ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHỤC hồi CHỨC NĂNG THĂNG BẰNG TRÊN NGƯỜI BỆNH TAI BIẾN MẠCH máu não tại BỆNH VIỆN lão KHOA TRUNG ƯƠNG - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
---------***---------

ĐỖ THỊ HƯƠNG MINH

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
THĂNG BẰNG TRÊN NGƯỜI BỆNH TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
TẠI BỆNH VIỆN LÃO KHOA TRUNG ƯƠNG

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

HÀ NỘI – 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
---------***---------

ĐỖ THỊ HƯƠNG MINH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
THĂNG BẰNG TRÊN NGƯỜI BỆNH TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
TẠI BỆNH VIỆN LÃO KHOA TRUNG ƯƠNG
Chuyên ngành: Phục hồi chức năng
Mã số:

bệnh nhân TBMMN............................................................................19
1.6.1. Thế giới.........................................................................................19
1.6.2. Trong nước......................................................................................20
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.........21


2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu.........................................................21
2.2. Đối tượng nghiên cứu............................................................................21
2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn........................................................................21
2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ..........................................................................21
2.3. Phuong pháp nghiên cứu.......................................................................22
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu.........................................................................22
2.3.2. Cỡ mẫu............................................................................................22
2.3.3. Các biến số, chỉ số nghiên cứu........................................................22
2.3.3. Công cụ thu thập.............................................................................30
2.3.4. Quy trình nghiên cứu......................................................................30
2.3.5. Nội dung tập phục hồi chức năng...................................................31
2.3.6. Xử lí số liệu.....................................................................................37
2.4. Đạo đức nghiên cứu..............................................................................37
2.5. Sai số trong nghiên cứu.........................................................................38
2.5.1. Những sai só có thể gặp trong nghiên cứu......................................38
2.5.2. Phương pháp khống chế sai số........................................................38
Chương 3 DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.......................................39
3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu............................................................39
3.1.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu.....................................39
3.1.2. Đặc điểm về lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân TBMMN......40
3.2. Đánh giá hiệu quả PHCN thăng bằng cho người bệnh trước và sau khi
tập luyện..............................................................................................41
3.2.1. Thông số lượng giá thực thể thông qua các thang điểm.................41
3.3. Phân tích các yếu tố liên quan đến hiệu quả phục hồi chức năng thăng


Bảng 3.4:

Đặc điểm về triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng của đối
tượng nghiên cứu.....................................................................40

Bảng 3.5.

Đặc điểm bệnh phối hợp của đối tượng nghiên cứu............40

Bảng 3.7.

Đặc điểm bệnh phối hợp của đối tượng nghiên cứu...........41

Bảng 3.8.

Nguy cơ té ngã theo thang điểm BBS tại thời điểm vào viện
...................................................................................................41

Bảng 3.9.

Nguy cơ té ngã theo thang điểm BBS tại thời điểm sau 2
tuần tập PHCN........................................................................42

Bảng 3.10.

Nguy cơ té ngã theo thang điểm BBS tại thời điểm sau 4
tuần tập PHCN........................................................................42

Bảng 3.11.

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch máu não (TBMMN) là một trong những bệnh nặng
thường gặp ở người cao tuổi. Từ nhiều thập kỷ trước đến nay, TBMMN đã và
đang là vấn đề thời sự cấp thiết của y học nói chung, của ngành phục hồi
chức năng (PHCN) nói riêng đối với mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới.
TBMMN là bệnh lý do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, người bệnh có
thể tử vong nhanh chóng hoặc nếu sống sót sẽ để lại nhiều di chứng nặng nề .
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới 1996 (TCYTTG), tỷ lệ TBMMN mới
phát hiện trong một năm từ 100 – 250/100.000 dân và tỷ lệ hiện mắc là từ 500
– 700/100.000 dân [1], [2]. Theo Hiệp hội Tim mạch Thế giới ( World Heart
Federation), mỗi năm 15 triệu người trên toàn thế giới bị TBMMN, gần sáu
triệu người chết, và năm triệu người khác sống cùng với tàn tật vĩnh viễn.
TBMMN là nguyên nhân thứ hai gây tử vong và là nguyên nhân hàng đầu gây
ra khuyết tật trên toàn thế giới [3]. Một bài tổng quan hệ thống và phân tích
tổng hợp về các nghiên cứu tỉ lệ mắc TBMMN trên 56 quần thể dân số cho
thấy trong khi ở các nước phát triển, tỉ lệ TBMMN giảm đi 42% trong 4 thập
kỷ trước đó (1970-2008) thì tỉ lệ ở các nước đang phát triển tăng vượt quá
100% so với ban đầu và gần đây còn vượt quá tỉ lệ của các nước phát triển
20% [4]. Tại Việt Nam, tỉ lệ TBMMN có sự gia tăng đáng kể so với các năm
trước và đang ở mức khá cao, với tỉ lệ hiện mắc chung là 1,62 % [5]. Những
thiếu sót về vận động và nhận thức không những làm mất sức lao động mà
còn khiến người bệnh trở thành gánh nặng về kinh tế cho gia đình và xã hội
nếu không được điều trị kịp hợp lí. Theo quỹ đột quỵ quốc tế Úc, ước tính
tổng chi phí tài chính chi cho TBMMN ở Úc là 5 tỷ đô la mỗi năm, ở Pháp là
3% tổng chi phí y tế cho cả nước [6]. Ngoài gây ra tử vong, TBMMN còn để
lại gánh nặng lớn cho những người sống sót vì các di chứng sau giai đoạn cấp


2


TỔNG QUAN
1.1.Tai biến mạch máu não
1.1.1. Định nghĩa
TBMMN được định nghĩa bởi Tổ chức Y Tế Thế giới là sự xảy ra đột
ngột các thiếu sót chức năng thần kinh, khu trú hoặc lan tỏa, tồn tại quá 24 giờ
hoặc gây tử vong trong 24 giờ, không do nguyên nhân khác ngoài nguyên
nhân mạch máu [13].
1.1.2. Phân loại
TBMMN chia làm 2 thể chính là nhồi máu não và xuất huyết não, trong
đó NMN chiếm 80% [14]
1.1.2.1. Nhồi máu não:
Là quá trình bệnh lý, trong đó động mạch não bị hẹp hoặc bị tắc,lưu
lượng tuần hoàn tại vùng não do động mạch đó phân bố giảm trầm trọng gây
hoại tử, rối loạn chức năng, biểu hiện các hội chứng và triệu chứng thần kinh
khu trú phù hợp với vùng não bị tổn thương [15].
1.1.2.2. Chảy máu não:
Là máu từ hệ thống động mạch, tĩnh mạch não chảy vào tổ chức não, ít
nhiều đều tạo thành ổ máu tụ trong não gây ra các triệu chứng thần kinh tương
ứng [15]
1.1.3. Biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng
1.1.3.1.Triệu chứng lâm sàng [16]
 Nhồi máu não
-

Khởi phát: Các triệu chứng xuất hiện đột ngột từ vài phút, vài giờ, tối

đa có thể vài ngày. Các triệu chứng tăng dần đến 3-4 ngày rồi giảm dần.
-

Triệu chứng thần kinh khu trú: Tùy vào vùng não bị tổn thương có thể

Cơn động kinh: cục bộ hoặc toàn thể ( chiếm 10-20%) các trường hợp

-

Hội chứng màng não: nếu có xuất huyết màng não

-

Hội chứng tăng áp lực nội sọ: nếu ổ xuất huyết lớn

1.1.3.2. Cận lâm sàng [16]
Dựa vào triệu chứng lâm sàng thường khó phân biệt được xuất huyết não
hay nhồi máu não, để chẩn đoán xác định cần chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp
cộng hưởng từ sọ não
-

Trên phim CT:

Tổn thương NMN thể hiện bằng hình ảnh giảm tỷ trọng ở nhu mô não
thuộc khu vực của động mạch bị tổn thương chi phối.
Ngoài ra có thể thấy hình ảnh phù não ( mất các rãnh vỏ não, hiệu ứng
đè đẩy). Chụp CT còn cho phép loại trừ các nguyên nhân không do tổn
thương mạch máu như u não, máu tụ mạn tính dưới màng cứng.
-

Trên phim MRI:

Độ nhạy cao hơn chụp CT scanner sọ não. Thấy hình ảnh NMN là hình
ảnh giảm tín hiệu T1, tăng tín hiệu T2. Hình ảnh XHN là tăng tín hiệu T1,
giảm tín hiệu T2.

đối với TBMMN. XHN liên quan nhiều đến huyết áp tâm trương hơn là
tâm thu, trong khi NMN xuất hiện thường liên quan nhiều hơn đến huyết
áp tâm thu [19]


6

Lê Chuyển và cộng sự nhận thấy THA là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây
TBMMN với tỉ lệ 79,17% tại khoa Nội bệnh viện Trường Đại học Y dược
Huế [20]
1.3.4. Nguyên nhân TBMMN [15]
1.3.4.1. Nguyên nhân NMN
- Huyết khối động mạch não là quá trình bệnh lý liên tục gây hẹp hoặc
tắc động mạch não xảy ra ngay tại vị trí động mạch bị tổn thương. Các
nguyên nhân bao gồm tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, dị sản xơ cơ, viêm
động mạch và một số nguyên nhân khác.
- Tắc mạch não là quá trình bệnh lý, trong đó cục tắc được phát tán từ
nơi khác di chuyển theo dòng máu tới cư trú tại một vị trí của động mạch não
có đường kính nhỏ hơn đường kính của nó và làm mất tưới máu vùng não do
động mạch đó phân bố
1.3.4.2. Nguyên nhân chảy máu não
- Tăng huyết áp
- Dị dạng mạch: phình động mạch, dị dạng động tĩnh mạch
- Chảy máu não sau nhồi máu não
- Viêm động mạch hoặc tĩnh mạch não
- Dùng thuốc chống đông.
- Các nguyên nhân ít gặp gồm bệnh về máu, chảy máu tiên phát chưa rõ
nguyên nhân.
1.1.4. Tình hình tai biến mạch máu não trên Thế giới và Việt Nam
* Thế giới

Theo Lê Văn Thành, tỷ lệ tử vong do TBMMN là 21,4%, còn theo Phạm
Ngọc Rao là 44,4%.
Theo Ngô Đăng Thục, từ năm 1981 - 1983 số bệnh nhân TBMMN tăng
lên 2,3 lần [23]
Tổng hợp mười công trình nghiên cứu gần đây cho thấy từ năm 2000


8

đến năm 2010 đã có 18.195 bệnh nhân vào mười bệnh viện ở cả ba miền vì
TBMMN, bệnh nhân nam trên 65 tuổi chiếm đa số. Trong các bệnh nhân nói
trên, có 12.104 trường hợp nhồi máu não (tỉ lệ 66,5%), 5.764 trường hợp chảy
máu não (31,6%), 255 trường hợp chảy máu dưới nhện (1,4%) và 75 trường
hợp không xác định rõ thể bệnh (0,3%) [24]
1.2. Sinh lý thăng bằng
1.2.1. Định nghĩa [25]
Định nghĩa tư thế: vị trí của cơ thể hoặc các phần của cơ thể trong
không gian
Kiểm soát tư thế: là sự kiểm soát tư thế trong không gian.
Kiểm soát tư thế đem lại :
 Thăng bằng: là khả năng giữ cơ thể ở trạng thái cân bằng. Một vật
được xem là vững khi trọng tâm cơ thể (COM) được giữ nằm trong chân đế.
Thăng bằng bao gồm 2 loại:
Thăng bằng tĩnh: là khả năng duy trì sự ổn định và định hướng của
cơ thể với trọng tâm nằm trên chân đế khi chân đế đứng yên.[29]
Thăng bằng động: là khả năng duy trì sự ổn định và định hướng của
co th với trọng tâm cơ thể trên chân đế trong khi chân đế chuyển động.
[30]
Định hướng cơ thể: khả năng duy trì mối quan hệ phù hợp giữa các phân
đoạn cơ thể và giữa cơ thể với môi trường cho một nhiệm vụ vận động.

đi lên trong các bó chêm và bó thon tới nhân thon và nhân chêm ở hành não
Noron 2: ở các nhân thon và nhân chêm cho sợi trục bắt chéo đường giữa
rồi đi lên đồi thị tạo liềm giữa
Noron 3: cho sợi trục chạy lên vỏ não hồi sau trung tâm qua đường bao trong
 Đường dẫn truyền cảm giác bản thể không có ý thức gồm hai noron
Noron 1: ở hạch gai cho sợi trục đi vào tận cùng ở sừng sau của chất


10

xám tủy sông
Noron 2: nằm ở sừng sau tủy sống cho sợi trục đi lên tới vỏ của nhộng
tiểu não. Những sợi bắt chéo tạo nên dải tủy- tiểu não trước, những sợi không
bắt chéo tạo nên dải tủy- tiểu não sau và dải tủy tiểu não vỏ. Dải trước đi vào
tiểu não qua cuống tiểu não trên, dải sau qua cuống tủy tiểu não dưới.
-

Thị giác[ ]
 Giải phẫu :
Cơ quan thị giác là giác quan giúp cho ta nhận thức được thế giới bên

ngoài thông qua các kích thích ảnh sáng dưối dạng hình ảnh và màu sắc. Cơ
quan thị giác gồm có 3 phần: nhãn cầu, các bộ phận phụ của mắt ( hốc mắt,
mi mắt và kết mạc, lệ bộ ), đường thị giác.
Đường thị giác gồm:
 Dây thần kinh thị giác
Được tạo nên bỏi sự tập hợp các sợi trục của các tế bào hạch, các sợi
trục này chỉ có myelin từ phần ra khỏi nhãn cầu. Dây thần kinh thị giác được
mô tả làm 3 phần, từ trưốc ra sau:
+ Phần trong hốc mắt: dây thần kinh thị giác đi kèm theo các dây thần

chuyển động của đầu,như khi đầu chuyển động ra trước thì những vật thể
xung quanh di chuyển théo hướng đối nghịch. Những input thị giác là một
nguồn thông tin quan trọng trong việc kiểm soát tư thế nhưng nó không cần
thiết một cách tuyệt đối,vì chúng ta có thể giữ vững thăng bằng khi nhắm
mắt,hoặc ở trong phòng tối.input thị giác không phải luôn luôn là một nguồn
thông tin định hướng chính xác về tự -chuyển động,có thể bị hệ thần kinh
trung ương giải thích sai (ví dụ thông tin sai về vận động của bản thân so với
vận động của môi trường bên ngoài)
-

Tiền đình


12

Cơ quan tiền đình: nằm ở tai trong, gồm có
 Mê đạo màng: nằm trong mê đạo xương ở tai trong, chứa nội dịch.
Bao gồm: ốc tai, soan nang, cầu nang và các ống bán khuyên.
 Ống bán khuyên: mỗi tai có 3 ống bán khuyên : bên, trước và
sau, nằm thẳng góc với nhau, phần phình ra mỗi ống đổ vào soan nang gọi
là bóng (ampulla) chứa các thụ thể kích thích khi xoay đầu. Ví dụ khi
xoay đầu sang trái thì ống bán khuyên báo cho biết đầu quay theo hướng
nào và nhanh như thế nào.
 Soan nang, cầu nang : có các thụ thể cho các cảm giác về trọng lực và
gia tốc thẳng. Ví dụ : nếu đầu nghiêng về một bên, các thụ thể sẽ báo góc
nghiêng, đầu có nghiêng ra trước hoặc ra sau không; Khi chạy xe gia tăng tốc
độ, ngừng lại đen đỏ các thụ thể sẽ cho cảm tưởng gia tăng tốc độ.
Bộ phận nhận cảm:
 Mào: nằm trong bóng, được cấu tạo bởi các tế bào lông, phía trên
các tế bào phủ một lớp gelatin gọi là đài (cupula), lông của tế bào nằm trong

hông. Chiến lược này kiểm soát chuyển động của COM bằng cách tạo ra
chuyển động nhanh và lớn ở khớp hông với những chuyển động xoay đối pha
của cổ chân. Trong trường hợp cơ thể đu đưa ra trước,cơ thành bụng được
kích hoạt,tiếp đến là cơ tứ đầu đùi,còn sự mất ổn định theo hướng ra sau ,hoạt
động hiệp đồng cơ là cơ cạnh cột sống và cơ hamstring
 Chiến lược bước tới
Khi sự nhiễu động tư thế đủ mạnh để chuyển COM ra khỏi mặt chân đế
của hai chân,bước tới được dùng để đưa mặt chân đế trở lại theo đường gióng
so với COM
1.3. Rối loạn thăng bằng ở bệnh nhân TBMMN
Bệnh nhân TBMMN bị rối loạn cảm giác và giảm khả năng giữ thăng
bằng. Họ có xu hướng ít dồn trọng lượng lên chân bị liệt khi ở tư thế đứng và
điều này dẫn đến tư thế không đối xứng, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến các


14

hoạt động sinh hoạt, dáng đi và di chuyển hàng ngày của họ [25]. Rối loạn
thăng bằng của bệnh nhân đột quỵ có nhiều nguyên nhân khác nhau, chẳng
hạn như giảm hoặc mất sức mạnh cơ bắp, hạn chế vận động khớp, thay đổi
trương lực cơ, thay đổi cảm giác và mất phối hợp [27]. Theo Pollock A và
cộng sự (2007), Cho K và cộng sự (2014) cho thấy rối loạn thăng bằng có
tương quan cao với khả năng di chuyển hạn chế [28], [29]. Bệnh nhân tai biến
bị rối loạn thăng bằng cho thấy thời gian phục hồi lâu hơn so với những người
không bị rối loạn thăng bằng. Mất khả năng giữ thăng bằng ảnh hưởng tiêu
cực đến dáng đi [30]. Theo Goldie PA và cộng sự (1989) đã chỉ ra rằng ở
bệnh nhân đôt quỵ trọng lượng của cơ thể không phân bố đều lên 2 chân,
trọng lượng sẽ dồn nhiều sang bên chân lành, bên chân liệt chỉ chịu trọng tải
cơ thể từ 25 đến 43% ở tư thế đứng, dẫn đến tư thế không đối xứng [31]. Điều
này làm giảm khả năng của cơ thể để duy trì trọng tâm và ảnh hưởng đến các

tật, đảm bảo cho người tàn tật hội nhập xã hội có những cơ hội bình đẳng và
tham gia đầy đủ các hoạt động của xã hội [33].
1.5.2. Các phương pháp điều trị phục hồi chức năng
- Vận động trị liệu giúp phục hồi tầm vận động khớp, làm mạnh cơ, điều
hợp các động tác, tái rèn luyện cơ bị liệt, bị mất chức năng, tạo thuận cho cảm
thụ bản thể cơ thần kinh, đề phòng các thương tật thứ cấp...
- Hoạt động trị liệu giúp bệnh nhân quên đi ưu phiền, lo âu về tương lai; tăng
sức khỏe và tập luyện chức năng để phục hồi sinh hoạt và để hướng nghiệp.
- Ngoài ra còn có nhiều phương pháp khác như điện trị liệu, nhiệt trị
liệu, thủy trị liệu, ngôn ngữ trị liệu, âm nhạc trị liệu, nhận thức trị liệu, hô hấp
trị liệu… [33], [34].
1.5.3. Quy trình PHCN
 Lượng giá BN
Lượng giá người bệnh Đột quỵ toàn diện cần xem xét đến:
▪ Các khả năng chức năng trước đó.


16

▪ Các khiếm khuyết của các cấu trúc và chức năng của cơ thể [bao gồm
suy giảmhoạt động chức năng tâm lý (nhận thức, cảm xúc và giao tiếp) và các
yếu tố chủ quan như đau.
▪ Các giới hạn hoạt động và hạn chế sự tham gia
▪ Các yếu tố môi trường (vật lý, xã hội, và văn hoá) và các yếu tố cá nhân.
Nếu được, nên sử dụng các công cụ đo lường đáng tin cậy và có giá trị.
 Thiết lập mục tiêu và lập kế hoạch phục hồi chức năng
Sau quá trình lượng giá nhằm thu thập thông tin cho lý luận lâm sàng,
việc thiết lập mục tiêu cho người bệnh Đột quỵ và gia đình họ là điều bắt
buộc. Tất cả những người bệnh Đột quỵ và gia đình cần tham gia vào quá
trình thiết lập mục tiêu, và cần công nhận các ước muốn và mong đợi của họ

-PHCN nên bắt đầu càng sớm càng tốt sau TBMMN, khi tình trạng toàn
thân cho phép
-Tập thăng bằng phải cân xứng hai bên, tập các bài tập có dồn trọng
lượng sang bên chân liệt, không sử dụng bên lành bù trừ hoặc thay thế cho
bên liệt
- PHCN cảm giác bản thể ở bên chân liệt
-Điều chỉnh TLC trở lại bình thường hoặc gần bình thường
- Tập các bài tập kết hợp cả TB động và tĩnh để đạt kết quả PH tốt
- Sử dụng các kĩ thuật tạo thuận trong tập luyện giúp BN cảm nhận vận
động bình thường
- Sử dụng các bài tập liên quan gần gũi với cuộc sống sinh hoạt thường
ngày của BN
-Phát huy tính chủ động của BN và gia đình trong tập luyện, hướng dẫn
BN và gia đình họ có thể thực hiện các bài tập vận động. Sau khi ra viện BN
cần tiếp tục tập luyện tại nhà với sự giúp đỡ của người thân trong gia đình
1.5.5. PHCN thăng bằng ở BN TBMMN
Việc học thăng bằng đứng đòi hỏi rất sớm trong giai đoạn cấp để có cơ


18

hội thực hành cử động tự ý trong tư thế này. Thăng bằng đứng không phải là
sự duy trì tĩnh tại một tư thế tuy nhiên việc nâng đỡ khối cơ thể trên hai chân
đòi hỏi khả năng tạo ra các lực của nhóm cơ duỗi ở chân yếu một cách thích
hợp để ngăn ngừa sự sụm gối. Cơ hội dồn trọng lượng lên chân giường như là
là rất quan trọng để đẩy mạnh hoạt động cơ của chân đó . Tính nhạy cảm với
trọng lượng đã được quan sát ở người có sự tương quan cao giữa mức độ hoạt
động nhóm cơ duỗi chân với phần trăm trọng lượng cơ thể dồn lên chân đó.
Có nhiều cách để trợ giúp việc thực hành thăng bằng được xem là rất
quan trọng đối với một người để thực hành trong tư thế đứng nếu chân có

theo từng nhóm và như một phần của chương trình tập luyện. Mục tiêu của
những bài tập này là để giúp cải thiện sự thực hiện các cử động trong khi
ngồi, đứng và đi.
1.6. Các nghiên cứu trên thế giới và trong nước về chức năng thăng bằng
ở bệnh nhân TBMMN
1.6.1. Thế giới
Theo Vincent và cộng sự khi nghiên cứu trên 95 bệnh nhân bị đột quỵ tại
cơ sở PHCN ở Nigeria cho kết quả là mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng
ngày của BN phụ thuộc đáng kể vào khả năng thăng bằng không kể tuổi tác,
giới tính và thời gian đột quỵ [35]
Nghiên cứu của Arlene A.S và cộng sự khi nghiên cứu trên hai nhóm đối
tượng đột quỵ trong đó 1 nhóm được tập thêm với bài tập Yoga, sau nghiên
cứu cho thấy mức độ cải thiên thăng bằng không có sự khác biệt giữa hai
nhóm [36]
Theo Masumeh và cộng sự (2018) nghiên cứu về mức độ thăng bằng tới
khả năng đi lại ở 31 bệnh nhân đột quỵ không có rối loạn nhận thức có độ tuổi
trung bình 54,84 thông qua thang điểm BBL và FAC. Kết quả điểm trung bình
theo thang điểm BBS là 47,38, theo thang FAC là 3,8 theo phân tích tương
quan cho thấy giữa chúng có mối liên quan với nhau nếu như thăng bằng bị
rối loạn càng nhiều thì khả năng đi lại của BN càng hạn chế do đó việc phục
hồi chức năng thăng bằng là rất quan trọng để lấy lại khả năng đi lại. [37]



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status