ĐỀ TÀI TÀI CHÍNH QUỐC TẾ. - Pdf 55

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ - LUẬT

ĐỀ TÀI TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS. LÊ TUẤN LỘC
NHÓM THỰC HIỆN:
1. PHẠM TRUNG DŨNG K074020284
2. TRẦN THỊ MAI HƯƠNG K074020289
3. THẠCH PHUÔNG MALI K074020393
4. LÊ THỊ KIM NGỌC K074020336
5. NGUYỄN CHÍ NGHĨA K074020394
6. LÊ NGỌC UYÊN K074020383
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................................1
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CÁN CÂN THƯƠNG MẠI.....................................................2
I. CÁN CÂN THƯƠNG MẠI .............................................................................................2
II. TÁC DỤNG CỦA CÁN CÂN THƯƠNG MẠI.............................................................2
III. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI...............................3
IV. TÁC ĐỘNG CÁN CÂN THƯƠNG MẠI ĐẾN NỀN KINH TẾ.................................4
CHƯƠNG II: CÁN CÂN THƯƠNG MẠI QUA CÁC GIAI ĐOẠN.................................5
I. TỔNG QUAN CCTM 1990 – 2008..................................................................................5
II. TỔNG QUAN CCTM 10 THÁNG ĐẦU NĂM 2009..................................................14
CHƯƠNG III: KHUYẾN NGHỊ........................................................................................31
LỜI KẾT..............................................................................................................................32
2
TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
A. LỜI MỞ ĐẦU
Cán cân thương mại là một bộ phận quan trọng trong cán cân vãng lai, đặc biệt là đối với

Thứ hai, phản ánh khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế của một quốc gia.
Thứ ba, phản ánh tình trạng của cán cân tài khoản vãng lai và nợ nước ngoài, do đó ảnh
hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô. Để đánh giá khả năng chịu đựng của cán cân tài khoản
vãng lai thường sử dụng các chỉ số như là chỉ số xuất khẩu/GDP, chỉ số nợ/xuất khẩu, tỉ lệ
tăng trưởng nhập khẩu/ tăng trưởng xuất khẩu, tỉ lệ mức lãi xuất trả nợ trên mức tăng xuât
khẩu. Thông thường các chuyên gia thường sử dụng chỉ số nợ/xuất khẩu để đánh giá tình
trạng của cán cân tài khoản vãng lại
Tác dụng cuối là thể hiện mức tiết kiệm, đầu tư và thu nhập thực tế. Mối quan hệ giữa cán
cân thương mại với tiết kiệm và đầu tư được thể hiện qua công thức :
X – M = (S - I) + (T – G)
III. Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại:
Có 4 yếu tố chính ảnh hưởng đến cán cân thương mại : xuất khẩu, nhập khẩu, tỷ giá hối
đoái và các chính sách của chính phủ.
3.1/ Xuất khẩu : chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốc gia khác vì
xuất khẩu của nước này chính là nhập khẩu của nước khác. Do vậy nó chủ yếu phụ thuộc
vào sản lượng và thu nhập của các quốc gia bạn hàng. Chính vì thế trong các mô hình kinh
tế người ta thường coi xuất khẩu là yếu tố tự định.
3.2/ Nhập khẩu : có xu hướng tăng khi GDP tăng và thậm chí nó còn tăng nhanh hơn. Sự
gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập khẩu biên (Mm). Mm là
phần của GDP có thêm mà người dân muốn chi cho nhập khẩu. Ví dụ, Mm bằng 0,3 nghĩa
4
là cứ 1 đồng GDP có thêm thì người dân có xu hướng dùng 0,3 đồng cho nhập khẩu. Ngoài
ra, nhập khẩu phụ thuộc giá cả tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa
sản xuất tại nước ngoài. Nếu giá cả trong nước tăng tương đối so với giá thị trường quốc tế
thì nhập khẩu sẽ tăng lên và ngược lại. Ví dụ: nếu giá xe đạp sản xuất tại Việt Nam tăng
tương đối so với giá xe đạp Nhật Bản thì người dân có xu hướng tiêu thụ nhiều xe đạp
Nhật Bản hơn dẫn đến nhập khẩu mặt hàng này cũng tăng.
3.3/ Tỷ giá hối đoái : là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh hưởng đến
giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị trường quốc tế. Khi
tỷ giá của đồng tiền của một quốc gia tăng lên thì giá cả của hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên

CCTM thâm hụt kéo dài nhiều năm, đồng nghĩa với việc phải cắt bớt nhập khẩu như là một
phần của những biện pháp tài chính và tiền tệ khắc khổ. Kết quả là làm giảm tăng trường
kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, gia tăng tình trạng thất nghiệp.
Tuy nhiên, tình trạng của CCTM thặng dư hay thâm hụt trong ngắn hạn chưa nói lên được
trạng thái thực của nền kinh tế, vấn đề là ở chỗ thâm hụt cán cân thương mại ở mức có thể
đảm bảo sức chịu đựng cùa CCTKVL và nợ nước ngoài.
6
CHƯƠNG II: CÁN CÂN THƯƠNG MẠI QUA CÁC GIAI ĐOẠN
I. Tổng quan về tình hình CCTM từ 1990 – 2008:
Từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, với những tác động tích cực từ chính
sách đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước theo hướng thị trường, mở cửa và hội nhập
kinh tế, năng lực sản xuất của nền kinh tế đã được giải phóng, lực lượng sản xuất trong
nước phát triển mạnh mẽ. Cơ cấu sản xuất chuyển dịch theo hướng tích cực, dần dần từ sản
xuất nhằm thay thế hàng nhập khẩu sang sản xuất nhằm mục đích xuất khẩu. Sản xuất
hàng xuất khẩu đã có sự chuyển biến tích cực theo hướng tăng các mặt hàng chế biến,
giảm tỷ trọng các sản phẩm thô, đa dạng hóa chủng loại sản phẩm hàng hóa. Hàng hóa
nhập khẩu chủ yếu là tư liệu sản xuất phục vụ sản xuất trong nước và xuất khẩu. Thị
trường xuất - nhập khẩu cũng tăng trưởng nhanh theo hướng đa dạng hóa và chuyển dần từ
giao dịch gián tiếp thông qua các thị trường xuất - nhập khẩu trung chuyển như Singapore
sang giao dịch trực tiếp tại các thị trường Mỹ, châu Âu và Nhật Bản. Việt Nam cũng trở
thành nước xuất khẩu lớn nhất, nhì thế giới về các mặt hàng như gạo, tiêu, điều, cà phê,...
Việt Nam đã từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu với việc gia
nhập ASEAN (năm 1995), ASEM (năm 1996), APEC (năm 1998) và đặc biệt là WTO
(năm 2006). Thị trường xuất - nhập khẩu của Việt Nam được mở rộng nhưng áp lực cạnh
tranh cũng ngày càng lớn. Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu đã từng bước đầu tư
chiều sâu để hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, đáp ứng ngày càng tốt
hơn yêu cầu chất lượng của những thị trường nhập khẩu khó tính nhất như EU, Nhật Bản,
Mỹ. Bên cạnh đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng góp phần quan trọng trong việc nâng
cao trình độ công nghệ và cung cấp vốn cho việc phát triển mở rộng sản xuất, kinh doanh
xuất - nhập khẩu.

1995 13604,3 5448,9 8155,4 -2706,5
1996 18399,4 7255,8 11143,6 -3887,8
1997 20777,3 9185,0 11592,3 -2407,3
1998 20859,9 9360,3 11499,6 -2139,3
1999 23283,5 11541,4 11742,1 -200,7
2000 30119,2 14482,7 15636,5 -1153,8
2001 31247,1 15029,2 16217,9 -1188,7
2002 36451,7 16706,1 19745,6 -3039,5
2003 45405,1 20149,3 25255,8 -5106,5
2004 58453,8 26485,0 31968,8 -5483,8
2005 69208,2 32447,1 36761,1 -4314,0
2006 84717,3 39826,2 44891,1 -5064,9
2007 111326,1 48561,4 62764,7 -14203,3
2008 143398,9 62685,1 80713,8 -18028,7
• Năm 1992
8
Năm 1992 là năm xuất siêu duy nhất của nước ta trong giai đoạn 1990 – 2008.
Nguyên nhân xuất siêu của năm 1992:
- Năm 1992, tổ chức hỗ trợ kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa SEV tan rã, Việt Nam nhanh
chóng xúc tiến quá trình bình thường hóa quan hệ thương mại với khối các nước EU ,
ASEAN và nhiều nước khác trên thế giới, đồng thời tiến hành đàm phán gia nhập diễn đàn
kinh tế các nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
- Hiến pháp mới được ban hành, luật doanh nghiệp hình thành, mở ra một thời kỳ thông
thoáng hơn cho nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn đổi mới.
- Giá trị xuất khẩu gạo và một số nông sản khác như tiêu, điều, cà phê của Việt Nam năm
1992 tăng đột biến, Việt Nam từ nước vô danh trở thành một trong những quốc gia xuất
khẩu gạo hàng đầu thế giới, trong khi xuất khẩu trước đây chỉ chủ yếu trông cậy vào dầu
thô.
- Quá trình bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đang diễn ra hết sức tốt
đẹp, Hoa Kỳ đã nới lỏng hơn chính sách cấm vận đối với Việt Nam và đang cân nhắc

- Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu có chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng
nhóm hàng chế biến, chế tạo, nhóm hàng có hàm lượng công nghệ và chất xám cao như:
thuỷ sản, dệt may, giầy dép, hàng điện tử và linh kiện điện tử, sản phẩm gỗ... ,giảm dần
xuất khẩu hàng thô (mặc dù xét về kim ngạch thì nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản vẫn
tăng cao do được giá).
- Tuy nhiên, qui mô xuất khẩu vẫn còn nhỏ bé, tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng
chưa vững chắc và rất dễ bị tổn thương bởi các biến động bên ngoài như giá cả,các rào cản
thương mại mới của nước ngoài...bởi sự phu thuộc vào nguyên vật liệu nhập khẩu còn lớn.
- Sức cạnh tranh của hàng hoá chưa được cải thiện rõ rệt, cơ cấu mặt hàng còn chưa
hợp lý thể hiện ở chỗ chủng loại đơn điệu, chậm xuất hiện những mặt hàng xuất khẩu mới
có kim ngạch đáng kể; giá trị gia tăng thấp.
- Nhiều doanh nghiệp chưa nắm bắt được những cơ hội để thâm nhập và khai thác
các thị trường xuất khẩu; chưa tận dụng triệt để lợi ích từ việc gia nhập WTO, các hiệp
định thương mại song phương và khu vực đã ký kết giữa Việt Nam và các đối tác nhất là
việc cắt giảm thuế quan để khai thác hết tiềm năng của các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU,
Trung Quốc…
10
- Thị trường xuất khẩu tăng không đều, trong khi thị trường ASEAN, EU, Mỹ tăng
khá cao thì một số thị trường quan trọng khác tăng chậm hoặc giảm như Trung Quốc, Nhật
Bản và Ôxtrâylia.
 Nh p kh u v cán cân th ng m ià   
Tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2007 đạt 60,78 tỷ USD, tăng 35,4% so với năm 2006,
trong đó doanh nghiệp 100% vốn trong nước nhập khẩu 39,27 tỷ USD, chiếm 64,6%, tăng
38,3% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 21,51 tỷ USD, chiếm 35,4%,
tăng 30,5% so với năm 2006.
Những mặt hàng nhập khẩu chủ yếu có trị giá tăng cao so với năm 2006 gồm: ô tô nguyên
chiếc các loại tăng 145,5%; linh kiện ô tô tăng 82,2%; thép thành phẩm tăng 75,6%; phôi
thép tăng 38,9%; phân bón các loại tăng 45,1%; sợi các loại tăng 36,8%; hóa chất nguyên
liệu tăng 39,1%; máy móc, thiết bị, phụ tùng tăng 56,3%; điện tử, máy tính và linh kiện
tăng 43,6%; vải tăng 33,6%....

xu hướng tăng không cao như năm 2007, chúng ta đã đẩy mạnh việc đa dạng hoá thị
trường, nhiều loại hàng hoá đã vào được các thị trường xuất khẩu mới, nhất là thị trường
châu Phi đã tăng đột biến đồng thời giảm dần xuất khẩu qua các thị trường trung gian.
Về nhập khẩu, khi mức nhập khẩu và nhập siêu những tháng đầu năm ở mức cao, Chính
phủ đã chỉ đạo thực hiện nhiều giải pháp quyết liệt kiềm chế nhập siêu, nên mức nhập siêu
đã giảm dần và thực hiện vượt yêu cầu đề ra.
 Xu t kh u  
Kim ngạch cả năm đạt xấp xỉ 63 tỷ USD, tăng trên 29,5% so với năm 2007. Kim ngạch
của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 34,87 tỷ USD, chiếm tỷ trọng
55,4%, tăng 25,5% so với năm 2007; của khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước đạt
28,02 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 44,6%, tăng 34,9%, so với năm 2007.
Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu giữ được ở mức cao do trong những tháng đầu
năm dầu thô, than đá và nhiều mặt hàng nông sản gặp thuận lợi về giá và thị trường xuất
khẩu. Những mặt hàng có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao như gạo, nhân điều, khoáng
sản.
12
Ngoài 10 mặt hàng có kim ngạch trên 1 tỷ USD đã thực hiện được từ năm 2007 (chủ yếu
thuộc nhóm hàng công nghiệp chế biến, nông sản) là thủy sản, gạo, cà phê, cao su, dầu thô,
dệt may, giầy dép, điện tử và linh kiện máy tính, sản phẩm gỗ và nhóm sản phẩm cơ khí,
trong năm nay xuất hiện thêm 1 mặt hàng có khả năng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD là dây
điện và cáp điện.
Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực có khối lượng giảm nhưng do giá thế giới tăng mạnh
nên về mặt trị giá tăng khá so với năm 2007 như: Dầu thô tăng 23,1% nhưng lượng giảm
7,7%, than đá tăng 44,3% nhưng lượng giảm 38,3%, cà phê tăng 5,8% nhưng lượng giảm
18,3%, cao su tăng 14,6% nhưng lượng giảm 9,8%, chè tăng 12,2% nhưng lượng giảm
8,8%.
Sản phẩm tàu thuyền, sản phẩm từ gang thép, sản phẩm từ cao su có mức tăng trưởng cao
so với năm 2007, là những mặt hàng có triển vọng tăng mạnh trong những năm tới.
Cơ cấu thị trường hàng hoá có sự chuyển dịch, thị trường Châu Á chiếm 44,5% (năm 2007
là 41,9%), Châu Âu chiếm 18,3% (năm 2007 là 18,7%), Châu Mỹ 20,6% (năm 2007 là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status