Thực trạng rối loạn cơ xương ở nhân viên y tế tại bệnh viện đại học y hà nội năm 2017 và một số yếu tố liên quan - Pdf 55

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn cơ xương (RLCX) là thuật ngữ dùng để tả những rối loạn,
căn bệnh xương cơ khớp có ảnh hưởng chất lượng sống và khả năng lao động.
RLCX đặc biệt liên quan tới yếu tố nghề nghiệp và tư thế lao động [2] , [44].
RLCX đang ngày càng gia tăng cùng quá trình công nghiệp hóa. Kết quả của
một cuộc khảo sát do các chuyên gia Phân viện Nghiên cứu khoa học Bảo hộ
lao động tại TPHCM thực hiện đăng trên nhằm xác định những yếu tố phát
sinh về sức khỏe của công nhân lao động (CNLĐ) trong quá trình tự động hóa
thiết bị sản xuất. Theo phân tích của Võ Hưng và Võ Văn Mai năm 2002, trong
quá trình doanh nghiệp tự động hóa thiết bị sản xuất, CNLĐ đã giảm được tiêu
hao năng lượng trong một số công việc. Nhưng để đáp ứng được hoạt động
dây chuyền thì CNLĐ trong một số phần công việc đã phải đối diện với tần số
thao tác cao, động tác lặp đi lặp lại nhiều, công việc kéo dài liên tục trong
nhiều ngày tháng đã để lại hậu quả xấu cho cơ thể. Đó là những phần công
việc mà thường người lao động chỉ phải sử dụng một số nhóm cơ nhất định
như ngón tay, bàn tay, khuỷu và cánh tay, đai vai và cổ, thắt lưng và đai hông,
thường gặp trong các cơ sở sản xuất bao bì, đóng gói, may mặc, chế biến thủy
sản,... Khi các nhóm cơ được sử dụng liên tục với cường độ cao sẽ rơi vào tình
trạng quá tải, kết hợp với một số nhóm cơ khác bị chèn ép do tư thế ngồi hoặc
đứng liên tục trong ca, dẫn tới các rối loạn cơ-xương-khớp tích lũy dần theo
thời gian. Các triệu chứng thường bắt đầu bằng viêm dây thần kinh chạy dọc
theo các ống xương, các khớp rồi đến nhức nhối từng bộ phận, đau đớn khi
vận hành với các dạng như viêm cơ, viêm gân, viêm bao gân, thoái hóa cột
sống. Những tổn thương do RLCX gây ra lâu dần sẽ gây tổn hại sức khỏe
nghiêm trọng, mất sức lao động, ảnh sinh hoạt, tốn phí điều trị và phục hồi
chức năng.
Ở nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên cứu về RLCX ở đối
tượng nhân viên y tế vì nghề nghiệp này có những đặc thù công vi ệc ch ứa
đựng những yếu tố nguy cơ cao với nhóm bệnh này.
Nhân viên y tế bao gồm Bác sỹ, điều dưỡng, kỹ thuật viên , hộ lý,


Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

1.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Các bác sỹ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, nhân viên văn phòng đang làm việc
tại 09 khoa, phòng thuộc Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2017.
1.1.2. Địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
1.1.3. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 04/2017 tới tháng 9/2017.


3
1.2.

Phương pháp nghiên cứu

1.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích.
1.2.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu


Cách chọn mẫu

Chọn mẫu có chủ đích, gồm 173 nhân viên y tế, văn phòng đang công
tác tại 8 khoa, phòng của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội là:


4


Thang đo Likert 10 điểm là thang đo tổng hợp từ thang Likert 5
điểm, thang đo số và thang nhìn thị giác, tác gi ả là nhà tâm lý học người
Mỹ-Rensis Likert [28].
Trên thang nhìn có đánh số và mức độ đau, bệnh nhân sẽ ch ọn
khoảng phù hợp nhất với mức độ đau của mình. Qui ước mức 0 là không
đau, mức 10 là đau rất nặng không chịu nổi [6].

Hình 0.1. Phân loại mức độ đau và cách cho điểm dựa vào thang Likert 10 điểm


5
1.2.4. Biến số và chỉ số nghiên cứu
Bảng 0.1. Bảng biến số và chỉ số nghiên cứu
Nhóm
biến số

Biến số

Chỉ số

Tuổi
Giới

Đặc
trưng cá
nhân

Tình
trạng
dinh

Chức năng lao Tỷ lệ % hạn chế chức
động
năng lao động
Tỷ lệ % phải nghỉ việc
Nghỉ việc
hay chuyển việc
Tỷ lệ % tư thế tay làm
Tư thế tay
việc ở các vị thế
Tỷ lệ % tư thế tay làm
Tư thế lưng
việc ở các vị thế
Tư thế chân
Tỷ lệ % tư thế tay làm
việc ở các vị thế
(Không, thỉnh thoảng,
thường xuyên)
Mức độ đau

Ngưỡng
đau

Tình
trạng
chức
năng bị
hạn chế
Tư thế
làm việc
và bê

Công thức tính

Đọc- ghi

Thang đau VAS

Đọc- ghi

Bảng hỏi NMQ

Đọc- ghi

Bảng hỏi NMQ

Đọc -ghi

Bảng hỏi NMQ

Đọc -ghi

Bảng hỏi NMQ

Đọc- ghi

Bảng hỏi NMQ

Đọc- ghi
Đọc- ghi
Đọc- ghi



Đọc -ghi

Bảng hỏi OWAS
cải biên

Khám, điều trị
BS

Tỷ lệ % phải đi điều trị

Đọc- ghi

Bảng hỏi NMQ

Bảng hỏi OWAS
cải biên

1.2.5. Các bước thu thập số liệu
 Tập huấn bộ công cụ
 Điều tra thu thập thông tin
1.2.6. Sai số và biện pháp khống chế sai số
 Sai số có thể
 Đối tượng nghiên cứu có thể quên/bỏ sót các vị trí đau và mức đ ộ
đau trong 12 tháng qua.
 Bỏ sót thông tin trong quá trình phỏng vấn.
 Biện pháp khống chế sai số
 Điều tra viên đọc chậm, rõ và giải thích từng câu cho đến khi đ ối
tượng có thể nhớ và trả lời.
 Điều tra viên phải kiểm tra phiếu ngay sau khi hỏi đến câu cu ối

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thực trạng rối loạn cơ xương của nhân viên y tế
3.1.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.2. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (n=173)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
(SL)
Nam
68
39,3
Giới tính
Nữ
105
60,7
40
11
6,4

Bảng 3.3. Chỉ số khối BMI theo tiêu chuấn Châu Á của đối tượng nghiên cứu
Thông tin chung

2325-29,9 30-39,9
22,9 (Thừa
24,9
(Béo phì (Béo phì
(Bình
cân)
(Tiền
độ I)
độ II)
thườn
béo phì)
g)

SL (%) SL (%) SL (%)
Bác sĩ (27)

1 (3,7)

Điều dưỡng
(109)



>40
(Béo
phì
độ
III)
SL(%
)
0
(0,0)
0
(0,0)


9
Kỹ thuật viên
(23)
Kế toán, hộ lý
(14)
Chung (n=173)

5
(21,7)
1 (7,1)
23
(13,3)

15
(65,2)
10

(0,0)
0
(0,0)
0
(0,0)

Bảng 3.2 cho thấy nhân viên y tế có chỉ số BMI từ 18,5- 22,9 (76,9%)
chiếm tỷ lệ nhiều nhất, có 17% nhân viên y tế thừa cân và không có nhân
viên y tế béo phì (có chỉ số BMI >25 ).
Bác sĩ có tỷ lệ BMI bình thường cao nhất: 85,2%, thấp nhất là kỹ
thuật viên với 65,2%.
Bảng 3.4. Thời gian làm việc trung bình một tuần theo chức danh nghề
Thời gian làm việc trung bình một tuần
Chức danh nghề

40h/tuần

>40h/tuần

Số lượng

%

Số lượng

%

Bác sĩ (27)

0


0,0

14

100,0

Chung (n=173)

8

4,6

165

95,4

Bảng 3.3 cho đa số nhân viên y tế phải làm việc >40h/tuần (95,4%).
Trong đó, bác sĩ và kế toán-hộ lý chiếm 100,0%; ĐD chi ếm 95,4% và KTV
chiếm 87,0%.
Nhân viên y tế nói chung có đến 95,4% phải làm việc trên 40h/tuần,
một nguyên nhân.
3.1.2. Thực trạng rối loạn cơ xương của nhân viên y tế
Bảng 3.5. Tỷ lệ rối loạn cơ xương ở nhân viên y tế
Có rối loạn cơ xương

Không rối loạn cơ xương

Số lượng


95,6

1

4,4

Kế toán, hộ lý (14)

13

92,9

1

7,1

Chức danh nghề


10
Chung (n=173)

151

87,3

22

12,7


7 (31,9)
10 (45,5)

Kế toán,
hộ lý
SL (13)
7 (53,8)
7 (53,8)
4 (30,8)
3 (23,1)
8 (61,6)
9 (69,2)
4 (30,8)
5 (38,5)

Chung

Cổ
95(62,9)
Vai
80(52,9)
Khuỷu tay
31(20,0)
Cổ tay/Bàn tay
52(34,6)
Lưng
89(8,9)
Thắt lưng
21(13,9)
Háng/Đùi

124
71,7
Cổ
62
44,3
28
22,6
Vai
44
31,4
29
23,4
Khuỷu tay
22
15,7
10
8,1
Cổ tay/Bàn tay
31
22,1
17
13,7
Lưng
46
32,9
36
29,0
Thắt lưng
59
42,1

19

%
15,3

Bảng 3.6 cho thấy rằng, trong số các nhân viên y tế 80,9% cho bi ết
có đau cơ xương trong 12 tháng qua và 71,7% nhân viên y t ế cho bi ết đau
cơ xương trong 7 ngày qua.
Vị trí hay gặp RLCX nhiều nhất trong 12 tháng qua l ần lượt là vùng
cổ (44,3%), thắt lưng (42,1%) và lưng (32,9%).
Vị trí hay gặp RLCX nhiều nhất trong 7 ngày qua lần lượt là vùng
thắt lưng (29,8%), lưng (29,0%) và vai (23,4%).
Bảng 3.8. Rối loạn cơ xương của nhân viên y tế theo giới tính, nhóm tuổi và
chức danh
Tỷ lệ mắc RLCX trong
Tỷ lệ mắc RLCX trong
12 tháng qua (SL=140)
7 ngày qua (SL=124)
Đặc điểm chung
Số lượng
%
Số lượng
%
Giới tính
Nam
50
35,7
44
35,5
Nữ

64,5
Kỹ thuật viên
22
15,7
20
16,1
Kế toán, hộ lý
11
7,9
12
9,7
Bảng 3.7 cho thấy thấy rằng, tỷ lệ mắc RLCX ở nhân viên y tế nam ít
hơn nhân viên y tế nữ (12 tháng qua: 35,7% nam – 64,3% n ữ; 7 ngày qua:
35,5% nam – 64,5% nữ).
Nhóm tuổi 40 (6,4% trong 12 tháng –
5,6% trong 7 ngày).
Tỷ lệ RLCX nhiều nhất ở điều dưỡng viên (64,3% trong 12 tháng –
64,5% trong 7 ngày) và ít nhất ở các cán bộ kế toán, h ộ lý (7,9% trong 12
tháng – 9,7% trong 7 ngày).
Bảng 3.9. Rối loạn cơ xương của nhân viên y tế theo khoa, phòng


12

Khoa, phòng
Nội
Nội soi
Xét nghiệm
Ngoại

7 ngày qua (SL=124)
Số lượng
%
14
11,3
18
14,5
10
8,1
23
18,5
8
6,5
14
11,3
16
12,9
7
5,6
14
11,3

Bảng 3.8 cho thấy:
Trong 12 tháng qua, khoa có tỷ lệ mắc RLCX nhiều nhất là khoa
Ngoại (17,1%), ít nhất là khoa Phục hồi chức năng (6,4%).
Trong 7 ngày qua, khoa Ngoại (18,5%) có tỷ lệ mắc RLCX nhi ều
nhất, ít nhất là khoa Ung bướu (5,6%).
Bảng 3.10. Mức độ đau của nhân viên y tế có rối loạn cơ xương theo giới
tính, nhóm tuổi và chức danh nghề (SL, %)
Đau


15 (21,4)

20 (28,6)

30
(42,9)

5 (7,1)

0 (0,0)

30-39 (72)

16 (22,2)

28 (38,9)

23
(31,9)

5 (6,9)

0 (0,0)

0 (0,0)

5 (55,6)

2 (22,2)


Đau ít

11 (20,4)

Giới tính
Nam (54)
Nữ (97)
Nhóm tuổi

>40 (9)
Chức danh nghề
Bác sĩ (20)
Điều dưỡng (96)


13
Kỹ thuật viên (22)
Kế toán, hộ lý (13)

2 (9,1)

7 (31,8)

11
(50,0)

2 (9,1)

0 (0,0)

5 (23,8) 6 (28,6) 7 (33,3) 3 (14,3) 0 (0,0)
Xét nghiệm (10)
1 (10,0) 4 (40,0) 4 (40,0) 1 (10,0) 0 (0,0)
Ngoại (26)
8 (30,8) 7 (26,9) 10 (38,5) 1 (3,8) 0 (0,0)
Phục hồi chức năng (10) 1 (10,0) 3 (30,0) 5 (50,0) 1 (10,0) 0 (0,0)
Tài chính-kế toán (14)
2 (12,5) 6 (37,5) 7 (43,8) 1 (6,2) 0 (0,0)
Gây mê hồi sức (7)
0 (0,0)
6 (35,3) 8 (47,1) 3 (17,6) 0 (0,0)
Ung bướu (14)
6 (42,9) 6 (42,9) 2 (14,3) 0 (0,0) 0 (0,0)
Hồi sức cấp cứu (20)
2 (10,0) 10 (50,0) 7 (35,0) 1 (5,0) 0 (0,0)
Bảng 3.10 cho thấy mức độ đau của nhân viên y tế có rối loạn cơ xương
theo khoa, phòng. Các mức độ đau chiếm phần lớn tại các khoa phòng là
mức đau rất ít (Nội: 35,3%; Ngoại: 30,8%; Ung bướu: 42,9%). Ti ếp đ ến là
mức đau ít (Xét nghiệm: 40,0%; Ung bướu: 42,9; H ồi sức c ấp cứu: 50,0%).
Cuối cùng là mức đau vừa (PHCN: 50,0%; Gây mê hồi sức: 47,1%; Ngo ại:
38,5%). Rất ít các nhân viên y tế bị đau nhiều, trong m ức đ ộ đau nhi ều,
khoa gây mê hồi sức có tỷ lệ cao hơn so với các khoa còn lại. Ở mức đau
nhiều không có nhân viên y tế nào.
3.1.3. Tư thế làm việc và tần suất mang/bê vật nặng của nhân viên y
tế
Bảng 3.12. Tư thế làm việc của tay và thân ở nhân viên y tế (SL, %)
Điều
Kỹ thuật
Hộ lý, kế
Bác sĩ

xuyên
Không
Thỉnh
thoảng
Thường
xuyên
Không
Thỉnh
thoảng
Thường
xuyên

0 (0,0)

4 (3,7)

0 (0,0)

0 (0,0)

5 (18,5)

17 (15,6)

5 (21,7)

1 (7,1)

88 (80,7)


7 (30,4)

4 (28,6)

71 (65,1)

10 (43,5)

9 (64,3)

8 (29,6)

23 (21,1)

6 (26,1)

1 (7,1)

22
(81,5)
5 (18,5)
19
(70,4)

Bảng 3.11 cho biết tư thế làm việc của tay và thân mình ở nhân viên y tế.
Ở tư thế giơ tay thấp hơn vai, không có chỗ tỳ, phần lớn các nhân viên y tế phải
thường xuyên làm việc (Bác sĩ: 81,5%; ĐD: 80,7%; KTV: 78,3%; Kế toán-hộ lý:
92,9%).
Phần lớn nhân viên y tế thường xuyên phải làm việc ở tư thế giơ tay
cao hơn vai (Bác sĩ: 11,1%; ĐD: 16,5%; KTV: 26,1%; Kế toán-hộ lý: 7,1%).

kế
toán

(SL 23)

(SL 14)

Không

0 (0,0)

4 (3,7)

0 (0,0)

0 (0,0)

Thỉnh
thoảng

5 (18,5)

17 (15,6)

5 (21,7)

1 (7,1)

Thường
xuyên


6 (42,9)


15

Đứng hơi
chùng
hai đầu
gối

Quỳ trên
1 hoặc 2
đầu gối

Đi lại/di
chuyển

Thường
xuyên

3 (11,1)

18 (16,5)

6 (26,1)

1 (7,1)

Không


2 (14,3)

Không

16 (59,3)

58 (52,3)

11
(47,8)

12
(85,7)

Thỉnh
thoảng

11 (40,7)

41 (37,6)

11
(47,8)

1 (7,1)

Thường
xuyên


Thường
xuyên

18 (66,7)

92 (84,4)

18
(78,3)

3 (21,4)

Bảng 3.12 cho biết tư thế làm việc của hai chân mình ở nhân viên y
tế. Ở tư thế ngồi phần lớn các nhân viên y tế phải thường xuyên làm vi ệc
(Bác sĩ: 81,5%; ĐD: 80,7%; KTV: 78,3%; Kế toán-hộ lý: 92,9%).
Ở tư thế hai chân đứng thẳng đa phần các nhân viên y tế chỉ có mức độ
thỉnh thoảng làm việc (Bác sĩ: 70,7%; ĐD: 56,9%; KTV: 69,6%; Kế toán-hộ lý:
42,9%).
Tư thế đi lại/di chuyển, NVYT thường xuyên phải làm việc, do yêu
cầu công việc cũng như môi trường bệnh viện, khiến các nhân viên y t ế
phải di chuyển và thực hiện nhiệm vụ (Bác sĩ: 66,7%; ĐD: 84,4%; KTV:
78,3%).
Bảng 3.14. Tần suất mang/bê vật nặng và trọng lượng của vật nhân viên y
tế
Phân tích
Số lượng
Nhân viên y tế phải mang/bưng bê vật nặng (n=173)

101
Không

cơ xương
RLCX

Không RLCX

OR

Số lượng (%)

Số lượng (%)

95%CI

144(95,4)

21 (95,5)

[0,1 – 8,4]

7(87,5)

1 (40,15)

0,9

> 5 năm

92(89,3)

11 (10,7)

)

Không
RL
CX
Số lượng (%)

OR
95%CI

P


17
Chuyên ngành đào
tạo
Bác sĩ

20 (74,1)

7 (25,9)

1

Điều dưỡng

96 (88,1)

13 (11,9)


lượng
(%
)

Số lượng

OR
95%CI

p

(
%
)

29 tuổi

80 (87,9)

11 (12,1)

1,1
[0,4 – 2,7]0,8


97 (64,2)

8 (36,4)

3,1 [1,2 – 8,1]0,01


18
Tay thuận
Thuận tay phải

144 (87,8)

20 (12,2)

Thuận tay trái

7 (77,7)

2 (22,3)

0,48 [0,09 – 2,52]
0,38

Bảng 3.17 cho thấy có mối liên quan giữa t ỷ lệ đau lưng và gi ới tính
của các nhân viên y tế.
Nguy cơ đau vùng lưng của nữ nhân viên cao hơn 1,9 lần so với nam
nhân viên với p=0,03.
Bảng 3.19. Mối liên quan giữa giới tính, tay thuận với đau lưng
Yếu tố liên quan

0,84

Thuận tay trái

4(44,4)

5(55,6)

[0,21 – 3,25]

43 (51,2)

39(43,8)

41 (48,8)

50(56,2)

7 (25,9)

20(74,1)

Điều dưỡng

56 (51,4)

53(48,6)

Kỹ thuật viên


0,02
0,05
0,02

Bảng 3.18 cho thấy có mối liên quan giữa giới tính và chuyên ngành
đào tạo với đau lưng của NVYT.
Nữ nhân viên có tỷ lệ đau lưng cao gấp 2 lần nam nhân viên, p
53 (58,2)

38(41,8)

13 (48,2)

14(51,8)

59 (54,1)

50(45,9)

16 (65,6)

7(34,4)

6 (75,0)

8(35,0)

0,99 [0,5 – 1,8]

0,98

1,7 [0,4 – 7,2]

0,44

1,4 [0,7 – 2,5]



Số lượng (%) Số lượng (%)

OR
95% CI

p

Giới tính
17 (25,7)

51(74,3)

36 (34,3)

69(65,7)

Thuận tay phải

52 (31,7)

112(68,3)

Thuận tay trái

1 (12,5)

8(87,5)



4 (28,6)

10(71,4)

18 (25,7)

52(74,3)

35 (34,0)

68(66,0)

26(26,8)

71(71,2)

Thỉnh thoảng

18(28,1)

46(71,9)

Thường xuyên

9(75,0)

3 (25,0)

1,56 [0,78 – 3,1]

kỹ thuật viên lần lượt cao gấp 7 lần và 5 lần so với bác sĩ, p

22(81,5)
77(70,6)
17(73,9)
11(78,6)

1
1,8 [0,6 – 5,3]
1,6 [0,4 – 6,1]
1,2[0,2 – 6,1]

0,25
0,52
0,82

32(84,2)
26(61,9)
12 (57,1)

1
3,2 [1,1 – 9,9]
4,0 [1,1 – 14,6]

0,026
0,023

Tay thuận
Thuận tay phải
Thuận tay trái

Nhóm tuổi nhân viên y tế từ 20-29 và 30-39 chiếm t ỷ lệ cao (47,4%
và 46,2%), cao hơn so với nghiên cứu của tác gi ả Hanif Abdul Rahman và
cộng sự năm 2017 tại Brunei, với nhóm tuổi chính là từ 22-30 và 31-40
chiếm tỷ lệ lần lượt là 35,8% và 44,8% [21] nhưng nhóm tuổi 20-29 tuổi ở
đại học y Hà Nội lại thấp hơn so với nghiên cứu năm 2007 tại Hàn Qu ốc
của tác giả Dohyung Kee và Sun Rim Seo (59,7% từ 20-29 tuổi) [17].Thâm
niên công tác của các nhân viên y tế ở đây ch ủ y ếu là dưới 10 năm (83,2%),
cao hơn thâm niên công tác của nhân viên y tế ở bệnh viện t ại Brunei
(60,7%) [17] và sấp sỉ với kết quả nghiên cứu của Dohyung Kee và Sun Rim
Seo với 86,1% thâm niên làm việc dưới 10 năm.
Công tác trong lĩnh vực y tế, có ý thức ki ến thức chăm sóc s ức kh ỏe
nên các nhân viên y tế tại bệnh viện ch ủ y ếu có chỉ s ố kh ối BMI là bình
thường (76,9%), không có ai bị béo phì. Kết quả này khác v ới nghiên c ứu
của tác giả Kiều Ngọc Quý khi khảo sát trên các đi ều dưỡng viên tại b ệnh
viện Việt Tiệp Hải Phòng với 65,8% bình thường và 6,4% bị béo phì [4].
Nghiên cứu về nhân viên y tế tại bệnh viện Tunisia năm 2013 c ủa Anis
Jellad và cộng sự lại cho ra kết quả với con số thừa cân béo phì khá cao là
53,7% [11].
4.1.2. Thực trạng rối loạn cơ xương
Kết quả khảo sát cho thấy có 87,3% nhân viên y tế bị rối loạn cơ
xương ở các khoa phòng của bệnh viện đại học Y Hà Nội. Cao hơn so với
nghiên cứu của Kiều Ngọc Quý và cộng sự thực hiện trên điều dưỡng viên
với 81,0% bị rối loạn cơ xương [4]. Ở nghiên cứu của Anis Jellad và cộng sự
thì bệnh viện Tunisian có số nhân viên bị rối loạn cơ xương thấp hơn
(65,4%) [11]. Điều này có thể là do môi trường làm việc và chế độ làm việc


24
của các nhân viên y tế ở bệnh viện Tunisian tốt hơn và hợp lý hơn, và một
phần không bị tình trạng quá tải bệnh viện.

nhiều nhất ở vị trí vai (63,3%) và lưng (69,2%). Vấn đề gặp ph ải nhi ều
nhất của kế toán, hộ lý ở vị trí lưng (69,2%). Điều dưỡng viên có có t ỷ l ệ
đau nhiều nhất ở cổ (65,6%), lưng (63,5%) và thắt lưng (65,6%). Trong khi


25
đó vị trí hay gặp rối loạn cơ xương trong 12 tháng qua nhi ều nh ất ở trong
2 nghiên cứu của Trịnh Hồng Lân và Kiều Ngọc Quý ở trên đi ều dưỡng
thấp hơn, lần lượt là vùng thắt lưng (54,3%), vùng vai ph ải (48,0%) và
vùng cổ (58%) và vùng thắt lưng (49%) [4], [10]. Sự khác nhau này có th ể
là do môi trường làm việc của đối tượng tham gia ở mỗi nghiên cứu là khác
nhau. Ngoài ra, gần một nửa các điều dưỡng viên cho bi ết các tri ệu ch ứng
rối loạn cơ xương có tác động đến hoạt động thao tác ngh ề nghi ệp thông
thường. Trong đó khoảng 1/3 rối loạn cơ xương xuất hiện trong vòng từ 1
đến 7 ngày.
Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho biết tư thế làm việc của tay và
thân mình ở nhân viên y tế. Ở tư thế giơ tay thấp hơn vai, không có ch ỗ tỳ,
phần lớn các nhân viên y tế phải thường xuyên làm vi ệc (Bác sĩ: 81,5%;
ĐD: 80,7%; KTV: 78,3%; Kế toán-hộ lý: 92,9%). Phần lớn NVYT thường
xuyên phải làm việc ở thế giơ tay cao hơn vai (Bác sĩ:11,1%; ĐD: 16,5%;
KTV: 26,1%; Kế toán-hộ lý: 7,1%). Tư thế vặn người sang trái ph ải, NVYT
chỉ thỉnh thoảng làm việc (Bác sĩ: 48,1%; ĐD: 65,1%; KTV: 43,5%; K ế toán
hộ lý: 64,3%).
Ở các khoa phòng, khoa gây mê hồi sức,nhân viên y tế đau nhi ều có
tỷ lệ cao nhất so với các khoa phòng còn lại , với tỷ lệ là 17,6%. Và khoa ung
bướu không có nhân viên y tế nào bị đau nhiều. Nhân viên y t ế ch ủ y ếu
nằm ở mức đau vừa và đau ít.
4.1.3. Tư thế làm việc và tần suất bưng bê vật nặng của nhân viên y
tế
Do đặc thù nghề nghiệp, nhân viên y tế thường xuyên phải làm thêm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status