ngoài ra trong kháng nguyên A có hai loại kháng nguyên A 1 và A2. Như
vậy nhóm A thực ra có hai nhóm A1 và A2, cũng như có hai nhóm AB là A 1B
và A2B. Trong đó hồng cầu A1 bị ngưng kết mạnh với kháng thể chống A còn
hồng cầu A2 phản ứng kém với kháng thể chống A.
1.2.1.2. Kháng thể hệ ABO
Kháng thể chống A, chống B có trong huyết thanh của những người
không có kháng nguyên tương ứng. Có hai loại:
- Kháng thể tự nhiên [9]: Đặc điểm của hệ nhóm máu ABO là trong huyết
thanh có mặt các kháng thể tương ứng với các kháng nguyên vắng mặt trên
màng hồng cầu, những kháng thể tự nhiên này xuất hiện khi trẻ sinh ra và tồn tại
suốt đời, cụ thể:
+ Kháng thể chống A ở người nhóm máu B;
+ Kháng thể chống B ở người nhóm máu A;
+ Kháng thể chống A và chống B ở người nhóm máu O.
- Kháng thể miễn dịch [9]: Kháng thể miễn dịch xuất hiện do quá trình
kích thích miễn dịch; các điều kiện kích thích miễn dịch.
+ Miễn dịch đồng loài: xuất hiện do bất đồng nhóm máu giữa mẹ và
con; hồng cầu con mang kháng nguyên mà người mẹ không có, khi chuyển
dạ, một ít hồng cầu con sang máu mẹ gây đáp ứng miễn dịch ở mẹ.
máu Rh(+) ở những lần mang thai sau [11].
Ngoài ra, cho đến nay người ta phát hiện rất nhiều kháng nguyên Rh
khác như: kháng nguyên Du, kháng nguyên D từng phần, kháng nguyên C w,
kháng nguyên phức hợp,…
Kháng thể hệ Rh hầu hết kháng thể miễn dịch là IgG, trừ một tỷ lệ thấp
kháng thểmiễn dịch chống D là IgM. Kháng thể tự nhiên rất hiếm gặp.
1.2.3. Các hệ nhóm máu khác
Hiện nay đã có tới 35 hệ nhóm máu được ISBT công nhận, đó là hệ nhóm
máu ABO, MNS, P1PK, Rh, Lutheran, Kidd, Kell, Lewis, Duffy, Diego, Yt, Xg,
11
Scienna, Dombrock, Colton, Landsteiner-Wiener, Chido/Rodgers, H, Kx,
Gerbich, Cromer, Knops, Indian, Ok, Raph, John Milton Hagen, I, Globoside,
Gill, RhAG, Forssman, Jr, Lan, Vel, CD 59 [5], [9], [10], [11].
1.3. Máu và các chế phẩm máu
1.3.1. Máu toàn phần
- Là máu tĩnh mạch lấy với dung dịch chống đông từ người hiến máu đã
được tuyển chọn theo quy định.
- Bảo quản máu toàn phần: ở nhiệt độ +2oC đến +6oC trong tủ lạnh chuyên
dụng, trong 35 ngày với dung dịch chống đông CPDA-1. Khi bảo quản ở nhiệt
độ từ +20oC đến +24oC, hạn sử dụng không quá 24 giờ.
1.3.2. Khối hồng cầu đậm đặc
Khối hồng cầu đậm đặc (hồng cầu lắng) là phần còn lại của máu toàn
phần đã tách huyết tương sau khi ly tâm hoặc để lắng và không thực hiện
thêm bất kỳ công đoạn xử lý nào khác.Lượng hemoglobin tối thiểu là 10g từ
100ml máu toàn phần được điều chế. Hematocrit từ 0,65 đến 0,75L/L [7].
1.3.3. Khối hồng cầu có dung dịch bảo quản
Khối hồng cầu có dung dịch bảo quản là phần còn lại của máu toàn phần
tự động.
+ Thành phần: có ≥ 3,0x1011tiểu cầu/ đơn vị, có ít bạch cầu.
1.3.8. Các chế phẩm huyết tương
- Huyết tương tươi và huyết tương tươi đông lạnh
+ Phần huyết tương tách ra từ máu toàn phần trong thời hạn 6 giờ và tối
đa không quá 18h kể từ lúc lấy máu gọi là huyết tương tươi (HTT).[16]
+ Huyết tương tươi được làm đông lạnh và được bảo quản ở nhiêt độ
-18oC gọi là huyết tương tươi đông lạnh (HHTĐL).[16]
+ Lượng huyết tương tách từ một đơn vị máu hiện nay có dung tích
khoảng 125-150ml. Người ta thường pool (gộp) lượng HTT của hai đơn vị
máu toàn phần cùng nhóm và như vậy dung tích khoảng 250 - 300 ml.
- Tủa lạnh yếu tố VIII [16]
+ Được sản xuất từ những đơn vị HTTĐL được tan đông 2- 6oC.
+ Thành phần: chứa 150- 200mg fibrinogen, 80- 120 đơn vị yếu tố VIII,
20- 40% yếu tố XIII, fibronectin.
13
- Albumin và globulin miễn dịch
+ Albumin có 2 dạng 5% (50g protein/100ml) và 20% (200g
protein/100ml) được sử dụng cho các trường hợp giảm thể tích tuần hoàn,
giảm thể tích protein máu.[8]
+ Globulin miễn dịch: thường được sản xuất dưới dạng dung dịch
truyền tĩnh mạch. Sử dụng cho các trường hợp thiếu hụt gammaglobulin thiếu
hụt miễn dịch, điều trị xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch.
1.3.9. Khối bạch cầu
Chế phẩm giàu bạch cầu hạt được tách từ nhiều đơn vị máu toàn phần. Thể
tích 250ml với số lượng bạch cầu hạt trung tính > 0.6x1010 bạch cầu. Các đơn vị
khối bạch cầu này được bảo quản ở 22oC, thời gian bảo quản < 24h.
1.4.2. Một số tai biến truyền máu không mong muốn
1.4.2.1. Các tai biến cấp do truyền máu
Phản ứng tan máu cấp do truyền máu
- Bệnh sinh: Thường do truyền máu toàn phần hoặc khối HC không
tương đồng về nhóm máu ABO. Kháng thể kháng A hoặc B (là IgM) vốn có
trong huyết tương bệnh nhân gây ngưng kết hồng cầu có kháng nguyên tương
ứng truyền vào gây tan máu nội mạch cấp tính.[18], [19]
- Biểu hiện lâm sàng: Thường xuất hiện rất sớm sau khi truyền được vài ml
máu. Bệnh nhân thường bắt đầu với các dấu hiệu đau hoặc cảm giác nóng ở
vùng đặt kim truyền máu, kích thích, vật vã, đỏ mặt, ngực, đau thắt lưng, bụng
hoặc đau ngực, buồn nôn và nôn... Các triệu chứng thực thể đi từ nhẹ đến nặng:
sốt, rét run, khó thở, tụt huyết áp, mạch nhanh, đái đỏ do đái huyết sắc tố, thiểu
niệu, vô niệu, xuất huyết và sốc.
Phản ứng sốt sau truyền máu không do tan máu
- Bệnh sinh: Do không phù hợp nhóm bạch cầu và tiểu cầu của máu
người cho và người nhận (hệ HLA). Kháng thể và kháng nguyên tương tác
dẫn đến giải phóng các chất gây sốt.[18]
15
- Biểu hiện lâm sàng: sốt có thể kèm theo rét run hoặc không xảy ra
trong hoặc ngay sau truyền máu.
Các phản ứng dị ứng
- Mề đay
+ Bệnh sinh: bệnh hay gặp ở những người có tiền sử dị ứng. Bản chất là
do các dị nguyên có trong huyết tương và các chế phẩm máu có chứa huyết
tương giải phóng histamin từ các mastocyt bị kháng thể (IgG, IgE) bao phủ.
+ Biểu hiện lâm sàng: nổi sẩn ngứa, xuất hiện sớm khi đang truyền máu
hoặc sau truyền máu.[18], [19]
truyền máu. Bệnh nhân thường có các triệu chứng lâm sàng như phù phổi cấp
(vì vậy TRALI còn được gọi là phù phổi cấp không do tim mạch): sốt, rét, tím
tái, khó thở, huyết áp tụt, phổi có các ran ẩm nhỏ hạt hai đáy phổi... Xét
nghiệm khí máu thấy SaO2 giảm. Xquang phổi: có những nốt mờ rải rác hai
đáy phổi.
Nhiễm khuẩn cấp
- Nguyên nhân do các chế phẩm bị nhiễm khuẩn trong quá trình thu gom,
sản xuất, lưu trữ. Thường là các vi khuẩn Gram âm (Pseudomonas, E.coli...)
- Biểu hiện lâm sàng: thường là rất nặng bao gồm sốc nhiễm khuẩn do
nội độc tố, đông máu rải rác trong lòng mạch...
Tai biến do truyền máu khối lượng lớn
- Truyền máu khối lượng lớn là truyền cho người bệnh một thể tích máu
bằng hoặc lớn hơn thể tích máu của cơ thể bệnh nhân trong thời gian 24 giờ.
- Thường gặp trong các trường hợp cấp cứu chấn thương, phẫu thuật
hoặc tai biến sản khoa. Truyền máu khối lượng lớn có thể gây ra các biến
chứng sau:
+ Quá tải tuần hoàn;
+ Nhiễm độc citrat và giảm canxi máu;
+ Tăng Kali máu và giảm pH máu;
17
+ Hạ thân nhiệt;
+ Giảm nặng các yếu tố đông máu;
+ Đông máu rải rác trong lòng mạch.
- Khi bắt buộc phải truyền máu khối lượng lớn, cần theo dõi chặt chẽ
tình trạng lâm sàng của bệnh nhân cũng như xét nghiệm có liên quan để có
thể xử trí kịp thời. Tùy theo loại tai biến mà có biện pháp xử trí thích hợp.
1.4.2.2. Tai biến muộn do truyền máu
không được hồi sức đúng, tuy nhiên cũng có trường hợp bệnh nhân chấn
thương chảy máu rỉ rả (tổn thương ở những mạch máu nhỏ) biểu hiện thiếu
máu xuất hiện vài ngày thậm chí vài tuần sau.[27]
1.5.2. Một số chấn thương thường gặp
1.5.2.1. Chấn thương sọ não [21]
Chấn thương sọ não là tình trạng người bệnh bị sang chấn vào đầu gây
tổn thương hộp sọ và các cấu trúc khác bên trong hộp sọ. Đây là nguyên nhân
gây tử vong cao và để lại di chứng nặng nề cho người bệnh.
Triệu chứng và biểu hiện của chấn thương sọ não thường biểu hiện qua
hai thể là các tổn thương nguyên phát và tổn thương thứ phát.
Nguyên phát là tổn thương có ngay sau tai nạn:
•
Tổn thương da đầu, thường thấy là da đầu bị rách gây mất máu nhiều.
•
Hộp sọ, hộp sọ Có thể bị vỡ rạn, vỡ theo đường chân chim, vỡ lún gây
chèn vào màng não hoặc tổ chức não. ở trẻ em, vỡ xương sọ có thể có vỡ sọ tiến
triển.
•
Tổn thương tại màng não, màng não bị rách gây chảy dịch não tủy hoặc
tổ chức não thoát ra ngoài.
•
Tổn thương ở mạch máu gây máu tụ ngoài màng cứng, dưới màng
cứng. Tổ chức não bị dập và chảy máu trong não.
thông, tai nạn lao động, tai nạn trong sinh hoạt, dao đâm; còn trong chiến
tranh thì phần lớn là do đạn bom hoặc mảnh đạn.
Chấn thương ngực kín (CTNK): một dạng thương tổn ở thành ngực hoặc
các tạng trong lồng ngực do vật tù đập mạnh vào ngực hoặc do chấn động.
Vết thương thấu ngực (VTTN): khoang màng phổi thông thương với bên
ngoài, chia thành 2 loại: vết thương ngực kín và vết thương ngực hở.
Lồng ngực bao gồm : cơ hoành, xương sườn, phổi, tim, khí - phế quản,
các mạch máu lớn và thần kinh.
Do đó chấn thương lồng ngực nguy cơ chảy máu nhiều là rất lớn, việc
hồi sức tích cực trong đó truyền máu đóng vai trò quan trọng.
1.5.2.3. Chấn thương bụng [23]
Thương tổn các tạng trong ổ bụng do chấn thương gây ra là một cấp cứu
ngoại khoa rất thường gặp, tỷ lệ tử vong do mất máu, nhiễm trùng là rất cao
nếu không được phát hiện kịp thời.
20
Các tổn thương có thể gặp: vỡ gan, vỡ lách, vỡ tụy, dạ dày, bàng quang,
ruột...ngoài ra các tạng cũng có thể bị tổn thương do dây chằng, mạc treo bị rách.
1.5.2.4. Chấn thương gãy xương [24]
Chấn thương gãy xương là một tổn thương hay gặp, gãy xương là mất
tính liên tục của xương, gãy xương có thể do chấn thương hoặc do bệnh lý,
trong đó nguyên nhân do chấn thương hay gặp nhất.
Xương được nuôi dưỡng bởi hệ mạch máu phong phú, vì thế khi xương
tổn thương thường kèm theo tổn thương mạch máu.
Gãy những xương nhỏ như xương sườn ít ảnh hưởng tới toàn thân,
nhưng gãy những xương lớn như xương đùi, xương chậu, xương cẳng chân...
có thể gây mất máu nhiều, bệnh nhân có thể suy sụp tuần hoàn nếu không
được truyền máu sớm và cố định xương tốt.
nhiều máu.
Tủa VIII.[6]
Chỉ định:
- Rối loạn đông máu thiếu hụt yếu tố VIII, von Willebrand.
- Phối hợp truyền cùng với khối hồng cầu cho những trường hợp bị mất
nhiều máu.
Khối tiểu cầu.[26]
-
Phẫu thuật lớn hoặc thủ thuật không xâm lấn, không chảy máu truyền tiểu cầu
khi số lượng tiểu cầu của bệnh nhân dưới 50 G/L.
-
Phẫu thuật có chảy máu thường truyền tiểu cầu khi số lượng tiểu cầu dưới 50
G/l, trường hợp đặc biệt có thể truyền khối tiểu cầu khi số lượng tiểu cầu dưới
100 G/L.
-
Bệnh nhân ổn định, không chảy máu, truyền tiểu cầu khi số lượng tiểu cầu
dưới 10 G/L.
1.5.3. Một số nghiên cứu về truyền máu và chế phẩm máu trên bệnh nhân
ngoại khoa
22
CHƯƠNG 2
- Thông tin về tuổi: từ 1- 18 tuổi,
• Nặng: 20≤ SLTC < 50G/L
25
• Rất nặng: SLTC < 20G/L
+ So sánh thay đổi trước và sau truyền khối tiểu cầu giữa các lượt truyền
của bệnh nhân.
+ Giá trị trung bình SLTC tăng lên sau truyền 1 đơn vị KTC.
2.3.3.3. Số liệu về phản ứng truyền máu đã gặp trong và sau khi truyền máu
- Thu thập số liệu về phản ứng truyền máu đã gặp trong và sau khi truyền
máu:
Sốt
Rét run
Mẩn ngứa
Mạch nhanh
Tụt huyết áp
- Tính các thông số:
+ Tỉ lệ tai biến truyền máu và chế phẩm máu.
+ Tỉ lệ các loại tai biến truyền máu hay gặp.
+ Tỉ lệ tai biến theo từng loại chế phẩm máu.
+ Biểu hiện tai biến theo chế phẩm sử dụng.
2.3.4. Kỹ thuật thu thập số liệu
- Căn cứ vào sổ cấp phát máu tại khoa truyền máu của Bệnh viện Hữu
Nghị Việt Đức, hồ sơ bệnh án của bệnh nhân chấn thương được truyền chế
phẩm máu.
- Thu thập thông tin vào mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất.
2.3.5. Một số trang thiết bị và dụng cụ nghiên cứu
- Máy đếm tế bào, hóa chất và sinh phẩm của hãng Sysmex: máy