NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA HÀO CHÂM TRONG PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TÂM - VẬN ĐỘNG Ở BỆNH NHI SAU VIÊM NÃO CẤP DO VI RÚT HERPES SIMPLEX VÀ VIRÚT ĐƯỜNG RUỘT - Pdf 55

1

B GIO DC V O TO

B Y T

TRNG I HC Y H NI
------- -------

PHM NGC THY

NGHIÊN CứU TáC DụNG CủA HàO CH
ÂM
TRONG PHụC HồI CHứC NĂNG TÂM VậN ĐộNG ở BệNH NHI SAU VIÊM NãO
CấP DO VI RúT HERPES SIMPLEX Và
VIRúT ĐƯờNG RUộT
LUN N TIN S Y HC

1


2

H NI 2017
B GIO DC V O TO

B Y T

TRNG I HC Y H NI

PHM NGC THY

1. Đây là luận án do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn
của Cô TS. Đặng Minh Hằng và Thầy PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng.
2. Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã
được công bố tại Việt Nam.
3. Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung
thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi
nghiên cứu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này.
Hà Nội, ngày tháng 7 năm 2017.

Phạm Ngọc Thủy

3


4

LỜI CẢM ƠN
Để có được luận án hoàn thiện ngày hôm nay, xin cho phép tôi được
dành những trang đầu tiên để bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc
nhất đến:
PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng, TS. Đặng Minh Hằng Trường Đại học Y
Hà Nội. Người Thầy đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, hết lòng dìu dắt tôi từ
những bước đầu tiên trong nghiên cứu. Thầy đã tận tình, tận tâm, nghiêm
khắc, giúp tôi giải quyết những khó khăn trong quá trình nghiên cứu, chỉ bảo
cho tôi những kinh nghiệm quý báu trong học tập nghiên cứu, giúp tôi hoàn
thành luận án này.
Xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Thầy GS.
Hoàng Bảo Châu, GS.TS. Lê Đức Hinh, PGS.TS Phạm Văn Trịnh,
PGS.TS.Dương Trọng Hiếu, tuy tuổi cao nhưng quý Thầy luôn tận tụy, tận

Đại học Y Hà Nội. Cảm ơn những người bạn thân thiết, đồng nghiệp đã cùng
tôi chia sẻ những tháng ngày khó khăn vất vả trong học tập và nghiên cứu.

Hà Nội, ngày tháng 7 năm 2017
Phạm ngọc Thủy

5


6

DANH MỤC VIẾT TẮT
CHT

: Cộng hưởng từ (Magnetic resonance imaging)

CLVT

: Chụp cắt lớp vi tính (Computerd Tomography Scanner)

CTM

: Công thức máu

DNA

: Deoxy Ribo Nucleic Acid

ĐNĐ


JE

: Japanese Encephalitis (viêm não Nhật Bản)

PCR

: Polymerase chain reaction (phản ứng khuyếch đại chuỗi gen)

PHCN

: Phục hồi chức năng

TB

: Tế bào

TC

: Tiểu cầu

HC
BC
Hct
Hb
T0
T12
YHHĐ
YHCT
WHO



9

ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm não là một bệnh cấp tính của hệ thần kinh trung ương, thường gặp ở
trẻ em với các độ tuổi khác nhau và do nhiều căn nguyên gây nên [1],[2],[3].
Trong đó căn nguyên thường gặp nhất là do vi rút. Vi rút gây viêm não lây
truyền theo các phương thức khác nhau như nhóm lây truyền do côn trùng đốt
(Arbovirus như viêm não Nhật Bản), qua đường hô hấp (như vi rút Herpes simplex) hoặc qua đường tiêu hoá (như Entero vi rút) [2].
Trên thế giới tỷ lệ mắc viêm não dao động từ 3,5 đến 7,4 trường hợp trên
100.000 dân mỗi năm (Johnson 1996) [4], Nicolosi và cs (1986) thông báo tỷ
lệ mắc là 7,4 trường hợp trên 100.000 dân tại Minnesota, Mỹ [5]. Anh là nước
có tỷ lệ viêm não thấp nhất thế giới 1,5 trường hợp trên 100.000 dân (Davison
và cs 2003) [6].
Theo Fidan Jmor và cộng sự (2008), tỷ lệ mắc viêm não cấp tại các nước
phương Tây và các nước vùng nhiệt đới là 10.5 - 13.8/100.000 trẻ em [7]. Tuy
tỷ lệ mắc không cao nhưng tỷ lệ tử vong trong bệnh viêm não có thể lên đến
30% [8],[9],[10]. Những trường hợp được cứu sống cũng có thể để lại di
chứng gây ảnh hưởng nặng nề đến chất lượng cuộc sống của trẻ là gánh nặng
cho gia đình và xã hội [9],[11].
Tại khoa truyền nhiễm Bệnh viện Nhi Trung ương, hàng năm có
khoảng 500 – 600 ca viêm não nhập viện điều trị. Một số căn nguyên đã
được xác định như vi rút viêm não Nhật Bản (VNNB), vi rút Herpes
simplex, vi rút đường ruột, Rubella, Cytomegalovirus, quai bị, thủy đậu, một
vài loại ký sinh trùng [1].
Ở Việt Nam, việc đưa vacxin VNNB vào chương trình tiêm chủng mở
rộng cho trẻ em từ năm 1997 đã giảm dần tỷ lệ VNNB xuống còn 30 – 45%
tổng trường hợp viêm não do vi rút. Bên cạnh đó vi rút herpes simplex, vi rút




11

chứng viêm não chung, chưa có nghiên cứu phục hồi di chứng viêm não do
hai loại vi rút này bằng hào châm.
Để tìm hiểu mức độ hồi phục khi hào châm phục hồi chức năng tâm vận động cho trẻ di chứng viêm não do vi rút herpes simplex và vi rút đường
ruột, với mong muốn nâng cao hiệu quả phục hồi chức năng cho các bệnh nhi,
sớm đưa trẻ tái hòa nhập với gia đình và xã hội, đề tài: “Nghiên cứu tác dụng
của hào châm trong phục hồi chức năng tâm - vận động ở bệnh nhi sau
viêm não cấp do vi rút Herpes simplex và vi rút đường ruột” đã được đặt
ra với ba mục tiêu sau:
1. Mô tả một số đặc điểm lâm sàng theo Y học cổ truyền ở các bệnh nhi
sau viêm não cấp do vi rút Herpes simplex và vi rút đường ruột.
2. Đánh giá tác dụng của hào châm trong phục hồi chức năng tâm -vận
động ở bệnh nhi sau viêm não cấp dưới 6 tuổi do vi rút Herpes simplex
và vi rút đường ruột.
3. Nhận xét một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị.


12

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. BỆNH VIÊM NÃO THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN
1.1. Bệnh danh
Y học cổ truyền không có bệnh danh cho bệnh viêm não. Tuy nhiên khi
đối chiếu so sánh với những mô tả trong y văn kinh điển của Y học cổ truyền,
ta thấy bệnh thuộc phạm vi chứng Ôn bệnh [12],[13,[14],[15].
Ôn bệnh là các bệnh cảm phải ôn tà. Ôn bệnh nằm trong phạm trù của
bệnh có tính chất nhiệt như: Nóng, khát, miệng khô, mồ hôi ra nhiều, họng

1.3.2. Ôn tà vào phần khí
− Triệu chứng:
+ Sốt cao, ra mồ hôi nhiều, nhức đầu, choáng váng, gáy cứng, buồn nôn,
nôn.
+ Mặt đỏ, tâm phiền, đại tiện bí kết.
+ Mặt bẩn, răng khô, miệng khát, thích uống nước mát.
+ Mạch hồng đại.
− Pháp điều trị: thanh nhiệt tả hỏa.
1.3.3. Ôn tà vào phần dinh
− Triệu chứng:
+ Sốt cao gây co giật, mê sảng, hôn mê.
+ Mặt đỏ, khát, thích uống nước lạnh, uống vào vẫn không hết khát.
+ Tiểu tiện ngắn đỏ, đại tiện bí.
+ Rêu lưỡi vàng khô, mạch hồng hoạt sác.
− Pháp điều trị: thanh thiệt tả hỏa, khai khiếu tỉnh thần, bình can tức phong,
lưu thông kinh mạch.

1.3.4. Ôn tà vào phần huyết
− Triệu chứng:
+ Sốt cao, co giật, hôn mê.


14
+ Chân tay co cứng.
+ Chảy máu: chảy máu cam, nôn ra máu, đại tiện ra máu, ban chẩn
chảy máu dưới da.
+ Đại tiểu tiện không tự chủ.
+ Chất lưỡi đỏ tím, mạch tế sác.
− Pháp điều trị: thanh nhiệt tả hỏa, dưỡng âm, lương huyết chỉ huyết.
1.4. Thời kỳ thương âm và di chứng:

thành bệnh. Mặc dù sau giai đoạn cấp tà nhiệt đã được đẩy lui, nhưng tân dịch
bị tổn thương nặng, thủy hỏa bất điều, khí huyết suy giảm, cân mạch suy tổn,
kinh lạc bế tắc, thanh khiếu chưa khai thông được, để lại nhiều di chứng ôn
bệnh. Vì vậy, pháp điều trị tùy theo gốc bệnh sẽ phải tư âm thanh nhiệt, dưỡng
huyết chỉ kinh phong, hay bổ khí dưỡng huyết, kết hợp với điều trị triệu
chứng bằng pháp khai khiếu tỉnh thần, trừ đàm thông kinh lạc.
1.5.1. Các phương pháp không dùng thuốc ch©m cøu


Châm cứu:
Là một trong những phương pháp điều trị bệnh có nhiều hiệu quả. Theo

lý luận y học Đông phương, cơ thể phát sinh bệnh tật là do sự mất thăng bằng
âm dương, châm cứu có tác dụng cơ bản là điều khí, khí hòa thì huyết hòa,
cân bằng âm dương. Châm cứu là tác động vào huyệt để điều khí, điều chỉnh
các rối loạn chức năng của kinh mạch, tạng phủ. [22],[23],[24].
Kinh lạc là nơi khí huyết vận hành để nuôi dưỡng và làm cho cơ thể
khỏe mạnh và chống lại các tác nhân gây bệnh. Mỗi đường kinh mang tính
chất và hoạt động tuỳ theo công năng của các tạng phủ mà nó mang tên; bệnh
lý của tạng phủ được phản ánh sự thay đổi bệnh lý trên các đường kinh mang
tên tạng phủ đó, hoặc trên các đường kinh có liên quan biểu lý với nó. Châm
cứu còn đề cập đến phản ứng tại chỗ đó là phương pháp điều trị A thị huyệt.


16

Khi châm cứu phải đạt được cảm giác đắc khí, châm bổ hoặc tả tuỳ
theo bệnh lý hư thực. Phải vận dụng thích hợp châm hay cứu: hàn thì cứu, hư thì
bổ, thực thì tả.
Nguyên tắc chọn huyệt là "kinh mạch sở quá, chủ trị sở cập "nghĩa là

Các phương pháp kinh điển: Hào châm, nhĩ châm, mai hoa châm.
Tân châm: Điện châm , trường châm, thủy châm, cấy chỉ…
* Huyệt điều trị:
+ Tả: Bách hội, Đại chùy, Khúc trì, Thủ tam lý, Hợp cốc, Dương lăng
tuyền, Phong thị, Hoàn khiêu, Thừa sơn, Ngoại quan.
+ Bổ: Hội âm, Tam am giao, Túc tam lý.
Sử dụng các huyệt khu phong, thanh nhiệt, khai khiếu, khai thông kinh lạc…
- Khu phong: Phong trì, Phong môn, Hợp cốc.
- Thanh nhiệt: Đại chùy, Khúc trì, Hợp cốc.
- Khai khiếu, tỉnh thần: Bách hội, Á môn, Thượng liêm tuyền.
- Khai thông kinh lạc:
+ Vận động cổ: Phong trì, Đại chùy, Giáp tích C3 - C6, Á môn.
+ Vận động tay: Giáp tích C3 - C6, Kiên ngung, Khúc trì, Thủ tam lý,
Hợp cốc, Lao cung, Bát tà.
+ Vận động lưng: Mệnh môn, Giáp tích L5 - S3, Thận du, Đại trường du.
+ Vận động chân: Giáp tích L2 - S3, Trật biên, Hoàn khiêu, Ủy trung,
Thừa sơn, Côn lôn, Dương lăng tuyền, Giải khê.
- Bổ khí: Khí hải ,Túc tam lý, Quan nguyên.
- Bổ huyết: Cách du, Can du, Tam âm giao, Huyết hải, Thái xung.
- Liệu trình: hào châm 1 lần/ngày, vào buổi sáng. Mỗi liệu trình: châm
5 ngày/tuần, nghỉ hai ngày.
- Chống chỉ định: tạm thời ngừng châm khi bệnh nhi sốt do nhiễm trùng
cơ hội như viêm phế quản, viêm phổi, viêm đường tiết niệu...


18

-

- Thủ pháp châm: có hai cách:

19

+ Giảm đau (do tác dụng ức chế thần kinh giao cảm tại chỗ, do tác dụng
ức chế trung tâm cảm giác, do giảm phù nề, chèn ép, hoặc giảm các chất
chuyển hóa có hại tại tại chỗ).
+ Giảm phù nề, giảm thẩm xuất tại chỗ các dịch tràn ra.
+ Tăng cường trương lực (nếu cơ bị bại liệt), giảm co thắt.
+ Giảm viêm.
 Thủy châm
Có thể sử dụng vitamin nhóm B thủy châm vào các huyệt.
Thời gian điện châm kéo dài 30 phút/lần. Mỗi đợt điều trị kéo dài từ 2030 ngày, sau đó bệnh nhi được nghỉ ngơi 2- 4 tuần và quay lại điều trị cho đến
khi khỏi bệnh.
 Mãng châm
Là phương pháp dùng kim to và kim dài châm xuyên nhiều huyệt trên
một đường kinh hoặc nhiều đường kinh nhằm điều khí nhanh hơn, mạnh hơn
để điều trị các chứng bệnh khó như chứng đau, châm tê trong phẫu thuật và
điều trị các chứng liệt.
Như vậy mãng châm chính là sự tận dụng trường châm và đại châm
nhằm mục đích “điều khí” như các hình thức châm khác. Những đặc điểm là
“điều khí trên huyệt đạo” nghĩa là dùng kim to và dài châm cùng một lúc trên
nhiều huyệt của một kinh lạc hoặc hai ba kinh lạc. Do đó mục đích bổ tả
mạnh hơn, tả ở nơi trệ khí, bổ ở nơi khí thiểu như vậy nhanh chóng tiêu trừ
được bệnh tà, lấy lại trạng thái cân bằng âm dương, bệnh nhanh khỏi.
 Kỹ thuật mãng châm:
Châm kim dài, to, châm xuyên huyệt ta cần phải chọn kim thích hợp
theo chiều dài các huyệt đạo và tùy theo độ nông sâu của huyệt. Khi châm
kim vào huyệt ta phải qua da nhanh để tránh đau cho bệnh nhi.
Sau khi châm xong huyệt thứ nhất “đắc khí” thì kích thích nhằm “dẫn
khí, từ từ đẩy kim đến huyệt thứ hai “đắc khí” có thể sau tiếp đến huyệt thứ
ba…trên cùng một đường kinh hoặc hai đường kinh khác nhau.

kinh lạc có thể đuổi được ngoại tà, điều hòa được dinh vệ, thông được kinh
lạc, điều hòa được chức năng tạng phủ mà chữa khỏi được bệnh tật.


21

Xoa bóp bấm huyệt cần dùng các động tác nhẹ nhàng phù hợp với thể
trạng suy kiệt ở trẻ mắc bệnh (xoa, xát, day, bóp,…) mục đích làm mềm cơ.
Sau đó tiến hành vận động các đoạn chi theo nguyên tắc từ từ, tăng dần, vừa
sức chịu đựng của trẻ và trong tầm vận động của khớp.
Xoa bóp bấm huyệt mỗi ngày từ 2-3 lần. Chú trọng các động tác ở huyệt
vùng đầu mặt cổ và cột sống, bàn tay, bàn chân. Xoa bóp bấm huyệt cũng ở tư
thế nằm sấp và nằm ngửa. Xoa bóp cục bộ rồi đến toàn thân. Chú ý bấm huyệt
tùy sức chịu đựng của bệnh nhi. Tùy từng bệnh mà xoa bóp theo hướng bổ hay
tả. Nếu bệnh nhân thể lực còn khỏe, bệnh mới (thể thực) thì xoa bóp tả (xoa bóp
ngược chiều kim đồng hồ, ngược đường kinh) nhiều hơn. Còn bổ xoa bóp cho
những trường hợp yếu, nằm lâu ngày (thể hư) [20],[21],[22], [23],[24].
Bố mẹ các cháu có thể áp dụng để xoa bóp cho các cháu tại gia đình
(sau khi được các thầy thuốc hướng dẫn).
1.5.2. Phương pháp dùng thuốc
Thường sử dụng các vị có tác dụng tư âm dưỡng huyết (Sinh địa,
Thục địa, Đương quy, Bạch thược, Mạch môn,…), bổ khí dưỡng huyết
(Hoàng kỳ, Đại táo, Đảng sâm,…), trừ đàm, khai khiếu tỉnh thần (Thạch
xương bồ, Viễn trí, Uất kim,…), tư âm thanh nhiệt (Tri mẫu, Hoàng bá,...).
Trong đó, các vị thuốc tư âm dưỡng huyết, bổ khí dưỡng huyết là những vị
thuốc chính [20],[22], [23],[24].

1.6. Một số nghiên cứu điều trị viêm não bằng Y học cổ truyền.
1.6.1. Nghiên cứu nước ngoài
Hà Triệu Kỳ tổng kết kinh nghiệm của các thầy thuốc Trung Quốc từ

gian hồi phục rút ngắn hơn so với nhóm điều trị bằng Trung y đơn thuần [30].
Lý Trung Thành (2007) dùng bài Thanh nhiệt lương huyết giải độc thang
kết hợp YHHĐ, điều trị cho 86 trường hợp viêm não thấy có hiệu quả tốt 86


23

trường hợp 100%, so với nhóm điều trị đơn thuần bằng YHHĐ cho 89 bệnh
nhân có hiệu quả là 74 trường hợp (83%) [31].
Lý Lệ Hoa, Tống Lê Vĩ (2008) dùng bài Thanh khai linh kết hợp
YHHĐ điều trị cho 41 trường hợp viêm não thấy có hiệu quả tốt là 37
trường hợp (90%) [32].
Châu Hải Lan, Lý Hóa Đông (2011) nghiên cứu 90 trường hợp bị viêm
não, trong đó 60 trường hợp kết hợp với Trung y chia làm hai nhóm, nhóm
1 dùng bài Tỉnh não thang điều trị 30 trường hợp, nhóm 2 dùng An cung
ngưu hoàng hoàn điều trị 30 trường hợp, còn 30 trường hợp xếp vào nhóm
3 dùng đơn thuần YHHĐ. Kết quả điều trị cho thấy ở nhóm 1 và 2 đạt kết
quả tốt 100%, ở nhóm 3 đạt kết quả tốt ít hơn (83%) [33].
Trong nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả kết hợp Trung y và YHHĐ
điều trị di chứng viêm não virút của tác giả Trương Thúy Hoa (2013), hai
nhóm đối tượng đều được điều trị nền với các thuốc YHHĐ kháng vi rút và
các thuốc điều trị triệu chứng. Nhóm nghiên cứu gồm 80 bệnh nhi được
dùng thêm Thanh não thang sắc uống hàng ngày, kết hợp đầu châm và thể
châm. Nhóm chỉ dùng YHHĐ đơn thuần gồm 90 bệnh nhi. Kết quả thu
được: Nhóm có kết hợp Trung y có tỷ lệ khỏi là 93,7%, nhóm chỉ dùng
YHHĐ đơn thuần thì tỷ lệ khỏi thấp hơn 77,7% [34].
Tại Bệnh viện Đại học Bắc Hoa (Cát Lâm, Trung Quốc). Hồ Lâm Xuân
và cộng sự (2013) theo dõi hiệu quả phối hợp YHHĐ và Trung y (đầu châm)
trong điều trị di chứng viêm não vi rút cho 80 bệnh nhi từ tháng 1/2010 đến
tháng 5/2012. Sau điều trị nhóm kết hợp hiệu quả đạt 90%. Trong khi sử dụng

điện châm phục hồi vận động cho 104 trẻ em VNNB sau giai đoạn cấp, có
so sánh với nhóm đối chứng được phục hồi bằng vật lý trị liệu, thấy kết quả
tốt hơn hẳn [24].


25

Nguyễn Thị Tú Anh (2001). Bệnh viện Châm cứu Trung ương nghiên
cứu, dùng điện châm phục hồi chức năng vận động cho 116 trẻ VNNB sau
giai đoạn cấp cho kết quả tốt. Tỷ lệ khỏi bệnh là 39%, trẻ còn di chứng nhẹ
là 45%, di chứng vừa 14% và không còn trẻ nào di chứng nặng. Bệnh nhi
được điều trị càng sớm thì khả năng phục hồi càng nhanh và bệnh nhi ở
nhóm tuổi nhỏ phục hồi tốt hơn ở nhóm tuổi lớn. Tỷ lệ thành công đạt tới
90% nếu điều trị sớm [38]. Huyệt điều trị:
Ở chi trên:
Châm tả: Kiên ngung (LI.15), xuyên Tý nhu (LI.14), khúc trì (LI.11)
xuyên Thủ tam lý (LI.10), Hợp cốc (LI.4) xuyên Lao cung (PC.8), Bát tà
(EX), Kiên trinh (SI.9), Kiên tỉnh (GB21), Giáp tích C3 - C7 (EX), Đại
chùy (GV.14), Phong phủ (GV.16).
Châm bổ: Ngoại quan (TE.5) xuyên Chi câu (TE6), Tam âm giao
(SP.6) xuyên Trung đô (LR.6).
Ở chi dưới:
Châm tả: Giải khê (ST.41), Côn lôn (BL.60), Trật biên (BL.54)
xuyên Hoàn khiêu (GB.30), Thứ liêu (BL.32), Ân môn (BL.37), Ủy trung
(BL.40), Thừa sơn (BL.57), Giáp tích L2 - L5 (EX).
Châm bổ Túc tam lý (ST.36) xuyên Thượng cự hư (ST.37) , Huyết
hải (SP.10), Tam âm giao (SP.6), Thái xung (LR), Âm lăng tuyền (SP.9),
Trung đô (LR.6), Âm cốc (LR.10).
Ở mặt: Toản trúc (BL.2) xuyên Tình minh (BL.1), Dương bạch
(GB.14) xuyên Ngư yêu, Thái dương (EX) xuyên Đồng tử liêu (GB.1),


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status