BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
..........***.........
BỘ Y TẾ
HOÀNG THỊ PHƯƠNG NAM
MÔ TẢ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN
HỘI CHỨNG SẢNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA 2
HÀ NỘI - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
..........***.........
HOÀNG THỊ PHƯƠNG NAM
MÔ TẢ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN
HỘI CHỨNG SẢNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI
Chuyên ngành: Lão khoa
Mã số:
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn........................................................................32
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ..........................................................................32
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu.........................................................32
2.3. Mẫu và cách chọn mẫu nghiên cứu.......................................................32
2.4. Thiết kế và quy trình nghiên cứu..........................................................32
2.4.1. Thiết kế nghiên cứu.........................................................................32
2.4.2. Quy trình nghiên cứu......................................................................33
2.5. Các biến số và chỉ số.............................................................................33
2.5.1. Biến số chung về đối tượng nghiên cứu..........................................33
2.5.2. Biến số, chỉ số theo mục tiêu 1.......................................................35
2.5.3. Biến số, chỉ số theo mục tiêu 2.......................................................38
2.6. Công cụ sử dụng trong nghiên cứu.......................................................40
2.6.1. ICD 10 dành cho nghiên cứu..........................................................40
2.6.2. Thang CAM....................................................................................40
2.6.3. Thang Đánh giá sảng.......................................................................41
2.7. Quản lý và phân tích số liệu, sai số và biện pháp khắc phục................42
2.7.1. Thu thập, làm sạch, mã hóa và nhập liệu số liệu.............................42
2.7.2. Phân tích số liệu..............................................................................42
2.7.3. Sai số và biện pháp khắc phục........................................................43
2.8. Đạo đức trong nghiên cứu....................................................................44
Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU......................................45
3.1. Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu.................................................45
3.2. Đặc điểm sảng ở đối tượng nghiên cứu.................................................48
3.2.1. Tỷ lệ sảng ở đối tượng nghiên cứu..................................................48
3.2.2. Đặc điểm lâm sàng sảng ở đối tượng nghiên cứu...........................49
3.3. Các yếu tố liên quan đến sảng ở người cao tuổi...................................53
3.3.1. Liên quan giữa nhóm tuổi, giới tính, BMI và sảng.........................53
3.3.2. Mối liên quan giữa sảng và mức độ hoạt động, các nhóm bệnh lý.54
Bảng 3.3.
Phân bố tình trạng hôn nhân của bệnh nhân ..............................46
Bảng 3.4.
Phân bố nghề nghiệp của bệnh nhân .........................................47
Bảng 3.5.
Phân bố môi trường sống của bệnh nhân ..................................47
Bảng 3.6.
Tỷ lệ sảng ở đối tượng nghiên cứu.............................................48
Bảng 3.7.
Phân loại sảng ở đối tượng nghiên cứu......................................49
Bảng 3.8.
Thời gian sảng của đối tượng nghiên cứu..................................49
Bảng 3.9.
Đặc điểm triệu chứng khởi phát của sảng .................................50
Bảng 3.10. Đặc điểm triệu chứng chú ý trong sảng......................................50
Bảng 3.11. Đặc điểm giảm trí nhớ trong sảng..............................................51
Biểu đồ 3.1. Phân bố bệnh nhân theo giới tính ..............................................45
Biểu đồ 3.2. Phân bố sảng ở đối tượng nghiên cứu ........................................48
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sảng là một hội chứng lâm sàng đặc trưng bởi sự suy giảm cấp tính về
ý thức và nhận thức. Các năng lực định hướng về không gian, thời gian và
môi trường xung quanh bị sai lệch. Tình trạng này thường xuất hiện trong thời
gian ngắn từ vài giờ đến vài ngày. Một số trường tình trạng hợp sảng có thể
kéo dài dai dẳng vài tuần đến vài tháng. Thống kê cho thấy tỷ lệ sảng trong
cộng đồng thấp, chỉ khoảng 1 - 2% [1, 2]. Tỉ lệ sảng tăng lên theo tuổi và
thường phổ biến ở những người trên 65 tuổi. Deepti Kukreja và cộng sự
(2015) ước tính 11 – 42% người bệnh cao tuổi mắc hội chứng sảng ở nội khoa
[3]. Fong (2009) cũng nhận thấy người bệnh cao tuổi nhập viện vì sảng chiếm
tỉ lệ cao khoảng 14 - 56% trong tổng số bệnh nhân cao tuổi nhập viện và ít
nhất 20% trong số 12,5 triệu người bệnh trên 65 tuổi nhập viện mỗi năm ở
Mỹ trong tình trạng sảng [1].
Hội chứng sảng nếu không phát hiện sớm và có chiến lược điều trị phù
hợp thì có thể tiến triển nặng lên và người bệnh sẽ có nguy cơ tử vong. Dan K.
Kiely và cộng sự (2009) theo dõi các trường hợp có sảng trong 1 năm cho biết
tỉ lệ tử vong tăng dần theo thời gian: 3,6% chết trong khoảng từ 2 đến 4 tuần,
11,2% chết trong khoảng từ 4 tuần đến 12 tuần, 12,9% chết trong khoảng từ 12
tuần đến 26 tuần và 11,6% chết trong khoảng từ 26 tuần đến 52 tuần [4].
Mặc dù chưa xác định chính xác có mối liên quan giữa thời gian và tỉ lệ
tử vong hay không nhưng từ kết quả trên có thể thấy việc phát hiện sớm hội
chứng sảng có thể làm giảm thiểu tỉ lệ tử vong. Tuy nhiên, phát hiện sớm hội
điều trị tại khoa cấp cứu bệnh viện Lão khoa Trung Ương.
2. Nhận xét 1 số yếu tố liên quan của hội chứng sảng ở người cao tuổi
điều trị tại khoa cấp cứu bệnh viện Lão khoa Trung Ương.
3
4
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Lịch sử hình thành khái niệm sảng
Trải qua 3000 năm nghiên cứu về sảng nhưng để đưa ra một khái niệm
chính xác về sảng thì vẫn rất khó khăn [7]. Thuật ngữ “Delirium” (sảng) bắt
nguồn từ tiếng Latin là “Deliro” hoặc “Delirare”. Thuật ngữ “Delirium” lần
đầu tiên được Aulus Cornelius Celsus sử dụng trong y học vào thế kỷ thứ nhất
sau công nguyên.
Thời kỳ cổ đại, theo Hippocrates và Celsus, sảng có thể là một triệu
chứng cũng có thể là một hội chứng. Hippocrates cho rằng sảng là những hiện
tượng bất thường về tâm thần do bị sốt, bị ngộ độc hoặc bị chấn thương đầu
gây ra [8, 9]. Hippocrates sử dụng 16 thuật ngữ để ám chỉ cho hội chứng lâm
sàng mà ngày nay gọi là sảng như là ληρος (leros), μανια (mania),
παραφροσυνη (paraphrosyne), παραληρος (paraleros), φρενιτις (phrenitis),
ληθαργος (lethargus)… Rất khó để tìm ra ý nghĩa chính xác của các thuật ngữ
này. Ví dụ: παραφροσυνη (paraphrosyne) có thể được sử dụng để mô tả một
sự điên rồ nhưng cũng được sử dụng để mô tả cho sự suy giảm hoặc mất ý
thức. Celsus cũng cho rằng sảng là những hiện tượng bất thường về tâm thần
và nguyên nhân là do bị sốt, ngộ độc hoặc chấn thương đầu. Nhưng ông còn
của ý thức” và nó trở thành tiêu chí lâm sàng đầu tiên để tách biệt sảng với
phần còn lại của “sự điên rồ”. Thời kỳ này, thay vì bệnh học và tiên lượng thì
triệu chứng lâm sàng trở thành trọng tâm của khái niệm sảng. “Sự che mờ của
ý thức” là một đặc điểm cốt lõi của sảng. Từ thế kỷ 19 cho đến nay, các nhà
khoa học cố gắng làm rõ khái niệm và phân tách sảng với các rối loạn tâm thần
khác. Tóm lại, sảng có thể là một triệu chứng, có thể là một hội chứng lâm sàng
và khái niệm có thể theo theo triệu chứng, nguyên nhân, tiến triển, tiên lượng
hoặc mối liên hệ của sảng với bệnh lý thực thể. Mặc dù chưa thể xác định được
chính xác nhưng có môt sự đồng thuận lớn của các nhà khoa học về khái niệm
6
sảng trong 2 hệ thống chẩn đoán là DSM (Cẩm nang chẩn đoán và thống kê
tâm thần Rối loạn) của hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ và ICD (Phân loại quốc tế về
bệnh tật) [9].
2.2. Dịch tễ học sảng
1.2.1. Tuổi
Sảng có thể gặp ở mọi độ tuổi. Tuy nhiên tỉ lệ sảng tăng dần theo tuổi
và gặp nhiều nhất ở những người lớn tuổi. Năm 1981, Marshal Folstein và
cộng sự tiến hành một khảo sát Sức khỏe Tâm thần trên 3841 hộ gia đình tại
phía đông Baltimore. Kết quả cho thấy tỉ lệ sảng từ 18 tuổi trở lên khoảng
0,4%, tỉ lệ sảng từ 55 tuổi trở lên khoảng 1,08% và tỉ lệ sảng ở những người
từ 85 tuổi trở lên chiếm tỉ lệ cao nhất khoảng 13,6%, tuổi trung bình của
nghiên cứu xấp xỉ 70,5 tuổi [11, 12]. Nghiên cứu của Melissa Andrew trong
năm 1991 trên 10000 người ở Canada cho biết mọi độ tuổi có thể mắc sảng
với tỉ lệ
nhập viện thì có tới 15,6% trường hợp nhập viện vì sảng [15]. Tamara Fong
(2009) cho biết tỉ lệ người bệnh nhập viện vì sảng từ 14 % đến 24% và tỉ lệ
sảng xuất hiện trong thời kỳ nằm viện từ 6% đến 56% [1]. Sharon Inouye
(2014) cũng đồng quan điểm với Tamara Fong khi nhận thấy người bệnh nhập
viên vì sảng vào khoảng 18 – 35% [16]. Theo ghi nhận của Ủy ban thống kê
Hoa Kỳ ít nhất 20% trong số 12,5 triệu bệnh nhân trên 65 tuổi nhập viện mỗi
năm ở Mỹ có tình trạng sảng [1].
Tại khoa cấp cứu, sảng xảy ra thường xuyên ở những người cao tuổi.
Nghiên cứu của Fredric M. Hustey và cộng sự (2003) tại khoa cấp cứu trong
17 tháng trên 327 người cao tuổi nhận thấy 4 – 11% có sảng [17]. Ritsuko
Kakuma (2003) nghiên cứu tại khoa cấp cứu của 2 bệnh viện ở Montreal cho
8
biết tỉ lệ sảng khoảng 11,8% [18]. Theo Sharon Inouye (2014), sảng xuất hiện
ở 8 -17% trong tổng số những người cao tuổi được đưa đến khám và điều trị
tại khoa cấp cứu [16]. Theo hệ thống Chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm
thần – DSM, tỉ lệ xuất hiện sảng ước tính khoảng 10% - 30% ở những người
cao tuổi đến khoa cấp cứu.
Tại khoa hồi sức tích cực, sảng xuất hiện cao và đặc biệt với những
người cao tuổi. Nghiên cứu của Margaret Pisani và cộng sự (2003) trên 165
người nhập vào khoa hồi sức tích cực trong vòng 48 giờ cho biết tỉ lệ sảng
xuất hiện nhiều ở những người trên 65 tuổi và dao động từ 50 – 80% [19].
Theo Colin Harrington thì hơn 80% người bệnh thở máy tại khoa hồi sức tích
cực có tình trạng sảng [20]. Nghiên cứu của Timothy Girard và cộng sự
(2010) nhận thấy, trong tổng số 126 người bệnh thở máy tại khoa hồi sức tích
cực thì có tới 84% người bệnh có biểu hiện sảng [21]. Tamara Fong cho tỉ lệ
sảng ở khoa hồi sức cấp cứu cao hơn với 70 – 87% [1].
Ngoài ra, theo Giuseppe Bellelli thống kê trên 1867 người cao tuổi ở
gia hàng năm là 143-152 tỷ đô la mỗi năm tại Hoa Kỳ [23]. Các chi phí này
chủ yếu liên quan đến việc thời gian nằm viện kéo dài, chi phí cao hơn trong
quá trình nhập viện (ví dụ, thời gian ở ICU) và nhu cầu vào viện dưỡng lão
hoặc nhu cầu cần chăm sóc sức khỏe tại nhà cao hơn.
1.3. Đặc điểm lâm sàng sảng
Xác định chính xác sảng rất quan trọng qua đó giúp chẩn đoán đúng và
điều trị có hiệu quả. Tuy nhiên, xác định chính xác sảng là một công việc rất
khó. Một phân tích dữ liệu thu thập được từ hơn 450 người bệnh trên 65 tuổi
điều trị gãy cổ xương đùi cho thấy cả bác sĩ và y tá tham gia chăm sóc đều
không nhận ra người bệnh có sảng. Các bác sĩ ít khi sử dụng công cụ để chẩn
đoán sảng. Theo Dennis Popeo (2011), hiện nay có hai công cụ có độ tin cậy
cao được sử dụng để chẩn đoán sảng là “hệ thống chẩn đoán và thống kê các
rối loạn tâm thần” (DSM) của hiệp hội Tâm thần học Mỹ và “phân loại quốc
tế về bệnh tật” (ICD).
10
1.3.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán sảng
Tiêu chuẩn chẩn đoán theo DSM 5
A. Rối loạn chú ý (tức là giảm khả năng điều khiển, tập trung, duy trì
và di chuyển sự chú ý) và rối loạn nhận thức (giảm khả năng định hướng với
môi trường)
B. Rối loạn tiến triển trong một khoảng thời gian ngắn (thường là vài
giờ đến vài ngày), biểu hiện sự thay đổi trong chú ý và nhận thức và có thể
tiến triển nặng lên trong ngày.
C. Có thêm sự rối loạn nhận thức (ví dụ: suy giảm trí nhớ, mất định
hướng, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn thị giác hoặc tri giác)
D. Các rối loạn trong tiêu chí A và C không phải là rối loạn thần kinh
đã tồn tại, được hình thành hoặc tiến triển từ trước và các rối loạn này không
E. Các triệu chứng có khởi phát nhanh và biểu hiện dao động trong ngày
F. Có bằng chứng khách quan từ bệnh sử, khám cơ thể và thần kinh
hoặc xét nghiệm, của một bệnh não hoặc bệnh hệ thống tiềm ẩn (không phải
bệnh liên quan đến chất tác động tâm thần) có thể được thừa nhận là nguyên
nhân của các biểu hiện lâm sàng trong các tiêu chuẩn từ A đến D.
Các rối loạn cảm xúc như trầm cảm, lo âu hoặc lo sợ, khó chịu bứt rứt,
khoái cảm, vô cảm hoặc cực kỳ bối rối, rối loạn tri giác (ảo tưởng, ảo giác,
thường là thị giác) và các hoang tưởng nhất thời là điển hình nhưng không
đặc hiệu đối với chẩn đoán này.
Trong trường hợp liên quan đến rượu mà có biểu hiện sảng và có run sẽ
chẩn đoán sảng run. Sảng run thường khởi đầu sau khi cai rượu hoặc xuất
hiện trong một giai đoạn uống nhiều rượu. Các dấu hiệu tiền triệu điển hình
bao gồm mất ngủ, run và sợ hãi. Cũng có thể co giật do cai xuất hiện trước
khi khởi phát. Tam chứng kinh điển bao gồm ý thức mù mờ và lú lẫn, các ảo
tưởng và ảo giác sinh động ở bất kỳ giác quan nào và triệu chứng run nặng.
Cũng thường có hoang tưởng, kích động, mất ngủ hoặc đảo lộn nhịp thức ngủ
và hoạt động thần kinh tự trị tăng mạnh [27].
12
Hiện nay, “hệ thống chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần” của
hiệp hội Tâm thần học Mỹ (DSM) và “phân loại quốc tế về bệnh tật” (ICD)
được sử dụng rộng rãi trên thế giới để làm tiêu chuẩn cho chẩn đoán sảng. Hai
tiêu chuẩn chẩn đoán sảng này có độ tin cậy cao. Ở Việt Nam, từ năm 1992,
Bộ Y tế cho phép sử dụng “Bảng phân loại thống kê về bệnh tật và các vấn đề
sức khỏe có liên quan” phiên bản thứ 10 (gọi tắt là ICD - 10) nhằm hướng dẫn
và chỉ đạo chẩn đoán các vấn đề về bệnh tật. Trong nghiên cứu này, chúng tôi
chỉ sử dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán trong ICD -10 dành cho nghiên cứu để
chẩn đoán các trường hợp có sảng.
tồn và cho hiện tại những kinh nghiệm và tri thức cũ dưới dạng biểu tượng, ý
niệm và ý tưởng. Quá trình ghi nhận là quá trình hưng phấn ở những hệ thống
cấu trúc cơ động của bộ não trước những kích thích của thực tại. Càng chú ý
và càng thích thú với kích thích bao nhiêu thì quá trình ghi nhận càng chắc
chắn, rõ ràng bấy nhiêu. Quá trình bảo tồn là quá trình hình thành những
đường liên hệ tạm thời duy trì dấu vết của những kích thích đã tác động vào
vỏ não. Kích thích càng mạnh, càng được lặp lại thì quá trình bảo tồn càng
bền vững. Quá trình nhớ lại quá trình hồi phục những đường liên hệ tạm thời
đã được bảo tồn trong những hệ thống cấu trúc cơ động của bộ não. Nhớ lại
tốt chứng tỏ quá trình bảo tồn tốt. Thường nhớ lại xuất hiện dưới 2 hình thức.
Nhận lại là thông qua các giác quan nhận được những đối tượng kích thích
trước kia (vd: nhận lại bạn cũ xa nhau đã nhiều năm). Hiện lại là kinh nghiệm
và tri thức cũ, không cần thông qua tri giác đối tượng kích thích trước kia, vẫn
có thể hiện ra trong đầu óc dưới dạng biểu tượng hay ý niệm (hiện tại khuôn
mặt của bà mẹ đã mất). Trí nhớ tức thì khả năng ghi nhớ và tái hiện lại được
các sự vật, hiện tượng trong thời gian 30 giây như nhớ số điện thoại, nhớ
khuôn mặt vừa gặp. Trí nhớ gần là khả năng ghi nhớ và tái hiện lại được các
sự vật, hiện tượng trong vài giờ hoặc vài ngày. Trí nhớ xa là khả năng ghi nhớ
và tái hiện lại được các sự vật, hiện tượng từ nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều
năm [28]. Trong sảng, trí nhớ tức thì và trí nhớ gần rối loạn. Tuy nhiên, trí
14
nhớ xa vẫn còn tốt. Sau sảng, về cảnh sảng và cảnh thực, bệnh nhân nhớ rời
rạc, từng mảng, không đều [27].
Chú ý là năng lực tập trung các quá trình vào một hay một số đối tượng
hoặc hiện tượng nhất định để đối tượng hoặc hiện tượng ấy được phản ánh rõ
nét nhất và toàn vẹn nhất trong ý thức. Đây là quá trình hưng phấn ở những hệ
thống cấu trúc cơ động của bộ não tương ứng với kích thích bên ngoài hoặc
thái kích động mang nhiều hình thái khác nhau, thường có nhưng trang thái
sau đây kế tiếp nhau: lúc đầu kích động tính chất bàng hoàng, kịch tính rồi
chuyển sang kích động si dại, lố bịch rồi đến kích động kiểu sung động, cuối
cùng là kích động im lặng. Bất động căng trương lực thường bắt đầu bằng
trạng thái bản bất động như ngày càng ít nói, luôn ngồi ở một tư thế, chán ăn.
Rồi đến hiện tượng giữ nguyên dáng như đặt tay chân, đầu ở tư thế nào thì giữ
nguyên tư thế ấy trong một thời gian tương đối dài. Rồi đến bất động hoàn
toàn. Dấu hiệu bất động hoàn toàn thường bắt đầu bằng triệu chứng gối không
khí (nâng đầu bệnh nhân lên khỏi giường, bệnh nhân giữ tư thế ấy như gối
không khí). Tất cả các cơ đều căng thẳng, nằm im như khúc gỗ. Trong trạng
thái bất động có thể có động tác định hình: nhại lời, nhại cử chỉ, nhại nét mặt
như trong kích động căng trương lực. Ngoài ra, các triệu chứng tâm thần vận
động còn có đặc điểm tăng thời gian phản ứng và tăng phản ứng giật mình.
Ngôn ngữ là hình thức của tư duy. Trong sảng, dòng ngôn ngữ có thể tăng
hoặc có thể giảm. Tác phong của bệnh nhân trong sảng phần lớn bị ảo tưởng,
ảo giác chi phối nên thường mang tính kích động nguy hiểm (tự vệ hay tấn
công). Tác phong phản ứng tương xứng với nội dung ảo giác [27].
1.3.2.3. Đặc điểm rối loạn giấc ngủ hoặc chu kỳ thức ngủ
Ngủ là một hoạt động bình thường có chu kỳ trong đó cảm giác và vận
động tạm thời dừng lại một cách tương đối, gần như hầu hết các cơ bắp và cơ
thể bất động. Giai đoạn khởi đầu của giấc ngủ là thời gian đi vào giấc ngủ
được biết đến như ngưỡng ngủ xuất hiện trong vài giây. Giai đoạn này được
16
đặc trưng bởi nhịp alpha đều đặn và ổn định. Dần dần sau đó, độ căng cơ
giảm, các chức năng giảm. Sau đó là giai đoạn NREM (Non Rapid Eye
Movement) gồm 4 giai đoạn, giai đoạn sau sâu hơn giai đoạn trước. Hầu hết
những chức năng sinh lý đáng kể đều thấp hơn so với lúc thức. Giai đoạn 1, từ
Mỗi chu kỳ kéo dài trung bình khoảng 90 phút và dao động trong khoảng 70 –
110 phút. Ở người trưởng thành sự phân bố các giai đoạn giấc ngủ như sau:
NREM (75%) với 5% giai đoạn 1, 45% giai đoạn 2, 12% giai đoạn 3, 13%
giai đoạn 4 và REM (25%) [29]. Trong sảng, thường có biểu hiện mất ngủ.
Những trường hợp nặng có thể mất ngủ hoàn toàn. Một số trường hợp có thể
ngủ gật ban ngày hoặc không, một số trường hợp khác có thể đảo ngược chu
kỳ thức ngủ. Các triệu chứng thường nặng lên vào ban đêm [27].
1.3.2.4. Đặc điểm các triệu chứng khác
Các triệu chứng khác bao các rối loạn cảm xúc như trầm cảm, lo âu
hoặc lo sợ, khó chịu bứt rứt, khoái cảm, vô cảm hoặc cực kỳ bối rối, rối loạn
tri giác (ảo tưởng, ảo giác) và rối loạn tư duy (hoang tưởng).
Cảm xúc biểu hiện thái độ con ngưòi đối với thực tế chung quanh và
đối với bản thân. Cảm xúc không thể tách ra khỏi các quá trình hoạt động tâm
thần khác như: tri giác, tư duy, nhận thức…Trầm cảm, lo âu hoặc lo sợ, khó
chịu bứt rứt, khoái cảm, vô cảm hoặc cực kỳ bối rối là những rối loạn cảm
xúc. Trầm cảm đặc trưng bởi khí sắc giảm tức là khí sắc buồn rầu ủ rủ. Biểu
hiện quá trình ức chế toàn bộ tâm thần bao gồm 3 thành phần chủ yếu. Cảm
xúc ức chế biểu hiện bằng khí sắc hạ thấp, buồn rầu, ủ rũ, mất thích thú cũ,
nhìn xung quanh thấy ảm đạm, bi quan về tiền đồ. Tư duy ức chế biểu hiện
bằng suy nghĩ chậm chạp, quá trình liên tưởng khó khăn, ý tưởng nghèo nàn,
tự cho mình là hèn kém, mất tin tưởng vào bản thân. Hoạt động bị ức chế biểu
hiện bằng ít hoạt động, ít nói ăn uống kém, thường nằm hay ngồi lâu trong
một tư thế, trầm ngâm suy nghĩ. Trường hợp nặng có thể có hiện tượng bất
động. Khoái cảm là hiện tượng khí sắc tăng không thích ứng với hoàn cảnh,
18
xuất hiện hoạt động nhiều, liên tưởng nhanh. Vô cảm là hoàn toàn mất mọi
phản ứng cảm xúc đối với mọi kích thích. Trong sảng, các triệu chứng về cảm